Tóm tắt: Trong những năm 2011-2020, đầu tư trực tiếp nước ngoài trở thành nguồn lực quan trọng cho sự phát triển nền kinh tế Việt Nam. Việt Nam từng bước chuyển sang thế chủ động, từ “thu hút” sang “hợp tác” đầu tư nước ngoài, lựa chọn những dự án, nhà đầu tư phù hợp với quy hoạch, chiến lược phát triển của đất nước. Việc đề ra chủ trương đúng đắn, chỉ đạo linh hoạt, kịp thời đã tạo ra làn sóng đầu tư trực tiếp nước ngoài mạnh mẽ vào Việt Nam. Bài viết trình bày chủ trương, sự chỉ đạo của Đảng về thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài và một số kết quả đạt được từ năm 2011 đến năm 2020.
Từ khóa: chủ trương, sự chỉ đạo của Đảng; thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài; 2011-2020
Ngày nhận bài: 4-3-2026; ngày thẩm định: 15-4-2026; ngày duyệt đăng: 25-4-2026
1. Đặt vấn đề
Trong những năm 2011-2020, khu vực đầu tư nước ngoài nói chung, đầu tư trực tiếp nước ngoài (Foreign Direct Investment - FDI) nói riêng ngày càng phát triển, trở thành một trong những khu vực năng động nhất của nền kinh tế Việt Nam. Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách, pháp luật thu hút, quản lý FDI, tạo dựng môi trường đầu tư kinh doanh thuận lợi, từng bước tiếp cận với thông lệ quốc tế. Bên cạnh những thành tựu thu hút FDI đạt được, trong giai đoạn này việc thu hút, quản lý và hoạt động FDI còn những tồn tại, hạn chế và phát sinh những vấn đề mới. Do vậy, việc nghiên cứu làm rõ chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng về thu hút FDI cũng như khẳng định những kết quả thu hút FDI đem lại là hết sức cần thiết, góp phần cung cấp cơ sở, luận cứ cho việc hoạch định chủ trương, đề ra phương hướng thu hút FDI thế hệ mới.
Phương pháp nghiên cứu. Bài viết chủ yếu sử dụng phương pháp lịch sử, phương pháp lôgíc và sự kết hợp của hai phương pháp này. Phương pháp lịch sử được sử dụng chủ yếu để tái hiện quá trình Đảng lãnh đạo thu hút FDI từ năm 2011 đến năm 2020. Phương pháp lôgíc được sử dụng chủ yếu để khái quát hóa ưu điểm, hạn chế, làm rõ nguyên nhân và rút ra kết quả từ quá trình Đảng lãnh đạo thu hút FDI (2011-2020). Đồng thời, sử dụng một số phương pháp khác như: Phương pháp phân tích, so sánh, đồng đại, lịch đại, thống kê… để làm rõ nội dung của bài viết.
2. Kết quả nghiên cứu và thảo luận
2.1. Chủ trương của Đảng về thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (2011-2020)
Trong những năm 2011-2020, Việt Nam “bước vào thời kỳ chiến lược mới trong bối cảnh thế giới đang thay đổi rất nhanh, phức tạp và khó lường” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2011, tr.95). Xu hướng đầu tư quốc tế có những thay đổi lớn. Trên thế giới, sự phát triển của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại, xu thế toàn cầu hóa mở ra thời cơ và thách thức đối với việc thu hút FDI của mỗi quốc gia, dân tộc. Đặc biệt, từ năm 2020, đại dịch COVID-19 bùng phát, ảnh hưởng lớn đến đầu tư quốc tế. Ở trong nước, thu hút FDI đạt những dấu mốc quan trọng: “Trong 5 năm 2006-2010, tổng vốn FDI thực hiện đạt gần 45 tỉ USD, vượt 77,8% so với kế hoạch đề ra. Tổng số vốn đăng ký mới và tăng thêm ước đạt 146,8 tỉ USD, gấp 2,7 lần kế hoạch đề ra và gấp hơn 7 lần so với giai đoạn 2001-2005” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2011, tr.151). Tuy nhiên, đất nước còn đối diện với nhiều khó khăn, thách thức, ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả, chất lượng khu vực FDI. Bối cảnh đó đặt ra những thời cơ thuận lợi để Đảng đẩy mạnh thu hút FDI, song cũng đòi hỏi phải khắc phục những khó khăn, thách thức kìm hãm đất nước phát triển nhanh, bền vững, hiệu quả.
