Tóm tắt: Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, hệ thống căn cứ địa giữ vai trò chiến lược quan trọng, vừa bảo vệ, giữ vững cơ quan đầu não kháng chiến, vừa là hậu phương tại chỗ và là bàn đạp tấn công địch của lượng vũ trang cách mạng. Bài viết phân tích chủ trương, và sự chỉ đạo và một số kết quả đạt được của Trung ương Cục miền Nam trong việc phát huy sức mạnh nhân dân để xây dựng căn cứ địa, đánh bại chiến lược “chiến tranh đặc biệt” của Mỹ và Việt Nam Cộng hòa những năm 1961-1965.
Từ khóa: Trung ương Cục miền Nam; căn cứ địa; sức mạnh nhân dân; chiến tranh nhân dân; giai đoạn 1961-1965
Ngày nhận bài: 30-12-2025; ngày đánh giá, thẩm định: 4-2-2026; ngày duyệt đăng: 8-4-2026
Phụ nữ dân tộc X’tiêng giã gạo nuôi quân trong kháng chiến chống Mỹ
1. Đặt vấn đề
Trong giai đoạn 1961-1965, Mỹ và chính quyền Ngô Đình Diệm triển khai chiến lược “Chiến tranh đặc biệt”, coi “ấp chiến lược” là quốc sách hàng đầu, huy động tối đa nhân lực, vật lực để gom dân, lập ấp, hòng biến miền Nam thành một trại giam khổng lồ, đẩy lực lượng cách mạng ra khỏi quần chúng. Yêu cầu tiếp tục xây dựng, mở rộng căn cứ địa càng trở nên cấp thiết. Hệ thống căn cứ địa tại miền Nam từng bước được tái lập, trên cơ sở củng cố những căn cứ địa trong kháng chiến chống thực dân Pháp như chiến khu Đ, chiến khu Đồng Tháp Mười, căn cứ U Minh; đồng thời xây dựng một số căn cứ địa mới. Cuộc đấu tranh xây dựng căn cứ địa thực chất là cuộc đấu tranh giành dân, giữ thế đứng chân quyết liệt giữa lực lượng, chính quyền kháng chiến với Mỹ và Việt Nam Cộng hòa. Kết quả của việc phát huy sức mạnh nhân dân trong xây dựng căn cứ địa góp phần vào thắng lợi của cuộc kháng chiến trong giai đoạn quyết liệt; đồng thời để lại những kinh nghiệm quý cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay.
Phương pháp nghiên cứu: Bài viết sử dụng kết hợp các phương pháp lịch sử, lôgic, phân tích, tổng hợp nhằm tái hiện chủ trương, sự chỉ đạo của Trung ương Cục miền Nam về xây dựng căn cứ địa và làm rõ một số kết quả quan trọng đạt được ở Nam Bộ trong những năm 1961-1965.
2. Kết quả nghiên cứu và thảo luận
2.1. Chủ trương và sự chỉ đạo của Trung ương Cục miền Nam về xây dựng căn cứ địa
Sau phong trào Đồng Khởi (1960), cục diện chiến trường miền Nam có sự thay đổi căn bản. Cách mạng chuyển từ thế giữ gìn lực lượng sang thế tiến công. Đế quốc Mỹ đã điều chỉnh chiến lược, nhanh chóng triển khai chiến lược “Chiến tranh đặc biệt”, với xương sống là quốc sách “Ấp chiến lược” nhằm tách nhân dân ra khỏi lực lượng cách mạng, cô lập lực lượng kháng chiến.
Trước tình hình đó, ngày 24-1-1961, Bộ Chính trị ra Chỉ thị “Về phương hướng và nhiệm vụ công tác trước mắt của cách mạng miền Nam”, nêu rõ nhiệm vụ của cách mạng miền Nam là phải xây dựng lực lượng chính trị, vũ trang, phát động phong trào đấu tranh chính trị của quần chúng, tích cực tiêu diệt sinh lực địch, bảo tồn và phát triển lực lượng cách mạng….; đồng thời nhấn mạnh xây dựng lực lượng chính trị, lực lượng vũ trang, xây dựng căn cứ địa,... là những nhiệm vụ quan trọng, quyết định thắng lợi của cách mạng miền Nam (Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Viện Lịch sử Đảng, 2015, tr. 147-148).
