Tóm tắt: Trong 30 năm tiến hành chiến tranh cách mạng, quân và dân Liên khu V và Tây Nguyên đã lập nên nhiều chiến công xuất sắc, góp phần to lớn vào sự nghiệp đấu tranh giành lại độc lập, tự do cho dân tộc. Chiến thắng Đắk Pơ, ngày 24-6-1954, là một trong những thắng lợi giòn giã, để lại nhiều kinh nghiệm quý cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong hiện nay.
Từ khoá: Chiến thắng Đắk Pơ; kinh nghiệm
1. Chiến thắng Đắk Pơ
Thực hiện chủ trương tiến công tiêu diệt địch trên các chiến trường, trong Đông Xuân 1953-1954, quân và dân Liên khu V nói chung, địa bàn Tây Nguyên nói riêng ra sức đẩy mạnh tiến công địch, giải phóng Kon Tum (7-2-1954), tiêu diệt một loạt đồn bốt của địch ở dọc hai bên đường 19, giải tán các ổ vũ trang phản động trong khu vực, bắt và gọi hàng hàng nghìn binh lính nguỵ. Đồng thời, phối hợp với các đơn vị chủ lực vây ép các cứ điểm của địch trên đường 19, không cho địch dồn sức chi viện cho tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ.
Về phía địch, sau thất bại Điện Biên Phủ, tướng Paul Ély được cử sang Đông Dương đảm nhận chức Tổng chỉ huy, với mục tiêu chủ yếu là phải bảo vệ đội quân viễn chinh. Khi nhậm chức vào đầu tháng 6, viên tướng này đặc biệt quan tâm đến tập đoàn cứ điểm ở An Khê, vị trí quan trọng nằm trên đường 19 nối liền cao nguyên với bờ biển. Đồn trú tại đây là binh đoàn cơ động 100 (GM-100 Groupement Mobile-100), gồm một trung đoàn mới từ Triều Tiên về (2 tiểu đoàn) và 1 tiểu đoàn Bắc Phi. Đường 19 đã bị lực lượng vũ trang Liên khu V cắt đứt, binh lính Pháp chỉ còn trông đợi tiếp tế bằng đường không. Vì vậy, Paul Ély lo ngại sẽ dẫn đến một “Điện Biên Phủ thứ hai”. Để tránh trường hợp xấu nhất, ngày 19-6-1954, các đơn vị ở đây được lệnh rút về Pleiku. Cuộc hành binh được chuẩn bị khá chu đáo. Một cánh quân tăng viện của GM-42 sẽ xuất phát từ Pleiku xuống đón GM-100 hành quân cơ giới từ An Khê lên. Hợp điểm của hai cánh quân này là đèo Măng Giang, cách An Khê 22 km.
Về phía ta, trước tình hình quân Pháp rút chạy khỏi nhiều địa bàn rộng lớn trên chiến trường toàn quốc, Bộ Tư lệnh Liên khu V lệnh cho Trung đoàn 96 phải theo dõi chặt chẽ mọi hành động của địch; đồng thời phối hợp với 2 đại đội của Trung đoàn 120 cùng bộ đội địa phương An Khê, Đắk Bớt, Tân An đánh địch trên đường 19 đoạn từ Pleiku - An Khê. Thực hiện nhiệm vụ được giao, Trung đoàn 96 tổ chức trinh sát trận địa, chọn đoạn cầu Đắk Pơ trên Quốc lộ 19 phía Tây An Khê 15 km làm trung tâm của trận phục kích. Nơi đây, đường quanh co, khúc khuỷu, phía Bắc là những núi đất, đá đan xen với những vách đứng ta luy cao 3-5 m; phía Nam là những hố sâu kéo dài đến tận thung lũng Sông Ba… bộ đội phục kích có thể dựa vào đó mà bám sát đường rất thuận tiện cho việc khóa đầu, chặn đuôi đội hình địch trong một trận phục kích lớn.