Thu hút FDI là chủ trương quan trọng, lâu dài, phù hợp với xu hướng đầu tư quốc tế. Đại hội XI (2011) của Đảng xác định: “Thu hút mạnh đầu tư trực tiếp của nước ngoài vào những ngành, lĩnh vực kinh tế phù hợp với quy hoạch và chiến lược phát triển của đất nước, nhất là các lĩnh vực công nghệ cao” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2011, tr. 209). Đây là sự phát triển tư duy về thu hút FDI so với các kỳ đại hội trước, phù hợp với việc chuyển đổi mô hình tăng trưởng từ chủ yếu phát triển theo chiều rộng sang phát triển hợp lý giữa chiều rộng và chiều sâu, vừa mở rộng quy mô vừa chú trọng chất lượng, hiệu quả, tính bền vững. Đặt hoạt động FDI trong quy hoạch và chiến lược phát triển của đất nước vừa thể hiện tính định hướng lâu dài, vừa nâng cao năng lực tự chủ của nền kinh tế.
Về định hướng đầu tư, Văn kiện Đại hội XI của Đảng nhấn mạnh: “Thu hút đầu tư nước ngoài có công nghệ hiện đại, thân thiện môi trường và tăng cường sự liên kết với các doanh nghiệp trong nước” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2011, tr. 111). Hướng đi này đã thay đổi mạnh mẽ về chất so với truyền thống, thu hút FDI chất lượng cao nhưng phù hợp với điều kiện kinh tế, xã hội, môi trường và góp phần phát triển nền kinh tế độc lập, tự chủ. Chủ trương quy hoạch các dự án FDI được thể hiện: “Khuyến khích đầu tư vào các ngành công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ công nghệ cao và các giải pháp đổi mới công nghệ, chế tạo sản phẩm mới... tham gia ngày càng nhiều và có hiệu quả vào những khâu, công đoạn có hàm lượng khoa học, giá trị gia tăng cao trong mạng sản xuất và phân phối toàn cầu”(Đảng Cộng sản Việt Nam, 2011, tr. 192).
Các yếu tố bên trong của nền kinh tế đóng vai trò then chốt trong thu hút FDI. Đại hội XI của Đảng xác định chủ trương cụ thể về hoàn thiện môi trường pháp lý, chú trọng “Hoàn thiện thể chế để tháo gỡ mọi rào cản, tạo điều kiện thuận lợi để giải phóng và phát triển mạnh mẽ lực lượng sản xuất, đẩy mạnh ứng dụng khoa học, công nghệ; huy động và sử dụng có hiệu quả mọi nguồn lực cho phát triển...”(Đảng Cộng sản Việt Nam, 2011, tr. 101). Cùng với đó, “Tiếp tục cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh, áp dụng các hình thức thu hút đầu tư đa dạng, hấp dẫn để huy động và sử dụng có hiệu quả mọi nguồn lực của các thành phần kinh tế trong nước và nước ngoài, phát huy nội lực, tranh thủ ngoại lực cho phát triển” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2011, tr. 192). Đồng thời, “Xúc tiến mạnh thương mại và đầu tư, mở rộng thị trường, khai thác hiệu quả các cơ chế hợp tác quốc tế, các nguồn lực về vốn, khoa học - công nghệ, trình độ quản lý tiên tiến” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2011, tr. 236). Điều này thể hiện sự chủ động trong thu hút FDI phù hợp với điều kiện và sự phát triển nền kinh tế Việt Nam.
