Tóm tắt: Trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng, tỉnh Cao Bằng đã được xây dựng thành căn cứ địa cách mạng vững chắc của cả nước. Cao Bằng là địa phương có vị trí thuận lợi về địa lý - quân sự và kết nối với lực lượng cách mạng từ bên ngoài lãnh thổ quốc gia; nhân dân các dân tộc có truyền thống đoàn kết, yêu nước và cách mạng; nơi có tổ chức đảng phát triển sâu rộng xuyên suốt từ khi Đảng ra đời và là địa phương thử nghiệm thành công việc xây dựng và phát triển Mặt trận Việt Minh rộng khắp. Với nhãn quan chính trị - quân sự sắc bén, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã lựa chọn Cao Bằng là nơi đặt chân về nước sau 30 năm hoạt động cách mạng ở nước ngoài. Tại địa bàn này, sau một thời gian tích cực chuẩn bị, Người đã triệu tập và chủ trì Hội nghị lần thứ Tám Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa I (5-1941) thành công với nhiều quan điểm mới, chủ trương sát hợp với tình hình trong nước và quốc tế, mở đường đưa cách mạng Việt Nam tiến lên giành thắng lợi trong Cách mạng Tháng Tám năm 1945.

Từ khóa: Nguyễn Ái Quốc; Hội nghị Trung ương 8; tầm nhìn chiến lược; tỉnh Cao Bằng.
Ngày nhận bài: 26-5-2026; Ngày thẩm định, đánh giá: 24-6-2026; Ngày duyệt đăng: 26-7-2026

1. Đặt vấn đề: Ngày 28-1-1941, sau 30 năm xa Tổ quốc, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã đặt chân về nước, tại khu vực cột mốc 108 trên biên giới Việt - Trung, thuộc xã Trường Hà, châu Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng (nay thuộc xã Trường Hà, tỉnh Cao Bằng). Người đặt nơi làm việc tại làng Pác Bó, xã Trường Hà tỉnh Cao Bằng. Việc lựa chọn Cao Bằng là nơi về nước cùng với Đảng trực tiếp lãnh đạo cách mạng Việt Nam, trước mắt là chuẩn bị các điều kiện để tổ chức thành công Hội nghị lần thứ Tám Ban Chấp hành Trung ương Đảng để bàn về nhiệm vụ giải phóng dân tộc trong bối cảnh mới đã thể hiện tầm nhìn chiến lược của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc. Đây là một quyết định có ý nghĩa lịch sử đối với cách mạng Việt Nam. Vì vậy, việc nghiên cứu làm rõ tại sao Nguyễn Ái Quốc lại chọn Cao Bằng là nơi tổ chức HNTƯ 8 (5-1941) có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc.
 
2. Phương pháp nghiên cứu
Bài viết kết hợp phương pháp lịch sử và phương pháp logic và một số phương pháp bổ trợ khác như phân tích, so sánh... Trong đó, dùng phương pháp lịch sử để khái quát tình hình quốc tế và trong nước từ cuối thập niên 30 thế kỉ XX; khái quát truyền thống yêu nước và cách mạng của nhân dân các dân tộc tỉnh Cao Bằng, đặc biệt là từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời năm 1930. Phương pháp so sánh để làm rõ, trong điều kiện thực dân Pháp tập trung lực lượng tấn công đánh phá ác liệt phong trào cách mạng trong cả nước, cơ quan Đảng ở Trung ương và hầu hết tổ chức Đảng, tổ chức cách mạng ở các địa phương bị vỡ, cán bộ, đảng viên và quần chúng tích cực bị địch bắt, tù đày thì phong trào cách mạng ở tỉnh Cao Bằng vẫn được giữ vững, củng cố và phát triển. Phương pháp phân tích để làm rõ những điều kiện thuận lợi trong việc lựa chọn căn cứ địa Cao Bằng là nơi tổ chức HNTƯ 8 (5-1941); phương pháp logic để khẳng định tầm nhìn chiến lược của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc trong việc lựa chọn Cao Bằng làm nơi tổ chức Hội nghị để bàn và quyết định những vấn đề hệ trọng của nhiệm vụ giải phóng dân tộc trong bối cảnh mới.
 
