Tóm tắt: Cách mạng Tháng Tám năm 1945 bắt nguồn từ đường lối cách mạng giải phóng dân tộc đúng đắn của Đảng trong việc vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào thực tiễn Việt Nam; thể hiện tư tưởng Hồ Chí Minh về giải quyết đúng đắn mối quan hệ giai cấp - dân tộc, dân tộc - quốc tế, lợi ích quốc gia - lợi ích bộ phận, mục tiêu trước mắt - định hướng lâu dài của cách mạng Việt Nam. Đường lối đó kế thừa con đường đấu tranh của các thế hệ người Việt Nam yêu nước và Đảng đã có 15 năm kiểm nghiệm từ thực tiễn đấu tranh cách mạng, đặc biệt là giai đoạn 1939-1945 với những quyết định mang tính bước ngoặt tại các Hội nghị Trung ương, đặc biệt là Hội nghị lần thứ Tám Ban Chấp hành Trung ương (5-1941), đã đưa đến thành công của Cách mang Tháng Tám năm 1945.

Từ khóa: Đường lối cách mạng giải phóng dân tộc; Cách mạng Tháng Tám năm 1945
Ngày nhận bài: 20-7-2026; Ngày thẩm định: 20-8-2026; Ngày duyệt đăng: 29-8-2026

THE REVOLUTIONARY PATH OF NATIONAL LIBERATION THE DECISIVE FACTOR IN THE VICTORY OF THE AUGUST REVOLUTION OF 1945

Abstract: The August Revolution of 1945 stemmed from the Party’s correct revolutionary line for national liberation, which involved the creative application and development of Marxism–Leninism in accordance with the specific realities of Vietnam. This revolutionary line reflected Ho Chi Minh’s thought on appropriately addressing the relationships between class and nation, national and international interests, national interests and sectional interests, as well as the immediate objectives and long-term orientation of the Vietnamese revolution. It inherited the struggle traditions of generations of Vietnamese patriots, while being tested and refined through 15 years of revolutionary struggle in practice. This was particularly evident during the period from 1939 to 1945, when the Central Committee’s conferences made a series of turning-point decisions, most notably the Eighth Plenum of the Party Central Committee in May 1941. These strategic decisions laid the foundation for and ultimately contributed decisively to the success of the August Revolution of 1945.

Keywords: The revolutionary line for national liberation; The August Revolution of 1945

1. Đặt vấn đề
Cách mạng Tháng Tám năm 1945 là một thắng lợi vĩ đại đầu tiên của dân tộc Việt Nam trong thế kỷ XX, trước hết bắt nguồn từ đường lối cách mạng giải phóng dân tộc đúng đắn của Đảng. Đường lối đó là kết quả của một quá trình nghiên cứu, khảo nghiệm đường lối cách mạng giải phóng dân tộc, con đường đấu tranh mà các thế hệ người Việt Nam yêu nước kế tiếp nhau đã dày công tìm tòi, xác lập, được Đảng và lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh kế thừa, phát triển, hoàn thiện và nâng lên một tầm cao mới về chất, mà cốt lõi là vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào thực tiễn Việt Nam. Đến nay, đã có nhiều công trình nghiên cứu, luận giải về đường lối lãnh đạo của Đảng trong Cách mạng Tháng Tám năm1945. Tuy nhiên, quá trình hoạch định và hoàn thiện đường lối giải phóng dân tộc dưới góc độ thay đổi và phát triển tư duy chính trị về con đường cứu nước dẫn đến thành công của Cách mạng Tháng Tám vẫn còn những vấn đề cần nghiên cứu, làm sáng rõ, toàn diện hơn.  
Phương pháp nghiên cứu: Bài viết sử dụng kết hợp phương pháp lịch sử và logic nhằm tái hiện và đưa ra nhận định về quá trình hoàn thiện đường lối cách mạng giải phóng dân tộc đưa đến thành công của Cách mang Tháng Tám năm 1945. Để bảo đảm những thông tin và nhận xét đưa ra đủ độ tin cậy, bài viết chú trọng phương pháp nghiên cứu sử liệu, sử dụng những tài liệu được công bố trong Văn kiện Đảng, những tư liệu lưu trữ có liên quan, qua việc thẩm định, “phê phán sử liệu” theo các chuẩn mực của khoa học lịch sử để chắt lọc thông tin có độ tin cậy cao phục vụ bài viết.