Ngày 31-1-1961, Bộ Chính trị ra Chỉ thị về phương hướng và nhiệm vụ công tác trước mắt của cách mạng miền Nam, chỉ rõ tầm quan trọng của xây dựng căn cứ địa nhằm bảo vệ lực lượng và cơ quan lãnh đạo kháng chiến, bảo đảm cho việc tiến công, bảo vệ phong trào và phát triển lực lượng cách mạng. Bộ Chính trị yêu cầu phải ra sức xây dựng căn cứ địa thành địa bàn rộng lớn cho Trung ương Cục miền Nam, gấp rút xây dựng các căn cứ nhỏ, mở rộng các căn cứ hiện có, bảo đảm các điều kiện về kinh tế, chính trị, quân sự (Viện Nghiên cứu Chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, 1995, T.2 (1954-1975), tr. 170).
Thực hiện chủ trương của Bộ Chính trị, tháng 10-1961, Hội nghị lần thứ nhất Trung ương Cục miền Nam (mở rộng) được tổ chức tại Mã Đà (Chiến khu Đ), dưới sự chủ trì của đồng chí Nguyễn Văn Linh - Bí thư Trung ương Cục. Hội nghị đề ra phương châm chiến lược: “vừa đẩy mạnh đấu tranh vũ trang, vừa đẩy mạnh đấu tranh chính trị, kết hợp chặt chẽ đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang, đẩy lui địch từng bước, tạo điều kiện đánh bại địch hoàn toàn” (Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Viện Lịch sử Đảng, 2015, tr.165); đồng thời xác định 10 nhiệm vụ cụ thể của cách mạng miền Nam, trong đó có nhiệm vụ: “Tiếp tục xây dựng và mở rộng căn cứ địa” (Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Viện Lịch sử Đảng, 2015, tr. 166).
Tiếp đó, Nghị quyết Hội nghị Trung ương Cục (mở rộng) tháng 11-1961 nhấn mạnh: Xây dựng và mở rộng căn cứ địa là một vấn đề quan trọng nhằm bảo đảm việc phát triển lực lượng cách mạng, bảo đảm chỗ đứng chân của lực lượng và cơ quan chỉ đạo cách mạng miền Nam. Nghị quyết đề ra nội dung công tác xây dựng căn cứ địa: Phát động tư tưởng quần chúng và tổ chức quần chúng rộng rãi, vững mạnh; Phát triển kinh tế nhất là đẩy mạnh sản xuất dự trữ lương thực và các công tác văn hóa, xã hội nhằm phát triển đời sống vật chất, tinh thần của quần chúng; Xây dựng các lực lượng võ trang, nửa võ trang lớn mạnh, phong trào quần chúng tham gia bố phòng, đánh địch rộng rãi; Xây dựng tổ chức đảng vững mạnh. Phát triển đảng viên vùng dân tộc, đào tạo nhiều cán bộ dân tộc và thi hành đầy đủ các chính sách dân tộc của Đảng (Văn phòng Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, 2020, T.8 (1961-1962), tr. 501); đồng thời yêu cầu: Cần khẩn trương củng cố hơn nữa các vùng căn cứ địa hiện có; xây dựng mạnh mẽ những căn cứ còn yếu, đồng thời phát triển rộng rãi” (Văn phòng Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, 2020, T.8 (1961-1962), tr. 504).