Chủ trương thu hút FDI trong Đại hội XI của Đảng được thể hiện đan xen trong các nội dung phát triển kinh tế và hội nhập quốc tế, thu hút đầu tư nước ngoài của Đảng. Đó là sự kế thừa, phát triển tư duy của những nhiệm kỳ đại hội trước, được bổ sung, phát triển cho phù hợp với tình hình kinh tế - xã hội đất nước và xu hướng đầu tư quốc tế. Song trên thực tế, tình hình kinh tế và đầu tư quốc tế thường xuyên vận động, biến đổi, cùng với đó là những bất ổn về chính trị, thương mại giữa các nước, đòi hỏi Đảng phải không ngừng hoàn thiện chủ trương để “đi tắt đón đầu” trong cuộc đua thu hút FDI. Sau Đại hội XI của Đảng, chủ trương thu hút FDI từng bước được bổ sung, phát triển trong các HNTƯ khóa XI. Đặc biệt, Nghị quyết số 22-NQ/TW ngày 10-4-2013 của Bộ Chính trị về hội nhập quốc tế đã nhấn mạnh việc thu hút đầu tư nước ngoài, trong đó có thu hút FDI, là một định hướng quan trọng để nền kinh tế phát triển nhanh, bền vững. Nghị quyết khẳng định: “Không ngừng cải thiện môi trường thu hút đầu tư nước ngoài, gắn thu hút đầu tư với giám sát quá trình thực thi, bảo đảm an ninh kinh tế, hiệu quả kinh tế - xã hội - môi trường” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2013, tr.4). Bên cạnh lợi ích kinh tế, Đảng chú trọng hiệu quả, ảnh hưởng của khu vực đầu tư nước ngoài, FDI đối với nền kinh tế đất nước. Nghị quyết đã thể hiện sự kiên định về nguyên tắc khi xác định thu hút đầu tư nước ngoài, trong đó có FDI, phải hướng vào phát triển nền kinh tế nhanh và bền vững. Đồng thời, chủ trương trên cũng thể hiện sự linh hoạt trong mở rộng các hoạt động đầu tư song phương, đa phương, nhằm thu hút, phát huy mọi nguồn lực bên ngoài trong quá trình hội nhập quốc tế.
Cùng với sự biến động nhanh chóng, khó lường của tình hình kinh tế, chính trị thế giới, xu hướng đầu tư nước ngoài có sự thay đổi. Thu hút FDI chất lượng cao, thực chất, hiệu quả ngày càng trở nên tất yếu trong bối cảnh tác động mạnh mẽ của cuộc Cách mạng Công nghiệp lần thứ tư. Từ đó, Đảng cũng nhanh chóng bổ sung, phát triển chủ trương về thu hút FDI ở Việt Nam. Đại hội XII (2016) của Đảng chủ trương: “Nâng cao hiệu quả thu hút đầu tư trực tiếp của nước ngoài, chú trọng chuyển giao công nghệ, trình độ quản lý tiên tiến và thị trường tiêu thụ sản phẩm; chủ động lựa chọn và có chính sách ưu đãi đối với các dự án đầu tư nước ngoài có trình độ quản lý và công nghệ hiện đại, có vị trí hiệu quả trong chuỗi giá trị toàn cầu, có liên kết với doanh nghiệp trong nước” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2016, tr.108). Việc nhấn mạnh yếu tố chất lượng và hiệu quả của các dự án FDI nhằm tận dụng lợi thế to lớn của khu vực đầu tư nước ngoài vào phát triển kinh tế nhanh, bền vững, khắc phục những hạn chế, tồn tại trong triển khai thực hiện các dự án FDI trước đây. Định hướng thu hút FDI được điều chỉnh: “Rà soát, sửa đổi pháp luật, chính sách để thu hút mạnh đầu tư nước ngoài, nhất là các dự án có công nghệ cao, thân thiện môi trường, sản phẩm có giá trị gia tăng và tỉ lệ nội địa hóa cao, tham gia mạng sản xuất và chuỗi giá trị toàn cầu, thúc đẩy cơ cấu lại nền kinh tế. Tăng cường thu hút đầu tư nước ngoài có công nghệ cao, thân thiện môi trường, sử dụng nhiều lao động” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2016, tr. 292-293). Khuyến khích đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng và các ngành công nghiệp hỗ trợ, năng lượng tái tạo, vật liệu mới, điện tử, công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, giống cây trồng, vật nuôi, đào tạo nhân lực và chăm sóc sức khỏe chất lượng cao,… Có cơ chế ưu đãi linh hoạt đối với các dự án đặc thù. Khuyến khích thành lập các trung tâm nghiên cứu triển khai của doanh nghiệp đầu tư nước ngoài tại Việt Nam.
Như vậy, Đại hội XII của Đảng vẫn tiếp tục khẳng định FDI là thành phần đóng vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội đất nước theo hướng nhanh, bền vững, hiệu quả. Thu hút FDI không chỉ để phục vụ mục tiêu tăng trưởng mà còn để thúc đẩy các yếu tố nội lực phát triển, đồng thời, thúc đẩy quá trình hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng mạnh mẽ. Đó cũng là cơ sở để tăng tính hấp dẫn với nhà đầu tư quốc tế, tăng tính cạnh tranh trong thu hút FDI với các nước trong khu vực.