 
2. Kết quả nghiên cứu và thảo luận
2.1. Đường lối cách mạng giải phóng dân tộc Việt Nam - Một quá trình tìm tòi, khảo nghiệm
Nhìn lại lịch sử cuối thể kỷ XIX đầu thế kỷ XX, các phong trào yêu nước Việt Nam bùng lan mạnh mẽ, tuy địa bàn, phương thức khác nhau song đều hướng tới mục tiêu giành lại độc lập, chủ quyền dân tộc nhưng đều không thành công. Sự thất bại đó có nhiều nguyên nhân khác nhau, song, tựu trung lại do thiếu đường lối cứu nước đúng đắn, mà sâu sa là sự bế tắc trong việc giải quyết vấn đề độc lập dân tộc với tiến bộ xã hội, lợi ích quốc gia với lợi ích giai cấp, vai trò của bộ phận dân cư với sức mạnh của toàn thể cộng đồng dân tộc. Thất bại mà không chịu khuất phục, các phong trào yêu nước theo ý thức hệ phong kiến, ý thức hệ dân chủ tư sản đều đã bước đầu xác lập được mục tiêu đấu tranh của dân tộc Việt Nam là giải phóng khỏi ách đô hộ của thực dân, đế quốc, giành lại độc lập dân tộc, mở đường cho sự phát triển.
Nhìn thấy căn nguyên thất bại của các phong trào yêu nước nặng về ý chí, quyết tâm nhưng còn “lơ mơ” về lý luận, thiếu hẳn một đường lối cứu nước đúng đắn, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã tiến hành khảo nghiệm thực tiễn, nghiên cứu lý luận để xác lập con đường cách mạng Việt Nam. Sau gần 10 năm nỗ lực hoạt động, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã đến với chủ nghĩa Mác - Lênin, từ người yêu nước trở thành người cộng sản vào năm 1920, từ đó khởi đầu một quá trình hoạch định những vấn đề căn bản, cốt lõi của cách mạng Việt Nam trên cơ sở vận dụng và phát triển sáng tạo những lý luận cách mạng mới vào thực tiễn Việt Nam. Theo đó, cách mạng Việt Nam là “dân tộc cách mạng” (tức là cách mạng giải phóng dân tộc) (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2002a, tr.22) phát triển theo con đường cách mạng vô sản nhưng chưa đặt vấn đề đấu tranh giai cấp. Cuộc cách mạng muốn thành công phải tập hợp và huy động được sự tham gia của cộng đồng dân tộc, cách mạng là việc chung của cả dân chúng, “công nông là gốc cách mệnh; còn học trò, nhà buôn nhỏ, điền chủ nhỏ…là bầu bạn cách mệnh của công nông” (Đảng cộng sản Việt Nam, 2002a, tr.23); phải dựa trên sức mạnh tự thân, song phải liên kết với quốc tế và các dân tộc bị áp bức; đặc biệt là phải có Đảng lãnh đạo, “trước hết phải có đảng cách mệnh… Đảng có vững cách mệnh mới thành công”, Đảng phải có chủ nghĩa Lênin “làm cốt” (Đảng cộng sản Việt Nam, 2002, tr.24). Với những luận điểm trên đây, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã đặt nền tảng tư tưởng cho cách mạng giải phóng dân tộc theo khuynh hướng cách mạng vô sản.
Tiếp nối và phát triển dòng mạch tư duy cách mạng và sáng tạo đó, Hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản thành Đảng Cộng sản Việt Nam đầu năm 1930 đã thảo luận và thông qua Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng do lãnh tụ Nguyễn  Ái Quốc khởi thảo. Cương lĩnh xác định: “làm tư sản dân quyền c.m (cách mạng -TG) và thổ địa c.m để đi tới xã hội cộng sản” (Đảng cộng sản Việt Nam, 2002b, tr.2). Nội hàm các nhiệm vụ của “tư sản dân quyền c.m và thổ địa c.m” trên các mặt: chính trị, kinh tế và xã hội thể hiện rõ mục tiêu đánh đổ đế quốc Pháp, giải phóng dân tộc gắn với thực hiện và bảo đảm những quyền dân chủ cơ bản của nhân dân; kết quả của cuộc cách mạng đó là “Chính phủ công nông binh”; động lực cách mạng là khối đoàn kết toàn dân tộc do liên minh giai cấp công nhân và giai cấp nông dân làm nền tảng; phương pháp cách mạng là sử dụng bạo lực của quần chúng, đánh trúc đế quốc chủ nghĩa Pháp và tay sai; kết hợp cách mạng Việt Nam với cách mạng thế giới; cuộc cách mạng đó do giai cấp công nhân thông qua chính đảng vô sản lãnh đạo; cuộc cách mạng giải phóng dân tộc là tiền đề của cách mạng vô sản..   