Trung ương Cục chủ trương củng cố và phát triển vững chắc các căn cứ địa đã có từ trước như Chiến khu Đ, Chiến khu Dương Minh Châu, biến vùng căn cứ Dương Minh Châu thành vùng “tam giác sắt”, góp phần bẻ gãy các cuộc hành quân quy mô lớn, làm phá sản kế hoạch bình định gom dân lập ấp chiến lược của Mỹ. Phát huy thế trận lòng dân, xây dựng căn cứ địa gắn liền với xây dựng lực lượng vũ trang địa phương, thực hiện phương châm bám trụ, ăn sâu bám rễ vào vùng sau lưng địch; phát huy sức mạnh hậu phương tại chỗ, tạo nên thế trận liên hoàn từ rừng núi xuống đồng bằng và áp sát đô thị.
Ngày 18-7-1962, trong thư gửi Trung ương Cục miền Nam, đồng chí Lê Duẩn-Bí thư thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đảng-nhấn mạnh tầm quan trọng của việc xây dựng căn cứ rộng và vững chắc để tiêu diệt sinh lực địch, đồng thời chỉ rõ: “Chúng ta cần phải có căn cứ rộng và vững chắc. Có căn cứ để tiến hành xây dựng bộ đội có thể tiếp thu được sự giúp đỡ dễ dàng để có thể triển khai tiêu diệt được nhiều sinh lực địch. Nhưng phải có căn cứ thuận lợi cho việc lãnh đạo cả quân sự và chính trị” (Lê Duẩn, 2025, tr. 34-35). Tiếp thu quan điểm chỉ đạo này, Trung ương Cục miền Nam chủ trương phát huy những kinh nghiệm xây dựng căn cứ địa trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp, dựa chắc vào dân để xây dựng căn cứ địa, vì lòng dân chính là hậu phương vững chắc nhất.
Tại chiến trường trọng điểm Sài Gòn - Gia Định, việc xây dựng các căn cứ không chỉ giới hạn ở vùng rừng núi mà còn tiến sâu vào vùng ven đô. Trung ương Cục chỉ đạo Khu ủy Sài Gòn - Gia Định xây dựng các căn cứ “lòng dân” ngay tại Củ Chi, Hóc Môn, Bình Chánh. Hệ thống địa đạo Củ Chi là minh chứng cho sức mạnh nhân dân trong việc xây dựng căn cứ địa. Từ lòng đất, nhân dân và quân du kích đã tạo nên một hệ thống phòng thủ - tấn công độc đáo, “địch gặp phải sức chống trả quyết liệt của nhân dân, nên việc lập ấp chiến lược của địch bị chậm hơn các nơi khác” (Ban Chấp hành Đảng bộ Thành phố Hồ Chí Minh, 2014, tr. 643).
Trong vùng căn cứ, Trung ương Cục yêu cầu phải phát triển các xã, ấp chiến đấu toàn diện. Những xã, ấp chiến đấu toàn diện không chỉ là đơn vị hành chính, dân cư, mà còn là một đơn vị vừa sản xuất, vừa chiến đấu và phục vụ chiến đấu. Trung ương Cục miền Nam nhấn mạnh: “Chỉ có ấp xã chiến đấu, căn cứ địa cách mạng và thực lực cách mạng mạnh phối hợp với phong trào đấu tranh chính trị, vũ trang và công tác binh vận của quần chúng mới có thể ngăn chặn và phá tan âm mưu gom dân lập ấp chiến lược của địch” (Văn phòng Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, 2020, T. 8 (1961-1962), tr. 873).
Tại Tây Ninh, nơi đứng chân của cơ quan Trung ương Cục từ sau năm 1962, nhiệm vụ bảo vệ an toàn tuyệt đối cho cơ quan đầu não được đặt lên hàng đầu. Trung ương Cục chỉ đạo Đảng bộ tỉnh Tây Ninh, lãnh đạo, tổ chức cho nhân dân xây dựng các “xã chiến đấu” liên hoàn quanh căn cứ Bắc Tây Ninh; huy động nhân dân địa phương đóng góp công sức đào hầm hào, công sự, tham gia chiến đấu chống càn, giữ gìn bí mật, bảo vệ cán bộ, bảo vệ căn cứ.