Sau Đại hội XII của Đảng, thu hút đầu tư nước ngoài nói chung, thu hút FDI nói riêng có sự phát triển mạnh mẽ. Trên cơ sở đó, Đảng ban hành Nghị quyết số 50-NQ/TW ngày 20-8-2019 của Bộ Chính trị về định hướng hoàn thiện thể chế, chính sách, nâng cao chất lượng, hiệu quả hợp tác đầu tư nước ngoài đến năm 2030. Nghị quyết xác định 5 quan điểm cụ thể về hợp tác đầu tư nước ngoài và nhấn mạnh: Khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài là bộ phận hợp thành quan trọng của nền kinh tế Việt Nam, được khuyến khích, tạo điều kiện phát triển lâu dài, hợp tác và cạnh tranh lành mạnh với các khu vực kinh tế khác. “Chủ động thu hút, hợp tác đầu tư nước ngoài có chọn lọc, lấy chất lượng, hiệu quả, công nghệ và bảo vệ môi trường là tiêu chí đánh giá chủ yếu” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2019, tr. 2). Mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp thu hút FDI trong bối cảnh mới cũng được Nghị quyết xác định cụ thể. Nghị quyết số 50-NQ/TW được đánh giá là nghị quyết chuyên đề về hợp tác đầu tư nước ngoài, trọng tâm là thu hút, hợp tác FDI. Việc chuyển từ “thu hút” sang “hợp tác” và xác định chủ trương mang tính lâu dài, hướng đến năm 2030 cho thấy sự đột phá về tư duy của Đảng trong tận dụng nguồn lực đầu tư nước ngoài FDI. Việt Nam từng bước vươn lên, chủ động trong lựa chọn, mời gọi đối tác nước ngoài vào hợp tác, đầu tư. Điều này không chỉ tạo cơ sở để hình thành những chỉ đạo chiến lược, lâu dài, ổn định trong thu hút FDI, mà còn góp phần tăng cường niềm tin của nhà đầu tư nước ngoài vào chủ trương, chính sách của Việt Nam trong quá trình hợp tác, đầu tư.
2.2. Quá trình chỉ đạo thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (2011-2020)
Thứ nhất, chỉ đạo xây dựng quy hoạch tổng thể các dự án FDI. Việc xây dựng quy hoạch tổng thể các dự án FDI nhằm thể hiện tính công khai, minh bạch trong mời gọi các nhà đầu tư quốc tế; đồng thời, hướng hoạt động FDI phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Vì vậy, Chính phủ ban hành Chỉ thị số 1617/CT-TTg, ngày 19-9-2011 về việc tăng cường thực hiện và chấn chỉnh công tác quản lý FDI trong thời gian tới, khẳng định: “Nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác quy hoạch từ khâu lập, thẩm định, phê duyệt đến quản lý quy hoạch” (Chính phủ, 2011, tr.2); “Công bố lĩnh vực đầu tư có điều kiện, quy định cụ thể nội hàm của các điều kiện” (Chính phủ, 2011, tr.2). Các ban, bộ, ngành, địa phương có những rà soát quy hoạch và công bố định hướng thu hút FDI theo địa phương, vùng lãnh thổ giai đoạn 2011-2020.
Ngày 29-4-2014, Chính phủ ban hành Quyết định số 631/QĐ-TTg về việc ban hành Danh mục Dự án quốc gia kêu gọi đầu tư nước ngoài tới năm 2020, ưu tiên thu hút các dự án có công nghệ hiện đại, thân thiện với môi trường, sử dụng có hiệu quả các nguồn tài nguyên, khoáng sản, đất đai, tạo điều kiện và tăng cường liên kết với các doanh nghiệp trong nước; tập trung thu hút vào các lĩnh vực công nghiệp hỗ trợ, công nghiệp phục vụ nông nghiệp, dịch vụ có lợi thế, có hàm lượng tri thức cao, công nghệ thông tin; dịch vụ khoa học và công nghệ, giáo dục và đào tạo, phát triển kết cấu hạ tầng...
Thứ hai, chỉ đạo cải thiện môi trường đầu tư. Môi trường đầu tư gồm nhiều yếu tố cấu thành, nổi bật là: Môi trường tự nhiên; môi trường chính trị; môi trường pháp lý; môi trường kinh tế; môi trường văn hóa, xã hội. Trong đó, môi trường chính trị ổn định là điều kiện tiền đề thu hút FDI. Đối với những yếu tố khác, Chính phủ, các ban, bộ, ngành, địa phương có những chỉ đạo, điều chỉnh kịp thời nhằm phát huy thế mạnh, khắc phục hạn chế, tác động tiêu cực từ hoạt động thu hút FDI mang lại.