Ngày 17-6-1954, Trung đoàn 96 tổ chức hội nghị phổ biến kế hoạch tác chiến, tiến hành công tác chuẩn bị. Ngày 23-6, Trung đoàn nhận được lệnh hành quân từ Đe Bờ đến Đắk Pơ. Sáng 24-6, toàn Trung đoàn 96 đã chiếm lĩnh vị trí, sẵn sàng nổ súng. Đoạn phục kích chủ yếu dài khoảng 800m ở phía Đông cầu, do Tiểu đoàn 79 đảm nhiệm. Đoạn phục kích phía Tây cầu, dài chừng 400m, do Tiểu đoàn 40 (thiếu một đại đội) đảm nhiệm. Đại đội hỏa lực cối 82 được bố trí có khả năng chi viện cho các tiểu đoàn 79, 40 trong quá trình chiến đấu. Lực lượng dự bị có 1 đại đội của Tiểu đoàn 40. Trong khi đó, đại đội độc lập của Trung đoàn 120 triển khai đoạn An Khê - Cà Tum để ngăn chặn, phá cầu cống, kiềm chế sức cơ động của địch. Ở hai đầu trận địa, các đài quan sát được thiết lập nhằm phát hiện địch từ xa, nhất là hướng An Khê lên.
Từ sáng sớm ngày 24-6, quân Pháp ở An Khê gồm GM-100 và các đơn vị quân đội Quốc gia Việt Nam (một bộ phận của Quân đội Liên hiệp Pháp, do Pháp dựng lên, Quốc trưởng Bảo Đại làm Tổng Chỉ huy) theo đường số 19 về hướng Pleiku. Đến km số 6, chúng bị lực lượng địa phương An Khê đánh vào phía sau đội hình, buộc phải dừng 30 phút để chống trả, sau mới tiếp tục hành quân. Do sợ bị phục kích nên đội hình của chúng tiến với tốc độ chậm. Quá trưa ngày 24-6, khi bộ phận đi đầu của địch vượt qua cầu Đắk Pơ, Trung đoàn trưởng ra lệnh nổ súng. Hỏa lực Cối 82, ĐKZ và các loại súng bộ binh của Đại đội 68, Tiểu đoàn 40 đồng loạt nã đạn vào đoàn xe đi đầu của địch, làm nhiều chiếc bốc cháy. Bị đánh bất ngờ, đội hình hành quân của địch rối loạn, binh lính vội thoát khỏi xe. Chớp thời cơ, bộ đội xung phong xuống mặt đường tiến công địch làm cho bộ phận đi đầu rối loạn, số bị diệt, số bỏ chạy tán loạn.
Trong khi đó, Tiểu đoàn 79 tiến công vào đoạn giữa đội hình hành quân của địch. Một số xe tăng, xe bọc thép, xe vận tải địch bốc cháy. Quân địch chống trả khá quyết liệt, nhưng trong thế bị động và lúng túng. Nhiều tên bị chết, bị thương và bị bắt, trong số đó có đại tá, chỉ huy trưởng GM-100. Đến 15 giờ 30 phút, lực lượng đi đầu và giữa đội hình hành quân của địch đã mất sức chiến đấu. Nhiều phương tiện bị phá hủy, nằm ngổn ngang trên đường 19. Được sự chi viện của pháo binh và không quân, quân địch ở phía cuối đội hình hành quân dồn lên phản kích. Cán bộ, chiến sĩ ta vừa bám sát trận địa, đẩy lùi các đợt xung phong của địch, vừa tổ chức truy kích, đánh tiêu diệt. Trận đánh diễn ra ác liệt, kéo dài đến trưa 25-6. Trên 700 lính Âu - Phi bị chết và bị thương, gần 1.200 tên khác, trong đó có đại tá Baroux, cùng toàn bộ Bộ tham mưu GM-100 bị bắt, 229 xe cơ giới còn nguyên vẹn hoặc hư hỏng ít, có 1 xe tăng 28 tấn còn nguyên, 18 pháo 105 ly, trên 1.000 súng các loại và mấy chục tấn đạn dược trở thành chiến lợi phẩm của ta1.