Trung ương Cục nhấn mạnh, để xây dựng căn cứ địa vững chắc, phải chăm lo đời sống vật chất, tinh thần và sức khỏe cho nhân dân, chứng minh tính ưu việt của chế độ mới. Tại các vùng căn cứ địa, địch thường xuyên sử dụng không quân, pháo binh và chất độc hóa học đánh phá, hủy diệt mùa màng, thực hiện âm mưu “bao vây kinh tế” hòng làm cho lực lượng kháng chiến kiệt quệ, đặt ra thách thức lớn nhất là bảo đảm hậu cần và ổn định đời sống, sản xuất của nhân dân trong vùng căn cứ. Trước tình hình đó, Trung ương Cục đề ra chủ trương “Tự lực cánh sinh”, “Vừa kháng chiến, vừa kiến quốc”, lãnh đạo nhân dân và bộ đội xây dựng nền kinh tế kháng chiến ngay tại chỗ, huy động tối đa nguồn lực nhân dân trên ba mặt trận quân sự, kinh tế - văn hóa và phát triển lực lượng vũ trang, nỗ lực xây dựng và phát triển hệ thống căn cứ địa liên hoàn, vững chắc; đồng thời chỉ đạo thực hiện chính sách dân tộc đúng đắn, khơi dậy tinh thần yêu nước của đồng bào các dân tộc thực hiện đại đoàn kết dân tộc, đánh bại chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” của Mỹ.
2.2. Một số kết quả về phát huy sức mạnh nhân dân xây dựng căn cứ địa
Về chống, phá ấp chiến lược của địch, dưới sự lãnh đạo của Trung ương Cục miền Nam và các cấp ủy đảng, phong trào phá ấp chiến lược diễn ra mạnh mẽ, đặc biệt tại Khu 8 và Khu 9. Nhân dân được giác ngộ đã kết hợp đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang, sử dụng “ba mũi giáp công”, phá vỡ hệ thống kìm kẹp của địch. Theo Báo cáo của Trung ương Cục miền Nam về “Tổng kết kinh nghiệm chống phá gom dân lập khu, ấp chiến lược ngày 30-6-1963”: “Ta đã bẻ gãy được nhiều cuộc càn quét gom dân của địch. Ta đã phát động quần chúng nổi dậy đấu tranh quyết liệt hòng để phá rào, phá kềm kẹp… bất kỳ ở đâu mặc dầu địch đàn áp khủng bố tàn bạo như thế nào nếu đảng bộ địa phương có quyết tâm bám sát lãnh đạo thì quần chúng đều có khả năng chống lại âm mưu địch có kết quả. Chỉ đạo kết hợp ba mặt vũ trang, chính trị, binh vận chống phá ấp chiến lược cũng đã có nhiều tiến bộ… ta đã tiến lên kết hợp chặt chẽ giữa chống và phá, phá lẻ tẻ thường xuyên và phá từng mảng khu, ấp chiến lược trên một diện rộng lớn, gây cho địch lúng túng bị động. Ta đã xây dựng được nhiều cơ sở Đảng, Đoàn, du kích tự vệ, nòng cốt quần chúng ở trong và ngoài ấp chiến lược… Có ấp chiến lược đã tổ chức được chi bộ bám sát quần chúng (như Hòa Xuân - Phú Yên và Thới Hòa - Bình Dương). Quần chúng trong nhiều ấp chiến lược vẫn đóng góp được nhiều nhân tài vật lực cho cách mạng” (Văn phòng Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, 2020, T.9 (1963), tr. 365). Đến giữa năm 1965, Quân đội giải phóng phối hợp với đấu tranh của quần chúng nhân dân “đã giải phóng được 200 xã, 2.200 ấp với 2 triệu dân” (Bộ Tư lệnh Quân khu 7, 2016, tr. 85). Thắng lợi này không chỉ làm phá sản cơ bản “quốc sách” ấp chiến lược của địch mà còn mở rộng vùng giải phóng, tạo nên những mảng căn cứ địa liên hoàn ở đồng bằng sông Cửu Long.