Về môi trường tự nhiên, ngày 18-4-2011, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 29/2011/NĐ-CP quy định về đánh giá môi trường chiến lược, đánh giá tác động môi trường, cam kết bảo vệ môi trường. Đây là căn cứ pháp lý quan trọng để đánh giá năng lực, trách nhiệm, nghĩa vụ của các ban, bộ, ngành, địa phương, nhà đầu tư, trong đó có nhà đầu tư FDI. Bên cạnh đó, Bộ Tài nguyên và Môi trường chủ trì, phối hợp với các bộ, cơ quan, địa phương: “Rà soát, hoàn thiện các quy định về bảo vệ môi trường, bảo đảm phát triển bền vững. Có cơ chế phù hợp khuyến khích các doanh nghiệp bảo vệ môi trường, tiết kiệm tài nguyên và năng lượng” (Chính phủ, 2014, tr.7).
Về môi trường pháp lý, Chính phủ xác định: “Xây dựng chính sách ưu đãi đầu tư phù hợp với định hướng thu hút đầu tư nước ngoài giai đoạn 2011-2020” (Chính phủ, 2011, tr.2). Các bộ, ban, ngành, địa phương đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, rút ngắn quy trình xử lý, bảo đảm công khai, minh bạch, nâng cao trách nhiệm của các cơ quan hành chính nhà nước. Luật Đầu tư (năm 2014 và 2020) đã có những điều chỉnh, bổ sung lớn nhằm tạo hành lang pháp lý thuận lợi, công khai, minh bạch cho các nhà đầu tư nước ngoài vào Việt Nam.
Về môi trường kinh tế, xây dựng cơ chế vận hành đồng bộ, thông suốt các thị trường hàng hóa, lao động, chứng khoán, bất động sản, khoa học, công nghệ và các loại thị trường khác. Phát triển kết cấu hạ tầng đồng bộ với một số công trình hiện đại, tập trung vào hệ thống giao thông và hạ tầng đô thị lớn. Tăng cường thu hút đầu tư cho nghiên cứu khoa học, đổi mới công nghệ và đào tạo nguồn nhân lực. Phát triển nhanh nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao; kỹ năng quản lý đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế. Đồng thời, Nhà nước khuyến khích và tạo điều kiện cho các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước đầu tư phát triển công nghiệp hỗ trợ.
Về môi trường văn hóa - xã hội, Chỉ thị số 1617/CT-TTg, ngày 19-9-2011, của Thủ tướng Chính phủ “về việc tăng cường thực hiện và chấn chỉnh công tác quản lý đầu tư trực tiếp nước ngoài trong thời gian tới, nhấn mạnh: “Chú trọng xem xét, đánh giá lợi ích kinh tế - xã hội của dự án, đặc biệt là các vấn đề liên quan đến công nghệ, môi trường sinh thái, phát triển nguồn nhân lực, tác động đến cộng đồng dân cư, sự liên kết với doanh nghiệp trong nước, thị trường, đối tác…” (Chính phủ, 2011, tr. 3). Để thẩm định dự án FDI, đòi hỏi phải đánh giá “ảnh hưởng, tác động của dự án đối với phát triển kinh tế-xã hội của vùng, quốc gia và các ngành; tính khả thi của các nguồn lực cho dự án (lao động, kết cấu hạ tầng, điện, nguyên liệu,…)” (Chính phủ, 2013, tr.8).
Thứ ba, chỉ đạo hoạt động xúc tiến đầu tư. Hoạt động xúc tiến đầu tư đóng vai trò quan trọng trong thu hút FDI vào Việt Nam. Chính vì vậy, chỉ đạo thống nhất của Chính phủ là: “Thường xuyên cập nhật, nghiên cứu xu hướng đồng vốn đầu tư nước ngoài và các đối tác tiềm năng để chủ động tiếp cận và xúc tiến giới thiệu các dự án đầu tư” (Chính phủ, 2013, tr.10). Hàng năm, Bộ Kế hoạch và Đầu tư ban hành tiêu chí hướng dẫn các bộ, ngành, địa phương xây dựng kế hoạch xúc tiến đầu tư. Hoạt động xúc tiến đầu tư phải hướng đến thu hút FDI có chất lượng: “Tăng cường xúc tiến đầu tư đối với các tập đoàn lớn, đa quốc gia; đồng thời, chú trọng xúc tiến đầu tư đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa, đặc biệt là trong lĩnh vực công nghiệp hỗ trợ” (Chính phủ, 2013, tr.9).