Thừa thắng, bộ đội tiến công tiêu diệt một bộ phận đi đón GM-100, quét sạch địch trên đường 19. Thị trấn An Khê được giải phóng, lực lượng địa phương, dân quân du kích và nhân dân diệt địch, giải phóng hoàn toàn các huyện Đắk Bớt, Pleikon và đại bộ phận vùng nông thôn phía Tây đường 14, Pleiku, bao vây quân Pháp ở thị xã Pleiku. Tin GM-100 “chỉ còn 54 người khỏe mạnh”2 bay tới Genève khiến cho phái đoàn Pháp càng mong muốn tìm lối thoát khỏi cuộc chiến ở Đông Dương. Đại tướng Võ Nguyên Giáp đánh giá: “Đây là một trận vận động phục kích lớn, dũng cảm và linh hoạt, tận dụng được yếu tố bất ngờ, sử dụng lực lượng với hiệu quả cao, đánh trúng vào chỗ yếu của địch, bồi thêm cho chúng một đòn thất bại nặng nề…"3.
2. Một số kinh nghiệm đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay
70 năm đã trôi qua, chúng ta có những nhìn nhận sâu sắc hơn về chiến thắng Đắk Pơ đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Một là, luôn quán triệt chủ trương chiến lược của cấp trên, xây dựng thế trận tiến công rộng khắp, chọn cách đánh phù hợp, giành thắng lợi
Bước vào Đông-Xuân 1953-1954, Tổng Quân uỷ đã chỉ thị cho Liên khu V: “tranh thủ thời gian, tích cực tăng cường lực lượng vũ trang của Liên khu về số lượng và chất lượng; phát triển mạnh về chiến trường Tây Nguyên và Hạ Lào, chủ yếu hiện nay là về phía Bắc Tây Nguyên; để tiêu diệt một bộ phận sinh lực địch, mở rộng căn cứ địa (kể cả vùng tự do hiện nay) về phía Tây, củng cố vùng hành lang Bắc Tây Nguyên nối liền Liên khu V và Hạ Lào và phát triển rộng ra, phá âm mưu củng cố Tây Nguyên và chiếm rộng ra vùng ven biển của địch”4. Quán triệt chỉ thị của Tổng Quân ủy, quân và dân trên địa bàn Tây Nguyên đã đẩy mạnh tác chiến, giành được những thắng lợi quan trọng, tạo nên thế trận tiến công rộng khắp. Chỉ riêng trên đường 19, từ đầu tháng 4-1954, bộ phận chủ lực của Liên khu gồm Trung đoàn 108, Trung đoàn 96 cùng các đơn vị địa phương đã tổ chức nhiều trận phục kích, tập kích quy mô nhỏ. Hoạt động này đã uy hiếp địch từ nhiều phía, căng chúng ra các hướng, khoét sâu mâu thuẫn giữa tập trung và phân tán, giữa phòng thủ và tiến công, buộc địch thêm lún sâu vào bị động5, phải tạm dừng chiến dịch Atlante điều quân về Tây Nguyên bảo vệ lực lượng ở các tiền đồn. GM-100 đã được điều động đến An Khê trong tình thế đó. Vậy nên, sau khi ta lần lượt giải phóng các vùng phụ cận Bắc, Đông-Bắc, Tây-Bắc và Đông-Nam An Khê, địch chỉ còn chiếm đóng chính thị trấn An Khê và một số đồn bót nhỏ ngay trên trục đường 19 như: Cà Tung, Xà Huống, Hà Tam, Măng Giang kéo lên đến thị xã Pleiku. Lo sợ bị ta tiến công, địch phải rút bỏ An Khê, tạo điều kiện để ta đánh địch ngoài công sự, thực hành trận phục kích thắng lợi.
Từ kinh nghiệm trên, trong giai đoạn hiện nay các cấp ủy Đảng phải luôn quán triệt sâu sắc đường lối quân sự, quốc phòng của Đảng về bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, vận dụng hết sức sáng tạo vào địa bàn để xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân vững mạnh, xây dựng khu vực phòng thủ vững chắc, thực hiện thắng lợi nhiệm vụ quân sự, quốc phòng trên địa bàn.