Hội nghị tháng 10-1930 của Đảng có những điều chỉnh về luận điểm cách mạng giải phóng dân tộc và con đường giải phóng dân tộc, coi nhiệm vụ “phản đế” là một nhiệm vụ cơ bản của cách mạng Việt Nam; thực hiện cuộc cách mạng đó phải có Đảng lãnh đạo; phải thiết lập quan hệ với quốc tế, đặc biệt là nhấn mạng phương pháp cách mạng bạo lực “Võ trang bạo động không phải là một việc thường” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2002b, tr.102)....Tuy nhiên, Hội nghị chưa nhìn nhận sâu sát mâu thuẫn của xã hội thuộc địa Việt Nam, chưa định vị chính xác nhiệm vụ giải phóng dân tộc; sự nhìn nhận, đánh giá động lực của cách mạng còn nặng về giai cấp, chưa nhìn nhận ý thức dân tộc, tinh thần dân tộc với tư cách là một động lực quan trọng trong cuộc đấu tranh tự giải phóng.
Trong những năm 1936-1939, do những sự chuyển biến của tình hình thế giới trước nguy cơ ngày càng gia tăng của chủ nghĩa phát xít, sự thay đổi trong nhận thức về nhiệm vụ cách mạng của phong trào cộng sản, công nhân quốc tế tại Nghị quyết Đại hội VII Quốc tế Cộng sản (1935), Đảng đã xác định: "Hoàn cảnh mới, nhiệm vụ mới bắt buộc Đảng ta phải có con đường chánh trị mới" (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2000a, tr.222).  Đảng chủ trương chuyển hướng chỉ đạo chiến lược và sự thay đổi sách lược đấu tranh trong tình hình mới, chưa phải là trực tiếp đánh đổ đế quốc Pháp, giành độc lập dân tộc và lập chính quyền công nông, giải quyết vấn đề điền địa mà là nhằm các mục tiêu dân sinh, dân chủ. Tuy tạm gác vấn đề dân tộc giải phóng, song, Đảng đã có những nhận thức, quan điểm mới về tinh thần dân tộc, về lợi ích dân tộc. Đối với các nước thuộc địa như Đông Dương, “tinh thần dân tộc được củng cố không chỉ ở sự giác ngộ của các tầng lớp tư sản và tiểu tư sản, mà tinh thần dân tộc đó còn có ảnh hưởng to lớn đến các tầng lớp khác nhau của quần chúng lao khổ. Hiểu được tinh thần dân tộc, những người cách mạng và những người cộng sản phải biết sử dụng họ trong cuộc đấu tranh chống những kẻ đi áp bức dân tộc - tức là chống chủ nghĩa đế quốc Pháp” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2000a, tr.75). Đặc biệt, Đảng nhận định rằng: “Cuộc dân tộc giải phóng không nhất định phải kết chặt với cuộc cách mạng điền địa. Nghĩa là không thể nói rằng: muốn đánh đổ đế quốc cần phải phát triển cách mạng điền địa, muốn giải quyết vấn đề điền địa cần phải đánh đổ đế quốc. Lý thuyết ấy có chỗ không xác đáng… nếu phát triển cuộc tranh đấu chia đất mà ngăn trở cuộc tranh đấu phản đế thì phải lựa chọn vấn đề nào quan trọng hơn mà giải quyết trước. Nghĩa là chọn địch nhân chính, nguy hiểm nhất, để tập trung lực lượng của một dân tộc mà đánh cho được toàn thắng” (Đảng cộng sản Việt Nam, 2000a, tr.152); “Đứng đầu cuộc tranh đấu dân tộc giải phóng có hàng triệu dân chúng tổ chức hăng hái tham gia. Đó là điều kiện bảo chứng cho cuộc cách mạng vận động ở Đông Dương được thắng lợi” (Đảng cộng sản Việt Nam, 2000a, tr.158). Những luận điểm trên đây đã xuất lộ một cách tiếp cận mới, đúng đắn về một vấn đề hết sức hệ trọng là đấu tranh giải phóng dân tộc.  
Có thế thấy, đến năm 1939, con đường đấu tranh giành lại độc lập, khôi phục chủ quyền và nền thống nhất quốc gia được các thế hệ người Việt Nam dày công tìm kiếm và hoạch định; được Đảng đề ra từ khi thành lập vào đầu năm 1930 và giải quyết trong phạm trù cách mạng vô sản. Bên cạnh những nét thống nhất về khát vọng, mục tiêu độc lập, về phương pháp đấu tranh,… con đường đấu tranh giành độc lập trên đây còn có những khác biệt trong một số nhận thức về xây dựng lực lượng, về giải quyết các mối quan hệ dân tộc - giai cấp, dân tộc- quốc tế trong bối cảnh mới, về những bước đi và lộ trình cụ thể… Đường lối cách mạng giải phóng dân tộc được đề ra chưa toàn diện, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, đoàn kết quốc tế chưa được xem xét giải quyết một cách thấu đáo, thiếu chương trình nghị sự…. song những tìm tòi, khảo nghiệm về con đường cách mạng giải phóng dân tộc trên đây vừa tạo tiền đề vừa đặt ra yêu cầu to lớn và bức thiết để Đảng và lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc thực hiện sứ mệnh lịch sử: Hoàn thiện đường lối cách mạng giải phóng dân tộc, đưa sự nghiệp cứu nước đi đến thành công.  