Về kinh tế, Trung ương Cục phát động phong trào tăng gia sản xuất rộng khắp trong các cơ quan, đơn vị và nhân dân vùng căn cứ. Tháng 7-1964, Bộ Chỉ huy Miền quyết định thành lập thêm Ban quân nhu Khu E, triển khai thu mua, vận chuyển và dự trữ được 750 tấn lương thực, thực phẩm, trong đó 500 tấn khai thác tại chỗ, 250 tấn từ Sài Gòn và đồng bằng sông Cửu Long (Bộ Tư lệnh Quân khu 7, 2016, tr. 62). Đây là nguồn lương thực quan trọng bảo đảm cho các cơ quan lãnh đạo, chỉ đạo, chỉ huy kháng chiến vượt qua những năm tháng khó khăn, gian khổ nhất. Tại tỉnh Bình Phước, nhất là trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số, Trung ương Cục chỉ đạo thực hiện chính sách dân tộc đúng đắn, khơi dậy tinh thần yêu nước của đồng bào, phát động phong trào “rẫy lúa nuôi quân” sâu rộng. Mặc dù đời sống còn nhiều khó khăn, nhưng mỗi gia đình đồng bào dân tộc đều lập hũ gạo kháng chiến, “đồng bào dân tộc ở Bom Bo, Đak Nhau vùng căn cứ đã ủng hộ 2.000 xá lúa (1 xá bằng 3 thúng), 8.000 gốc mì để nuôi quân” (Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Bình Phước, 2020, tr. 188).
Về văn hóa - xã hội, hệ thống y tế dân y và trường học giáo dục phổ thông được thiết lập ngay trong rừng sâu và các căn cứ, vùng giải phóng. Các trạm quân y, dân y kết hợp quân - dân y không chỉ cứu chữa thương binh mà còn chăm sóc sức khỏe cho nhân dân, đẩy lùi dịch bệnh. Đặc biệt quân y miền Tây “đã có nhiều sáng tạo mang ý nghĩa lớn trong việc khắc phục những khó khăn về thuốc men” (Ban Biên soạn Lịch sử Tây Nam Bộ kháng chiến, 2010, T.2 (1955-1969), tr. 336). Công tác tư tưởng - văn hóa được đặc biệt chú trọng. Tiếng nói của Đài Phát thanh Giải phóng cùng với Thông tấn xã Giải phóng và hoạt động của các đoàn văn công xung kích đã trở thành vũ khí tinh thần sắc bén, lan tỏa niềm tin cách mạng đến mọi tầng lớp nhân dân, cổ vũ tinh thần thi đua giết giặc lập công. Qua đó, “tình dân nghĩa Đảng thêm son sắt một lòng. Đảng nói dân theo, dân nói Đảng nghe” (Ban Biên soạn Lịch sử Tây Nam Bộ kháng chiến, 2010, T.2 (1955-1969), tr. 337).
Công tác xây dựng Đảng, chính quyền trong vùng căn cứ và đào tạo cán bộ tại chỗ cũng được Trung ương Cục miền Nam đặc biệt quan tâm. Các trường Đảng, trường Quân chính sơ cấp, trung cấp được mở ngay tại căn cứ. Các lớp huấn luyện chính trị ngắn ngày cho quần chúng nòng cốt được tổ chức liên tục để duy trì nguồn lực kế cận, bảo đảm sự lãnh đạo liên tục của Đảng tại cơ sở.
Về xây dựng và phát triển lực lượng vũ trang, ngày 15-2-1961, thực hiện chỉ đạo của Bộ Chính trị, Xứ ủy Nam Bộ đã tiến hành tổ chức Hội nghị tại chiến khu Đ, quyết định thống nhất lực lượng vũ trang trên chiến trường B2, thành lập Quân giải phóng miền Nam Việt Nam” (Bộ Tư lệnh Quân khu 7, 2016, tr. 32). Trên cơ sở tiếp tục những chủ trương và kết quả của Xứ ủy về xây dựng lực lượng vũ trang, Trung ương Cục miền Nam quán triệt quan điểm quân đội ta là quân đội của dân, do dân, vì dân. Hàng vạn thanh niên vùng căn cứ và vùng giải phóng hăng hái tòng quân. Phong trào “Tòng quân giết giặc” trở thành cao trào cách mạng, cung cấp sức bật mới cho các sư đoàn chủ lực Miền, như Sư đoàn 5, 7, 9. “Quân giải phóng đã xây dựng thành công các đơn vị chủ lực đến cấp trung đoàn, vận động hàng nghìn thanh niên lên miền Đông xây dựng các trung đoàn chủ lực của Miền” (Bộ Tư lệnh Quân khu 7, 2016, tr. 93).