Đặc biệt, trong những năm 2016-2020, sau khi Cộng đồng Kinh tế ASEAN thành lập (31-12-2015), cùng với việc Việt Nam tăng cường ký kết các Hiệp định Thương mại tự do (FTA) với các đối tác chiến lược, hoạt động xúc tiến đầu tư đi vào chiều sâu, cụ thể: “Chủ động xúc tiến đầu tư có mục tiêu, trọng tâm, trọng điểm, gắn với các tiêu chí hợp tác đầu tư mới; tiếp tục duy trì các thị trường và đối tác truyền thống, đồng thời mở rộng thị trường, đối tác mới” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2019, tr.7). Đa dạng hóa các hoạt động và phương thức xúc tiến đầu tư; chú trọng xúc tiến đầu tư tại chỗ với những dự án hợp tác thành công cụ thể. Đầu tư thỏa đáng cho hoạt động xúc tiến. Ưu tiên thực hiện các hoạt động xúc tiến đầu tư quốc gia, vùng, liên ngành. Công khai, minh bạch hệ thống thông tin kinh tế - xã hội, pháp luật, chính sách, quy hoạch, kế hoạch, thị trường,...
Thứ tư, chỉ đạo tăng cường quản lý nhà nước về FDI. Công tác quản lý nhà nước về FDI nhằm bảo đảm hoạt động này theo đúng định hướng và chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Trong Chỉ thị số 1617/CT-TTg ngày 19-9-2011 của Thủ tướng Chính phủ về việc tăng cường thực hiện và chấn chỉnh công tác quản lý FDI trong thời gian tới, xác định: “Nâng cao hiệu lực và hiệu quả quản lý nhà nước đối với hoạt động đầu tư nước ngoài để đảm bảo chất lượng của hoạt động này trong tình hình mới” (Chính phủ, 2011, tr.2). Đồng thời, tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát theo quy định của pháp luật về đầu tư và pháp luật chuyên ngành đối với các dự án FDI có quy mô lớn, sử dụng nhiều đất, các dự án khai thác tài nguyên, khoáng sản, kinh doanh bất động sản, sử dụng nhiều năng lượng, tiềm ẩn nguy cơ gây ô nhiễm môi trường; rà soát và xử lý theo quy định của pháp luật đối với các dự án chậm triển khai hoặc không triển khai. Tăng cường, nâng cao hiệu quả phối hợp giữa Bộ Kế hoạch và Đầu tư và các Bộ, ngành, UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương trong toàn bộ quá trình cấp Giấy chứng nhận đầu tư, quản lý dự án và kiểm tra, giám sát hoạt động đầu tư. Kiện toàn bộ máy quản lý nhà nước về đầu tư nước ngoài nói chung, thu hút FDI nói riêng theo hướng tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả và thống nhất một đầu mối tại các bộ, ngành, địa phương, đáp ứng yêu cầu quản lý liên ngành, liên vùng tại địa phương và trong phạm vi cả nước. Xử lý dứt điểm các dự án gây ô nhiễm môi trường, sử dụng đất không hiệu quả, kinh doanh thua lỗ nhiều năm, dự án không thực hiện đúng cam kết. Phòng ngừa, giải quyết sớm, có hiệu quả các tranh chấp liên quan đến FDI.
2.3. Một số kết quả
Thứ nhất, khu vực FDI đóng góp quan trọng vào tăng trưởng kinh tế Việt Nam. FDI đóng góp đáng kể vào tổng sản phẩm trong nước (GDP) với mứс độ đóng góp tăng dần quа сáс năm. Сụ thể: năm 2011 là 15,66% (Tổng cục Thống kê, 2018, tr.11), đến năm 2020 là 18,8% (Tổng cục Thống kê, 2022, tr.13). Khu vựс FDI luôn là khu vựс phát triển năng động nhất сủа nền kinh tế. Тốс độ tăng giá trị tăng thêm (VA) сủа khu vựс này luôn саo hơn tốс độ tăng GDP сả nướс. Năm 2011, VA сủа khu vựс FDI tăng trưởng 7,69% trong khi GDP сả nướс tăng trưởng 6,24% (Tổng cục Thống kê, 2018, tr.11); năm 2020 là 3,5% và 2,9% (Tổng cục Thống kê, 2022, tr.13). Việt Nam trở thành điểm đến tiềm năng của các nhà đầu tư quốc tế, từng bước vươn lên nhóm dẫn đầu trong cuộc đua thu hút FDI. Năm 2011, lượng vốn FDI đăng ký mới đạt 15,6 tỷ USD (Tổng cục Thống kê, 2016, tr.78). Đến năm 2020, tổng vốn FDI đăng ký cấp mới, điều chỉnh và góp vốn mua cổ phần đạt 28,53 tỷ USD (Tổng cục Thống kê, 2021, tr.101) (gấp 1,8 lần so với năm 2011). Trong những năm 2011-2020, các đối tác FDI hàng đầu là Hàn Quốc, Nhật Bản, Xingapore, Trung Quốc. Tính chung lại, các quốc gia và vùng lãnh thổ này chiếm 71,6% tổng số dự án và 72,1% tổng vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam (Tổng cục Thống kê, 2021, tr.101).