 2.2. Đường lối cách mạng giải phóng tộc được hoàn thiện và hiện thực hóa, đưa đến thắng lợi Cách mạng Tháng Tám năm 1945
Khi chiến tranh thế giới nổ ra, chính quyền thuộc địa phát xít hóa bộ máy thống trị. Trước những chuyển biến lớn lao của tình hình thế giới và trong nước, ngày 29-9-1939, Trung ương Đảng gửi thông cáo cho các cấp bộ Đảng về tình hình thế giới và Đông Dương nêu rõ: "tình hình đã thay đổi nhiều. Hoàn cảnh Đông Dương sẽ tiến bước đến vấn đề dân tộc giải phóng" (Đảng cộng sản Việt Nam, 2000a, tr 756), các đảng viên phải “thâm hiểu” vấn đề dân tộc giải phóng và phải nỗ lực “gây cho tất cả các tầng lớp dân chúng hiểu biết tinh thần dân tộc giải phóng” (Đảng cộng sản Việt Nam, 2000a, tr.756 ).
Tiếp đó, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương (11-1939), đã lần đầu tiên đặt vấn đề giải phóng dân tộc lên hàng cấp thiết trước mắt, đồng thời, phác họa những nét chính yếu của đường lối đấu tranh giai phóng dân tộc. Theo đó, Đấu tranh giành độc lập dân tộc là mục tiêu chủ yếu, rất cấp bách trước mắt của cách mạng Đông Dương: “Bước đường sinh tồn của các dân tộc Đông Dương không còn có con đường nào khác hơn là con đường đánh đổ đế quốc Pháp, chống tất cả ách ngoại xâm vô luận da trắng hay da vàng để giành lấy giải phóng độc lập" (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2000a, tr 536). “Đứng trên lập trường giải phóng dân tộc, lấy quyền lợi dân tộc làm tối cao, tất cả mọi vấn đề của cuộc cách mệnh, cả vấn đề điền địa cũng phải nhằm vào mục đích ấy mà giải quyết" (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2000a, tr.539). Đối tượng của cách mạng là đế quốc Pháp, chống tất cả ách ngoại xâm vô luận da trắng hay da vàng, cùng “vua chúa bổn xứ và tất cả bọn tay sai của đế quốc" (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2000a, tr.537), phản bội dân tộc. Động lực của cách mạng là các tầng lớp nhân dân, bao gồm cả bộ phận tư sản bản xứ, trung tiểu địa chủ có tinh thần dân tộc, muốn Đông Dương hoàn toàn độc lập, tập hợp trong Mặt trận thống nhất dân tộc phản đế Đông Dương, do công nông là lực lượng chính, đặt dưới quyền lãnh đạo của giai cấp vô sản. “Công nông phải đưa cao cây cờ dân tộc lên” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2000a, tr.540) . Tính chất của cuộc cách mạng giải phóng dân tộc một kiểu của cách mạng tư sản dân quyền. Thành quả cách mạng là thiết lập chính quyền dân chủ cộng hoà, là một hình thức chính quyền chung cho tất cả các tầng lớp nhân dân trong xứ và trong phong trào giải phóng dân tộc làm cơ sở để thực hiện những quyền tự do, dân chủ và các chính sách xã hội tiến bộ đối với nhân dân (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2000a, tr.539). Phương pháp và con đường vận động, phát triển của cuộc cách mạng dân tộc giải phóng là "bạo động làm cách mệnh giải phóng dân tộc" (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2000a, tr.552). Điều kiện quyết định thắng lợi là: Đảng phải "giác ngộ rõ cái sứ mệnh lớn lao ấy và đủ can đảm, đủ nghị lực, đủ sáng suốt để gánh vác nó" (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2000a, tr.556). Với sự khẳng định tính chất và nhiệm vụ cách mạng lúc này là giải phóng dân tộc và chủ trương thành lập Mặt trận thống nhất dân tộc phản đế Đông Dương, HNTƯ (11-1939) có ý nghĩa quan trọng, thể hiện một tư duy mới trong phát triển nhận thức về nhiệm vụ giải phóng dân tộc, về xây dựng đường lối cách mạng giải phóng dân tộc. Tuy nhiên, Hội nghị vẫn chưa chủ trương giải quyết vấn đề dân tộc trong khuôn khổ từng nước, chưa vạch được những bước đi cụ thể của cuộc cách mạng giải phóng dân tộc.