Hai là, xây dựng lực lượng chủ lực vững mạnh, xây dựng lực lượng vũ trang địa phương rộng khắp, phối hợp với bộ đội chủ lực để hoàn thành nhiệm vụ
Đơn vị chủ công làm nên chiến thắng Đắk Pơ là Trung đoàn 96, vốn là Đoàn Thái Phiên được thành lập từ những ngày đầu kháng chiến chống thực dân Pháp ở Đà Nẵng nằm trong biên chế Đại đoàn 31 (gồm Trung đoàn 68, 69, 93, 96), đã tham gia bao vây quân Pháp 107 ngày ở Đà Nẵng và vùng phụ cận; lập nên các chiến công ở Hải Vân, Ba Khe, Đại La; được đồng chí Phạm Văn Đồng đại diện Chính phủ ở miền Nam Trung Bộ tặng cờ "Giữ vững". Trải qua nhiều lần thay đổi, đơn vị không còn, nhưng thực hiện chủ trương “tích cực tăng cường lực lượng vũ trang của Liên khu về số lượng và chất lượng; phát triển mạnh về chiến trường Tây Nguyên”6, ngày 1-5-1954, tại Vĩnh Thạnh, Bình Định, Trung đoàn được khôi phục với biên chế ba tiểu đoàn bộ binh (79, 40, 30 và 2 đại đội hỏa lực...) do đồng chí Nguyễn Minh Châu nguyên Trung đoàn trưởng Trung đoàn 108 về phụ trách, đồng chí Nguyễn Hữu Thành là Chính ủy.
Khi tái lập, Tiểu đoàn 30 làm nhiệm vụ đánh địch đổ bộ ở Quy Nhơn, còn Tiểu đoàn 40 và Tiểu đoàn 79 được lệnh cấp tốc hành quân làm nhiệm vụ phối hợp với Trung đoàn 108 tiếp tục cắt đứt quốc lộ 19, tạo thế bao vây buộc quân địch phải rút khỏi An Khê, đồng thời xây dựng kế hoạch tiêu diệt địch khi chúng rút chạy theo đường 19 về Pleiku. Chính sự khôi phục lại Trung đoàn 96 đã tạo nên sức mạnh tập trung cho lực lượng chủ lực ở Liên khu V, góp phần quyết định đến chiến thắng Đắk Pơ. Như vậy, chiến thắng Đắk Pơ đã để lại kinh nghiệm về xây dựng lực lượng chủ lực vững mạnh, tạo thế xoay chuyển chiến trường, xây dựng lực lượng vũ trang địa phương rộng khắp, phối hợp với bộ đội chủ lực để hoàn thành nhiệm vụ.
Từ kinh nghiệm trên, trong giai đoạn hiện nay, để xây dựng khu vực phòng thủ vững chắc cần tập trung xây dựng lực lượng vũ trang vững mạnh làm nòng cốt trong xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân vững mạnh. Trong đó, xây dựng lực lượng vũ trang địa phương vững mạnh về mọi mặt, có chất lượng tổng hợp, trình độ sẵn sàng chiến đấu cao; nâng cao hơn chất lượng tổng hợp và trình độ sẵn sàng chiến đấu của các binh đoàn chủ lực cơ động, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong mọi tình huống, phối hợp giữa các lực lượng để hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ.