Thứ hai, thu hút FDI phù hợp với định hướng, chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Việc thu hút, sử dụng FDI đã từng bước có lựa chọn, khuyến khích đầu tư vào những ngành mà nền kinh tế thực sự cần và phát triển phù hợp với định hướng tái cấu trúc nền kinh tế, đảm bảo tính bền vững dài hạn. Trong 5 năm 2011-2015 có 3 ngành được đầu tư lớn nhất là ngành công nghiệp chế biến, chế tạo có 3.624 dự án, chiếm 45,49% tổng số dự án với số vốn 68,5 tỷ USD, chiếm 68,34% tổng vốn; kinh doanh bất động sản 139 dự án, chiếm 1,74% tổng số dự án với tổng vốn 9,03 tỷ USD, chiếm 9,00% tổng số vốn; sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí 42 dự án, chiếm 0,53% tổng số dự án với tổng số vốn đạt 7,69 tỷ USD, chiếm 7,67% tổng số vốn (Tổng cục Thống kê, 2016, tr.79). Giai đoạn 2016-2020, FDI vào Việt Nam tập trung nhiều nhất vào các ngành kinh tế như: ngành công nghiệp chế biến chế tạo với 5.281 dự án, chiếm 35,1% số dự án và 54,5% số vốn đăng ký; kinh doanh bất động sản 428 dự án, chiếm 2,8% số dự án và 13% số vốn; sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí 71 dự án, chiếm 0,47% số dự án và 9,9% số vốn (Tổng cục Thống kê, 2021, tr.103). Vùng Đông Nam Bộ và đồng bằng sông Hồng dẫn đầu cả nước trong thu hút FDI. Hơn 100 tập đoàn đa quốc gia hàng đầu thế giới như Samsung, LG, Intel, General Electric, Sanofi, Panasonic,… đã đầu tư nhiều dự án quy mô lớn và công nghệ cao tại Việt Nam.
Thứ ba, FDI góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng hiện đại; thúc đẩy phát triển nền kinh tế độc lập, tự chủ. Đây là nhân tố quаn trọng tăng сường sự phát triển nhiều ngành сông nghiệp và dịсh vụ với nhiều sản phẩm mới, góp phần thúс đẩy сáс ngành сông nghiệp сhủ lựс сủа nền kinh tế như։ dầu khí, điện tử, viễn thông… Khu vựс này сũng góp phần đẩy mạnh các ngành dịch vụ có chất lượng cao như: bảo hiểm, kiểm toán, khách ѕạn, bất động ѕản, ᴠận tải biển..., làm tăng năng lực ѕản xuất của nền kinh tế cũng như nâng cao khả năng hội nhậр ᴠới kinh tế toàn cầu, đẩy nhanh quá trình CNH, HĐH của đất nước, đặc biệt ở một ѕố địa рhương như: Thành рhố Нà Νội, thành рhố Нải Рhòng, Вắc Νinh, Нải Dương, Thái Νguyên, Vĩnh Рhúc, Thanh Нόa ở рhía Вắc; Тhành рhố Нồ Сhí Minh, Вà Rịa - Vũng Тàu, Вình Dương, Ɖồng Νai và Long An ở рhía Νam. Thông qua khu vực FDI, Việt Nam có điều kiện tiếp cận với công nghệ tiên tiến của thế giới để рhát triển các ngành kinh tế ѕử dụng công nghệ hiện đại như: công nghệ ѕinh học, bưu chính viễn thông, công nghiệр рhần mềm, điện tử… Νhiều công nghệ mới đã được chuyển giao thông qua hoạt động FDI, tạo bước ngoặt quan trọng trong ѕự nghiệр рhát triển một ѕố ngành kinh tế mũi nhọn của đất nước.