Diễn ra trong bối cảnh Nhật đã vào Đông Dương, cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn đã nổ ra, HNTƯ (11-1940) cho rằng: mâu thuẫn giữa các dân tộc Đông Dương với đế quốc phát xít Pháp - Nhật trở nên sâu sắc, đẩy nhân dân Đông Dương đến một tình thế phải đấu tranh quyết liệt để sống. "Tinh thần dân tộc của nhân dân ta càng ngày càng bị bọn phát xít Pháp và quân phiệt Nhật chà đạp. Một cao trào cách mạng nhất định sẽ nổi dậy. Đảng phải chuẩn bị để gánh lấy cái sứ mệnh thiêng liêng: lĩnh đạo cho các dân tộc bị áp bức Đông Dương võ trang bạo động giành lấy quyền tự do độc lập"(Đảng Cộng sản Việt Nam, 2000b, tr.58). Hội nghị xác định kẻ thù chính của nhân dân Đông Dương lúc này là “đế quốc chủ nghĩa Pháp, Nhật”, kẻ thù phụ “là phong kiến bản xứ” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2000b, tr.76); lực lượng cách mạng là hết thảy mọi lực lượng phản đế, “không phân biệt giai cấp, đảng phái, dân tộc, tôn giáo, mục đích là thực hiện việc thống nhất hành động giữa các lực lượng … làm cho Đông Dương được hoàn toàn giải phóng" (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2000b, tr.77). Phương pháp đấu tranh là “võ trang bạo động đánh đế quốc Pháp, Nhật và các lực lượng phản động ngoại xâm, diệt trừ phong kiến và các hạng phản bội quyền lợi dân tộc” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2000b, tr.77). Cách mạng Việt Nam phải quan hệ chặt chẽ với cách mạng thế giới, trước hết là liên hệ chặt chẽ với phong trào phản để của nhân dân Lào, nhân dân Campuchia. Cuộc cách mạng tư sản dân quyền Đông Dương muốn thắng lợi thì "vô sản giai cấp Đông Dương phải giữ quyền lãnh đạo cách mệnh" (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2000b, tr.71), phải “hết sức củng cố và mở rộng Đảng” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2000b, tr. 74).
 Hội nghị Trung ương 11-1940 có ý nghĩa quan trọng trong quá trình xây dựng đường lối cách mạng giải phóng dân tộc, khẳng định lúc này khẩu hiệu “cách mạng giải phóng dân tộc cao hơn và thiết dụng hơn" (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2000b, tr.68) và tiếp tục chủ trương chuẩn bị khởi nghĩa vũ trang, thúc đẩy sự hình thành Mặt trận dân tộc thống nhất phản đế, nhìn nhận rõ kẻ thù của nhân dân ta là đế quốc, phát xít Pháp - Nhật,…. Tuy nhiên, Hội nghị lại nhìn nhận nhiệm vụ cách mạng giải phóng dân trong sự đồng nhất với nhiệm vụ cách mạng tư sản dân quyền, cho rằng: "cuộc cách mạng Đông Dương trong giai đoạn hiện tại phải bao gồm có hai tính chất: phản đế và thổ địa… Cách mạng phản đế và cách mạng thổ địa phải đồng thời tiến, không thể cái làm trước cái làm sau... Tình thế hiện tại không thay đổi gì tính chất cơ bản của cuộc cách mạng tư sản dân quyền Đông Dương" (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2000b, tr.67-68).
Tháng 1-1941, lãnh tụ Nguyễn Aí Quốc trở về Tổ quốc trực tiếp cùng Đảng lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Nhận thức rõ tầm quan trọng có ý nghĩa quyết định của việc hoàn thiện đường lối cách mạng giải phóng dân tộc, sau một thời gian lãnh đạo thí điểm xây dựng Mặt trận Việt Minh ở Cao Bằng, tháng 5-1941, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc triệu tập và chủ trì HNTƯ 8.