Ba là, trong bố trí, sử dụng lực lượng phải khai thác tối đa lợi thế chiến trường, phát huy tính sáng tạo của các đơn vị, bảo đảm hiệu suất chiến đấu cao
Ta chỉ sử dụng hai tiểu đoàn bộ binh của Trung đoàn 96 có sự phối thuộc của đơn vị bạn đã đánh thắng 6 tiểu đoàn địch, làm nên chiến thắng Đắk Pơ. Ta đã phát huy được khả năng tác chiến của các đơn vị và tận dụng được yếu tố địa hình. Ban Chỉ huy Trung đoàn 96 đã bố trí Tiểu đoàn 79 có hai đại đội bộ binh trên một đoạn phục kích chủ yếu dài 800m từ cầu Đắk Pơ về phía Đông, ngược lại dùng cả Tiểu đoàn 40 (ba đại đội bộ binh) phục kích địch trên đoạn đường 400m về phía Tây. Đây là sự vận dụng sáng tạo. Đoạn 800m phía Đông là trận địa phục kích chủ yếu, có địa hình lý tưởng cho việc tiến công địch từ phía Bắc (trên cao) xuống. Khi địch bị chặn ở phía Tây cầu Đắk Pơ, đoạn này là chỗ địch bắn trả lại bộ đội ta ở độ tà dương, khó trúng đích, ngược lại, ta lại phát huy được đầy đủ các loại vũ khí và xung lực. Ngay cả đối phương cũng nhận định: “Việt Minh đã lợi dụng những điểm cao ở phía Bắc để đặt súng cối bắn xối xả vào đoàn xe nên quân Pháp rối loạn ngay, không thể mở cuộc phản công”7. Tiểu đoàn 79 đã bắt sống viên chỉ huy GM-100 và một xe tăng còn nguyên vẹn. Việc bố trí lực lượng còn căn cứ đến trình độ và khả năng chiến đấu của từng đơn vị phụ trách. Tiểu đoàn 79 tuy có hai đại đội bộ binh nhưng là hai đại đội chủ công của Trung đoàn, có đội ngũ cán bộ từ tiểu đội đến tiểu đoàn dạn dày kinh nghiệm, có nhiều kinh nghiệm trong đánh vận động, đã lập nhiều chiến công trong đánh công kiên. Giao nhiệm vụ cho Tiểu đoàn 79 đánh đoạn chủ yếu là rất phù hợp. Thực tế diễn biến đánh địch phản kích giữ vững trận địa đã chứng minh rõ. Đại đội 223 chỉ còn trong đội hình 25 đồng chí vẫn kiên quyết đánh trả địch, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ. Do vậy, thắng lợi của trận đánh đã để lại bài học về bố trí, sử dụng lực lượng.
Từ kinh nghiệm trên, để thực hiện thành công nhiệm vụ quân sự, quốc phòng trong giai đoạn hiện nay, cần nắm vững khả năng của các đơn vị để phát huy được sức mạnh, sở trường, hoàn thành tốt nhiệm vụ. Điều này cần được áp dụng trong công tác huấn luyện, đảm bảo vừa hoàn thành chương trình huấn luyện chung, nhưng cũng có những huấn luyện chuyên sâu nhằm tạo ưu thế cho từng đơn vị, sẽ phát huy được sức mạnh tổng hợp trong phối hợp thực hiện nhiệm vụ.
Để làm nên chiến thắng Đắk Pơ, Ban chỉ huy Trung đoàn 96 đã quán triệt sâu sắc lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “nghiên cứu kỹ càng địa hình, đo xem chiến trường cao thấp, rộng hẹp, xa gần và bằng phẳng hay hiểm trở thế nào. Rồi lại tính xem cần phải số quân nhiều ít, mạnh yếu thế nào để quyết định sức chiến đấu giữa quân mình với quân địch"8. Với lực lượng ít, nhưng tận dụng được yếu tố thuận lợi của địa hình nên đã tác chiến đạt hiệu suất cao. Chiến thắng đã để lại kinh nghiệm về nắm chắc địa hình, bố trí lực lượng, vận dụng chiến thuật hợp lý. Trong xây dựng thế trận phòng thủ hiện nay, kinh nghiệm này cần được phát huy để tạo nên thế trận hiểm hóc, vững chắc, đánh địch ở những nơi bất ngờ nhất, nơi ta giữ được lợi thế. Đây cũng là nhiệm vụ phải được chuẩn bị kỹ càng trong thời bình, bởi “Quân địch tiến đến chỗ nào, không thuộc địa hình, địa vật bằng dân quân Việt Nam ở chỗ đó. Chúng sẽ bị đánh úp bất ngờ”9.