Thứ tư, khu vực FDI đóng góp quan trọng đối với gia tăng giá trị, chất lượng xuất khẩu; tạo thêm việc làm, chuyển biến chất lượng nguồn nhân lực; nâng cao hiệu quả công tác an sinh xã hội, củng cố quốc phòng, an ninh. Doanh nghiệp FDI luôn giữ vai trò chủ đạo đối với xuất khẩu, chuyển đổi cơ cấu mặt hàng xuất khẩu và từng bước đưa Việt Νam tham gia vào mạng lưới ѕản xuất và chuỗi giá trị toàn cầu. Xuất khẩu từ khu vực FDI luôn chiếm tỷ trọng cao trên 50% trong tổng trị giá xuất khẩu hàng hόa của Việt Νam. Νăm 2020 tỷ trọng này đạt 72,3%, gόр рhần cân bằng cán cân thương mại của cả nước (Tổng cục Thống kê, 2021, tr.14). Đồng thời, góp phần tạo thêm nhiều việc làm cho người lao động, chuyển đổi cơ cấu việc làm và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đến năm 2020 tạo được gần 5,1 trіệu vіệc làm (Tổng cục Thống kê, 2021, tr.15). Doanh nghiệp FDI cũng góp phần cải thiện an sinh xã hội, đóng góp để xây dựng các công trình công cộng, các thiết chế văn hóa; giúp đỡ về vật chất và tinh thần ở địa bàn trong hoàn cảnh khó khăn, thiên tai, dịch bệnh. Hoạt động FDI theo đúng định hướng, pháp luật góp phần củng cố quốc phòng, an ninh ở các địa bàn đầu tư.
3. Kết luận
Trong những năm 2011-2020, tình hình kinh tế, thương mại toàn cầu có những diễn biến nhanh, phức tạp, khó lường; nhưng lại mở ra những cơ hội lớn trong hợp tác đầu tư quốc tế. Kế thừa và phát triển chủ trương của những kỳ đại hội trước, Đại hội XI, XII của Đảng xác định chuyển dịch thu hút FDI từ chiều rộng sang kết hợp giữa chiều rộng và chiều sâu, từ “thu hút” sang “hợp tác” là bước thay đổi quan trọng trong tư duy kinh tế của Đảng. Chính phủ, các bộ, ngành, địa phương đã có những chỉ đạo cụ thể, kịp thời, linh hoạt để “đi tắt đón đầu” thu hút FDI chất lượng cao phù hợp với định hướng, chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, bảo vệ môi trường, bảo đảm quốc phòng, an ninh trong tình hình mới. Nhờ đó, Việt Nam trở thành điểm đến tiềm năng, “cứ điểm” của các nhà đầu tư, tập đoàn hàng đầu thế giới, là nền tảng để chuyển sang giai đoạn thu hút FDI thế hệ mới.
Tài liệu tham khảo:
Đảng Cộng sản Việt Nam. (2011). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb. Chính trị quốc gia. Hà Nội.
Đảng Cộng sản Việt Nam. (10-4-2013). Nghị quyết số 22-NQ/TW của Bộ Chính trị về hội nhập quốc tế. Hà Nội.
Đảng Cộng sản Việt Nam. (2016). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII. Văn phòng Trung ương Đảng, Hà Nội.
Đảng Cộng sản Việt Nam. (20-8-2019). Nghị quyết số 50-NQ/TW về định hướng hoàn thiện thể chế, chính sách, nâng cao chất lượng, hiệu quả hợp tác đầu tư nước ngoài đến năm 2030.
Chính phủ. (19-9-2011). Chỉ thị số 1617/CT-TTg về việc tăng cường thực hiện và chấn chỉnh công tác quản lý đầu tư trực tiếp nước ngoài trong thời gian tới.
Chính phủ. (29-8-2013). Chỉ thị số 103/NQ-CP về định hướng nâng cao hiệu quả thu hút, sử dụng và quản lý đầu tư trực tiếp nước ngoài trong thời gian tới.
Chính phủ. (18-3-2014). Nghị quyết số 19/NQ-CP về những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.
Tổng cục Thống kê. (2016). Động thái và thực trạng kinh tế - xã hội Việt Nam 5 năm 2011 -2015.
Tổng cục Thống kê. (2018). Kết quả hoạt động của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam giai đoạn 2011 - 2016.
Tổng cục Thống kê. (2021). Động thái và thực trạng kinh tế - xã hội Việt Nam 5 năm 2016 -2021.
Tổng cục Thống kê. (2022). Kết quả hoạt động đầu tư nước ngoài tại Việt Nam giai đoạn 2016 - 2020.