Diễn ra trong bối cảnh Chiến tranh thế giới II đã diễn ra gần 2 năm, không chỉ gây nên những trận chiến thảm khốc mà còn làm đảo lộn đời sống nhân dân thế giới nói chung, nhân dân Việt Nam nói riêng, HNTƯ 8 nhận rõ dưới ách cai trị của thực dân Pháp cấu kết với quân phiệt Nhật đã bộc lộ rõ nét bản chất tàn bạo, đẩy các tầng lớp nhân dân Đông Dương và Việt Nam vào cảnh sống ngày càng ngột ngạt về chính trị và bần cùng về kinh tế. “Quyền lợi tất cả các giai cấp bị cướp giật, vận mạng dân tộc nguy vong không lúc nào bằng” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2000b, tr.112); nhân dân Việt Nam đã thể hiện tinh thần và khả năng phản kháng, đấu tranh quyết liệt qua các cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn (9-1940), Nam Kỳ (11-1940), Đô Lương (1-1941), đều có chung nguyện vọng “đánh Pháp đuổi Nhật, giành quyền độc lập cho xứ Đông Dương” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2000b, tr.117). Với tầm nhìn chính trị sắc bén, nắm bắt xu thế vận động của thế giới, khát vọng của nhân dân, từ phân tích thấu đáo tỉnh hình, Hội nghị xác định: sự thay đổi về kinh tế, chính trị Đông Dương, sự thay đổi thái độ, lực lượng các giai cấp Đông Dương, “buộc Đảng ta phải thay đổi chính sách cách mạng” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2000b, tr.118). Với quan điểm chỉ đạo: “quyền lợi của bộ phận, của giai cấp phải đặt dưới sự sinh tử, tồn vong của quốc gia, của dân tộc" (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2000b, tr.113), Hội nghị đi đến quyết sách lịch sử: “thay đổi chiến lược" (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2000b, tr.118) và đề ra đường lối cách mạng giải phóng dân tộc làm cơ sở cho mọi hoạt động của Đảng. Nội hàm đường lối đó bao hàm những vấn đề căn cốt nhất, vừa là một tư duy lý luận vừa là một tư duy hành động, chủ động, khẩn trương, như sau:
Thứ nhất, Hội nghị xác định mục tiêu, nhiệm chủ yếu, cấp bách “trước tiên” của cách mạng Đông Dương là độc lập dân tộc: “cuộc cách mạng Đông Dương hiện tại không phải là cuộc cách mạng tư sản dân quyền, cuộc cách mạng phải giải quyết hai vấn đề: phản đế và điền địa nữa, mà là cuộc cách mạng chỉ phải giải quyết một vấn đề cần kíp “dân tộc giải phóng”, vậy thì cuộc cách mạng Đông Dương trong giai đoạn hiện tại là một cuộc cách mạng dân tộc giải phóng" (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2000b, tr.119). Hội nghị quyết định chưa thực khẩu hiệu "đánh đổ địa chủ, chia ruộng đất cho dân cày" mà chỉ chủ trương thực hiện phân chia cho nông dân ruộng đất tịch thu của bọn việt gian phản quốc và của đề quốc, chia lại công điền cho công bằng, giảm địa tô, giảm tức, thủ tiêu thuế điền. Quyết định trên đây thể hiện là sự độc lập, tư chủ chiến lược trong hoạch định đường lối và nhiệm vụ cách mạng mỗi thời kỳ ở một nước thuộc địa vận động theo con đường cách mạng vô sản; xác định và chọn đúng mục tiêu, nhiệm vụ chính trị cấp bách, trước mắt và khả thi khi tình hình thay đổi; thể hiện là một bước ngoặt trong tư duy chính trị về giải quyết mối quan hệ giữa hai nhiệm vụ chiến lược dân tộc và giai cấp, phản đề và phản phong, đáp ứng nguyện vọng quần chúng nhân dân.
Thứ hai: Hội nghị quyết định thực hiện nhiệm vụ giải phóng dân tộc trong phạm vi từng nước Đông Dương. Việc giải quyết vấn đề độc lập dân tộc trong khuôn khổ từng nước là căn cứ vào tình hình thực tiễn, song, điều căn bản là xuất phát từ quan điểm tôn trọng sự bình đẳng và thi hành đúng chính sách “dân tộc tự quyết” cho các dân tộc Đông Dương. Nghị quyết Hội nghị viết: “nói đến vấn đề dân tộc tức là đã nói đến sự tự do độc lập của mỗi dân tộc tuỳ theo ý muốn của mỗi dân tộc” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2000b, tr. 113). Sau khi đánh đuổi Pháp - Nhật thì các dân tộc sẽ tuỳ theo ý muốn mà tổ chức thành liên bang cộng hòa dân chủ hay đứng riêng thành một quốc gia dân tộc. "Văn hóa của mỗi dân tộc sẽ được tự do phát triển tồn tại, tiếng mẹ đẻ của các dân tộc sẽ được tự do phát triển, tồn tại và bảo đảm. Sự tự do độc lập của các dân tộc sẽ được thừa nhận và coi trọng" (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2000b, tr.113). Việc giải quyết nhiệm vụ dân tộc trong phạm vi từng nước không có nghĩa là tách rời nhau ra, mà là phải gắn bó khăng khít, đoàn kết, tương trợ cùng đánh đuổi kẻ thù chung. Quyết định trên đây thể hiện sự đúng đắn, sâu sắc trong giải quyết mối quan hệ dân tộc và quốc tế trên lập trường chủ nghĩa Mác-Lênin và quan điểm được nêu trong Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng năm 1930.