Bốn là, tận dụng thời cơ, xây dựng quyết tâm chiến đấu
Chiến thắng Đắk Pơ đã thể hiện nghệ thuật chỉ huy và tính quyết đoán của Ban chỉ huy Trung đoàn 96 trên cơ sở nắm bắt thời cơ, hiểu rõ thế trận, nhận rõ điểm yếu cốt tử của địch (tinh thần đã rệu rã, hoang mang và lo sợ); nêu cao sức mạnh, ý chí quyết tâm chiến đấu dũng cảm, mưu lược của bộ đội ta. Về lý thuyết, không có chỉ huy nào mạo hiểm sử dụng hai tiểu đoàn bộ binh với trang bị vũ khí không nhiều, không mạnh để tiến công tiêu diệt cả một binh đoàn cơ động thiện chiến, lại có cả lực lượng một tiểu khu, di chuyển bằng cơ giới. Nếu nắm chắc thời cơ, tận dụng thuận lợi của địa hình cũng chỉ tiến công vào đội hình địch, gây thương vong rồi cơ động để tránh một cuộc phản ứng giải tỏa bằng máy bay, pháo binh và lực lượng cơ động ứng cứu của địch. Tuy nhiên, Ban Chỉ huy Trung đoàn 96 đã quyết tâm không chỉ tiêu diệt một bộ phận, mà là tiêu diệt toàn bộ lực lượng địch gồm sáu tiểu đoàn, đánh không hết trong ngày đầu, thì tiếp tục truy kích, tiêu diệt trong những ngày sau. Quyết tâm này thể hiện ý chí chiến đấu, không cho địch hội quân ở Pleiku vì sẽ gây khó khăn cho quá trình phát triển thắng lợi của chiến cuộc Đông-Xuân 1953-1954. Ý chí đó được xây dựng trên cơ sở sức mạnh của toàn thể cán bộ chỉ huy, chiến sĩ Trung đoàn 96, tận dụng lợi thế địa hình và thời cơ chiến lược trên toàn chiến trường Đông Dương, khi quân Pháp đang hết sức hoang mang giao động bởi sự sụp đổ của tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ, sau những thất bại liên tiếp ở các chiến trường và ngay chiến trường Tây Nguyên, địch cũng đang ở vào thế bị động, buộc phải rút quân về co cụm, nhằm tránh được thảm họa bị tiêu diệt lớn. Ban Chỉ huy Trung đoàn 96 đã tận dụng được thời cơ và thế hiểm yếu của địa hình, nhanh chóng hình thành thế trận, phát huy được sức mạnh cao nhất để dùng một lực lượng ít hơn địch đánh tan một lực lượng đối phương lớn hơn gấp nhiều lần, thực hiện thành công mệnh lệnh của Bộ Tư lệnh Liên khu V, để lại kinh nghiệm quý trong tận dụng thời cơ, xây dựng quyết tâm chiến đấu.
Vận dụng kinh nghiệm này, trong sự nghiệp xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại làm nòng cốt để xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh, chúng ta cần chú trọng đào luyện đội ngũ cán bộ chỉ huy có bản lĩnh chính trị vững vàng, phẩm chất đạo đức, lối sống trong sạch; có kinh nghiệm thực tiễn, sáng tạo, quyết đoán, dám chịu trách nhiệm, nêu cao quyết tâm cùng tập thể hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ.
Chiến thắng Đắk Pơ (6-1954) là kết quả của quá trình xây dựng lực lượng, tiến hành kháng chiến chống thực dân Pháp của quân và dân Liên Khu V. Vượt qua khó khăn của chiến trường xa Trung ương, dù không nhận được sự hỗ trợ kịp thời về nhân lực, vật lực, nhưng với tinh thần “tự lực, tự cường”, quân và dân Nam Trung Bộ đã kiên cường chiến đấu, lập nên nhiều chiến công xuất sắc, mà thắng lợi trận phục kích Đắk Pơ là một điển hình, để lại những kinh nghiệm có giá trị cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay.