Về bảo vệ an toàn căn cứ địa, nhân dân vùng căn cứ còn trực tiếp tham gia bảo vệ chính quyền, cán bộ, đảng viên. Tiêu biểu như ở Đồng Tháp, những năm địch bình định ác liệt, Tỉnh ủy và các cơ quan tỉnh di chuyển nhiều địa bàn trong các địa căn cứ của tỉnh để chỉ đạo phong trào. “Tỉnh ủy bám chiến trường đã là tấm gương cho cán bộ bám dân, dân bám đất, bộ đội và du kích bám đánh địch” (Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Đồng Tháp, 2020, T. 2 (1954-1975), tr. 396).
Nhân dân giữ bí mật, an toàn các hành lang chiến lược vận chuyển tiếp viện từ miền Bắc vào các chiến trường. Tuyến đường mòn Hồ Chí Minh đoạn chạy qua Đông Nam Bộ và Tây Nguyên luôn bị địch đánh phá ác liệt. Tuy nhiên, nhờ sự che chở của nhân dân, mạch máu giao thông này chưa bao giờ bị cắt đứt. Đồng bào dân tộc tại sóc Bù Pugor còn lấy lúa gạo trong kho tiếp tế cho đoàn C200 trên đường hành lang Bắc - Nam khi đơn vị lâm vào tình cảnh thiếu đói nghiêm trọng. Với sự hỗ trợ, bảo vệ của nhân dân các địa phương, trong 3 năm 1961-1964, “lực lượng hậu cần trên chiến trường B2 đã tiếp nhận từ Đoàn 559 chuyển vào gồm 165.600 khẩu súng các loại, trong đó có một số pháo, cối, súng máy cao xạ và hàng trăm tấn khí tài quân sự khác” (Bộ Tư lệnh Quân khu 7, 2016, tr. 63). Trong các chiến dịch lớn, vai trò của nhân dân càng được thể hiện rõ nét. Nhân dân chính là “tai mắt” vô cùng hiệu quả, cung cấp tin tức tình báo chính xác về mọi di biến động của địch. Nhờ có mạng lưới cơ sở trong dân, bộ đội chủ lực Quân giải phóng đã nắm chắc địa hình, tổ chức nhiều trận đánh táo bạo và giành thắng lợi như Bình Giã (1964), Đồng Xoài (1965), Bàu Bàng - Dầu Tiếng (1965)... Đặc biệt, hệ thống giao liên được xây dựng và bảo vệ với phương châm dựa chắc vào dân; các trạm giao liên được đặt tại nhà dân, được nhân dân nuôi giấu, che chở. Mạng lưới giao liên nhân dân đã bảo đảm sự thông suốt mệnh lệnh từ Trung ương Cục đến các khu, tỉnh, huyện, xã trong điều kiện chiến trường bị chia cắt, địch đánh phá ngăn chặn quyết liệt.
3. Kết luận
Trong giai đoạn 1961-1965, Trung ương Cục miền Nam đã vận dụng sáng tạo và phát triển lý luận Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về chiến tranh nhân dân, giải quyết thành công mối quan hệ biện chứng giữa địa hình tự nhiên và địa hình chính trị. Thành công lớn nhất của Trung ương Cục miền Nam là đã phát triển tư duy về căn cứ địa. Căn cứ địa ở Nam Bộ không chỉ ở những khu rừng già hiểm trở mà còn được xây dựng trong lòng nhân dân-nơi nào có dân, nơi đó có căn cứ; lòng dân vững thì căn cứ vững. Đây là sự bổ sung quý báu vào kho tàng lý luận quân sự Việt Nam.