Thứ ba: Hội nghị quyết định phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc trên cơ sở tập hợp và huy động lực lượng toàn dân tộc dưới một hiệu cờ thống nhất của Mặt trận dân tộc thống nhất rộng rãi lấy tên là Mặt trận Việt Nam độc lập đồng minh (gọi tắt là Việt Minh). Mặt trận quy tụ các đoàn thể quần chúng yêu nước chống đế quốc với tên thống nhất là "hội cứu quốc", mở rộng biên độ tập hợp lực lượng đến mức tối đa, bao gồm các lực lượng, các đảng phái, dân tộc, tôn giáo gắn liền với các giới đồng bào “có tinh thần cứu quốc và muốn tranh đấu cứu quốc” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2000b, tr.125). Lần đầu tiên, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc được huy động đến mức cao nhất để phục vụ nhiệm vụ giải phóng dân tộc dưới một hình thức tổ chức sáng tạo và độc đáo vừa bảo đảm tính trụ cột và tính nền tảng rộng rãi. 
Thứ tư : Hội nghị xác định sau khi cách mạng giải phóng dân tộc thành công ở Việt Nam “sẽ thành lập một nước Việt Nam dân chủ mới theo tinh thần tân dân chủ. Chính quyền cách mạng của nước dân chủ mới ấy không phải thuộc quyền riêng của một giai cấp nào mà là của chung cả toàn thể dân tộc” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2000 b, tr.114). Chính quyền đó sẽ thực thi những chính sách bảo vệ nền độc lập, chủ quyền quốc gia, những chính sách bảo đảm các quyền tự do dân chủ của nhân dân và sự tiến bộ xã hội. Định hướng và định hình mô hình nhà nước cộng hòa dân chủ là một động lực to lớn để tập hợp và thôi thúc tất cả các giai cấp tầng lớp trong cộng đồng dân tộc tham gia cuộc đấu tranh giải phóng. 
Thứ năm, Hội nghị đề ra phương pháp đấu tranh bằng con đường bạo lực cách mạng của quần chúng: cuộc đấu tranh giành lại độc lập dân tộc “phải kết liễu bằng một cuộc khởi nghĩa vũ trang” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2000b, tr. 129). Đường lối, phương hướng, lộ trình phát triển của con đường cách mạng bạo lực là xây dựng lực lượng trên cả nước dưới hai hình thức tổ chức và hai hình thức đấu tranh chính trị kết hợp với vũ trang, xây dựng căn cứ địa, vận động theo hình thức khởi nghĩa từng phần trong từng địa phương “mở đường cho một cuộc tổng khởi nghĩa to lớn" (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2000b, tr. 131-132). Hội nghị xác định những điều kiện khách quan và chủ quan bảo đảm thắng lợi của cách mạng, trong đó, phải có một lực lượng toàn quốc đủ sức thực hiện và củng cố thắng lợi; phải trên tinh thần chủ động, tích cực thúc đẩy, đón bắt và tranh thủ thời cơ cũng như lợi dụng và tranh thủ những mâu thuẫn kẻ thù và những thuận lợi khách quan do cuộc Chiến tranh thế giới II mang lại. 
Thứ sáu: Hội nghị xác định cách mạng giải phóng dân tộc là một bộ phận của cách mạng thế giới, một bộ phận của phe dân chủ chống phát xít. Hội nghị chủ trương phải chủ động liên kết với cuộc chiến đấu của nhân dân Trung quốc, nhân dân Liên Xô, ủng hộ Mặt trận dân chủ chống phát xít… nhằm tranh thủ tối đa vai trò của các “hậu bị quân trực tiếp” ở ngoài nước là cuộc kháng chiến của nhân dân Trung Quốc, cuộc cách mạng dân tộc giải phóng của các dân tộc dưới ách Pháp - Nhật, cuộc cách mạng của nhân dân Pháp, Nhật, vai trò của Liên Xô…. Việc đứng về phe dân chủ, liên kết với các lực lượng đồng minh chống phát xít phải dựa trên nguyên tắc không phụ thuộc, tự chủ và tích cực.