Thực tiễn xây dựng căn cứ địa khẳng định vai trò quyết định, không thể thay thế của sức mạnh nhân dân. Trong bối cảnh viện trợ quốc tế và chi viện từ miền Bắc còn gặp nhiều khó khăn do sự ngăn chặn của địch, việc tự chủ về hậu cần của các đơn vị tại căn cứ là yếu tố then chốt. Ở miền Tây Nam Bộ “nhân dân hăng hái đóng góp tài chính, lúa gạo, nhân lực về mọi mặt cho cuộc chiến đấu chung của cả B2” (Ban Biên soạn Lịch sử Tây Nam Bộ kháng chiến, 2010, T. 2 (1955-1969), tr. 339). Nguồn tài lực, vật lực mà nhân dân đóng góp cho kháng chiến có vai trò đặc biệt quan trọng.
Hệ thống căn cứ địa được xây dựng trong giai đoạn 1961-1965 đã trở thành bàn đạp chiến lược, quyết định cho thắng lợi tiếp theo của cách mạng miền Nam. Việc xây dựng, củng cố các vùng căn cứ đã tạo ra một thế trận liên hoàn, áp sát sào huyệt địch. Đây chính là nơi tập kết, huấn luyện và xuất phát của các binh đoàn chủ lực trong các trận đánh lớn, đặc biệt là cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 và Đại thắng mùa Xuân 1975.
Thành công của Trung ương Cục miền Nam trong việc phát huy sức mạnh nhân dân xây dựng căn cứ địa giai đoạn 1961 - 1965 là một điển hình về nghệ thuật chỉ đạo chiến tranh nhân dân của Đảng. Đó là quá trình quán triệt sâu sắc quan điểm “lấy dân làm gốc”, biết dựa vào dân, tin ở dân và phát huy tối đa tiềm năng của dân. Kinh nghiệm về huy động sức mạnh nhân dân xây dựng căn cứ địa có giá trị lý luận và thực tiễn trong sự nghiệp xây dựng nền quốc phòng toàn dân và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Ban Chấp hành Đảng bộ Thành phố Hồ Chí Minh. (2014). Lịch sử Đảng bộ Thành phố Hồ Chí Minh 1930-1975, Nxb. Chính trị quốc gia. Hà Nội
Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Bình Phước. (2020). Lịch sử Đảng bộ tỉnh Bình Phước (1930-2020), Nxb. Chính trị quốc gia. Hà Nội
Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Đồng Tháp. (2020). Lịch sử Đảng bộ tỉnh Đồng Tháp. T. 2 (1954-1975), Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật. Hà Nội
Ban Biên soạn Lịch sử Tây Nam Bộ kháng chiến. (2010). Lịch sử Tây Nam Bộ kháng chiến. T. 2 (1955-1969), Nxb Chính trị quốc gia. Hà Nội
Bộ Tư lệnh Quân khu 7. (2016). Lịch sử Quân giải phóng miền Nam Việt Nam trên chiến trường B2 (1961-1976), Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật. Hà Nội
Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Viện Lịch sử Đảng. (2015). Lịch sử Xứ ủy Nam Bộ và Trung ương Cục miền Nam (1954-1975), Nxb. Chính trị quốc gia. Hà Nội
Lê Duẩn. (2025). Thư vào Nam (xuất bản lần thứ ba). Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật. Hà Nội
Văn phòng Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam. (2020). Văn kiện Trung ương Cục miền Nam giai đoạn 1946-1975. T.8 (1961-1962), Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật. Hà Nội
Văn phòng Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam. (2020). Văn kiện Trung ương Cục miền Nam giai đoạn 1946-1975. T.9 (1963), Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật. Hà Nội
Viện Nghiên cứu Chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. (1995). Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam. T. 2 (1954-1975), Nxb. Chính trị quốc gia. Hà Nội.