Thứ bảy, Hội nghị khẳng định rằng sự lãnh đạo của Đảng là nhân tố quyết định bảo đảm thắng lợi của cách mạng giải phóng dân tộc. Vì vậy, Đảng phải được xây dựng vững mạnh, thực sự là đội tiên phong của giai cấp công nhân “đủ năng lực lãnh đạo cuộc cách mạng Đông Dương đi đến toàn thắng” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2000b, tr.136). Đảng vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức, cán bộ; toàn bộ các cấp bộ Đảng, đảng viên phải thống nhất ý chí và hành động; phải tẩy sạch những phần tử hoạt đầu, cải lương mensơvích, tờrốtkít ra khỏi Đảng thì cuộc cách mạng vô sản mới thắng lợi được.
Với những quan điểm, chủ trương và quyết sách trên, HNTƯ 8 (5-1941) đã đánh dấu sự hoàn thiện đường lối cách mạng giải phóng dân tộc trong phạm trù cách mạng vô sản ở một nước thuộc địa. Đường lối cách mạng giải phóng dân tộc được hoàn thiện đã nhanh chóng được thực tiễn kiểm nghiệm tính đúng đắn, sáng tạo, đáp ứng được đòi hỏi cơ bản và bức thiết của nhân dân trong bối cảnh vận mệnh dân tộc Việt Nam nguy vong. Hệ quả là, một cao trào cứu quốc rộng lớn ra đời phát triển không ngừng; một mặt trận dân tộc thống nhất quy tụ tập hợp khối đại đoàn kết toàn dân tộc hình thành lớn mạnh chưa từng có; sự gắn kết của cách mạng Việt Nam với cách mạng thế giới, mối quan hệ giữa cuộc đấu tranh giành độc lập của Việt Nam với cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa phát xít trên toàn thế giới phát triển đến đỉnh cao mới, góp phần quan trọng gia tăng sức mạnh nội tại của sự nghiệp cứu quốc. Trong vòng 4 năm sau kể từ khi đường lối cách mạng giải phóng dân tộc được hoàn thiện và đi vào quần chúng nhân dân, cách mạng Việt Nam phát triển nhảy vọt, đưa sự nghiệp đấu tranh giành độc lập kéo dài ròng rã hàng chục thập kỷ của dân tộc Việt Nam đi đến thắng lợi vĩ đại: Cách mạng Tháng Tám năm 1945.  

3. Kết luận
 Đường lối cách mạng giải phóng dân tộc trong quá trình tiến tới Cách mạng Tháng Tám năm 1945 được xây dựng và hoàn thiện thông qua một quá trình vừa có tính kiểm nghiệm vừa có tính nhảy vọt về tư duy chính trị, vừa có sự kế thừa đồng thời có sự phát triển vượt bậc trong năng lực lãnh đạo, trước hết là năng lực hoạch định đường lối của Đảng. Đó cũng là quá trình thể hiện rõ nét sự vận dụng và phát triển chủ nghĩa Mác-Lêinin vào Việt Nam không còn ở góc độ lý luận, góc độ định hướng hay khả năng, xu thế mà đã đi vào thực tiễn cách mạng, tạo nên sự phát triển mạnh mẽ của tinh thần dân tộc chân chính, sự bùng lan của phong trào cứu quốc rộng lớn chưa từng có, sức mạnh dân tộc được gia tăng vượt bậc, dẫn đến thành công của Cách mạng tháng Tám năm 1945. Đường lối đó đã thể hiện rõ tư tưởng Hồ Chí Minh về nền độc lập dân tộc và đi lên chủ nghĩa xã hội, xây dựng cuộc sống ấm no, hạnh phúc và văn minh cho nhân dân. Với ý nghĩa đó, đường lối cách mạng giải phóng dân tộc của Đảng trong giai đoạn 1939-1945 với thắng lợi Cách mạng Tháng Tám năm 1945 có sức lan tỏa giá trị lậu bền, có thể phát huy trong kỷ nguyên phát triển mới của dân tộc Việt Nam.
 
Tài liệu tham khảo
Đảng cộng sản Việt Nam. 2000a. Văn kiện Đảng Toàn tập: Tập 6. Nxb. Chính trị quốc gia
Đảng cộng sản Việt Nam. 2000b. Văn kiện Đảng Toàn tập: Tập 7, Nxb. Chính trị quốc gia
Đảng cộng sản Việt Nam. 2002a. Văn kiện Đảng Toàn tập: Tập 1 Nxb. Chính trị quốc gia
Đảng cộng sản Việt Nam. 2002b. Văn kiện Đảng Toàn tập: Tập 2 Nxb. Chính trị quốc gia.