3. Kết quả nghiên cứu và thảo luận
3.1. Tình hình thế giới và Việt Nam từ cuối thập niên 30 thế kỷ XX có nhiều biến động sâu sắc
Tháng 9-1939, Chiến tranh thế giới II bùng nổ, đã làm đảo lộn tình hình thế giới, hầu hết các quốc gia đều bị tác động to lớn bởi cuộc chiến tranh này. Tại Pháp, ngày 14-6-1940 quân Đức đã chiếm được Paris. Ngày 22-6-1940, Chính phủ mới của Pháp do Phillipe Pétain đứng đầu đã buộc phải kí hiệp định đình chiến, thực chất là hiệp định “đầu hàng có điều kiện” với phát xít Đức.
Tại Đông Dương, tháng 9-1940, quân đội Nhật Bản vượt biên giới Việt - Trung tiến vào Việt Nam, thực dân Pháp nhanh chóng đầu hàng quân Nhật. Đế quốc Pháp và phát xít Nhật tạm thời câu kết với nhau thực thi những chính sách phản động, đẩy cách mạng Việt Nam vào tình thế vô cùng khó khăn.
Về chính trị, ngày 28-9-1939, Toàn quyền Đông Dương Georges Catroux ra nghị định nhằm vào Đảng Cộng sản Đông Dương và các tổ chức quần chúng do Đảng lãnh đạo: “Cấm hết thảy mọi hoạt động có tính chất trực tiếp hay gián tiếp tuyên truyền các khẩu hiệu của Quốc tế cộng sản hay những tổ chức do Quốc tế cộng sản kiểm soát. Giải tán hết thảy các hội ái hữu hay cá nhân nào có liên hệ với Đảng cộng sản, những tổ chức có hay không có liên hệ với Đảng cộng sản mà hoạt động theo khẩu hiệu của Đệ tam quốc tế cũng bị giải tán... Cấm hết thảy những đồ in, phát hành tặng hay bán hay trưng bày, những đồ in hay tranh vẽ, nói chung là cấm hết thảy những tài liệu tuyên truyền của Đệ tam quốc tế hay của các tổ chức có liên quan với Đệ tam quốc tế” (Trần Văn Giàu, 1993, tr.466-467).
Tiếp đó, ngày 17-11-1939, Toàn quyền Đông Dương ra nghị định tịch thu tài sản của Đảng Cộng sản Đông Dương. Ngày 4-1-1940, Georges Catroux tuyên bố: “Lần này chúng tôi không chờ cho mụn độc phát triển. Phải mổ nó trước khi nó phát triển. Chúng tôi đã đánh toàn diện và mau lẹ vào các tổ chức cộng sản. Chống cộng là một cuộc đấu tranh hằng ngày. Trong cuộc đấu tranh này, phải tiêu diệt cộng sản thì Đông Dương mới được yên ổn và mới trung thành với nước Pháp. Chúng tôi không có quyền không thắng. Tình thế chiến tranh buộc chúng tôi hành động không chút thương tiếc nào” (Trần Văn Giàu, 1993, tr. 465-466).
Ngày 21-1-1940, Tổng thống Pháp ban hành sắc lệnh quản thúc hoặc trục xuất khỏi nơi cư trú hoặc giam giữ trong các trại tập trung (căng) những người mà chính quyền Pháp cho là nguy hiểm đối với việc phòng vệ quốc gia hay cho an ninh công cộng.
Về kinh tế, chính quyền Nhật - Pháp đã thi hành chính sách kinh tế thời chiến: trưng thu, trưng dụng, vơ vét đến cạn kiệt tài lực, vật lực của nhân dân Việt Nam phục vụ cho cuộc chiến tranh phi nghĩa, đặc biệt là chính sách thu thóc tạ của Nhật để cung cấp lương thực, thực phẩm cho hàng vạn quân Nhật tại chỗ, cho quân đội Nhật ở các vùng lân cận, cho chính nước Nhật và dùng làm nhiên liệu cho nhà máy điện, chế biến cồn thay xăng cho xe quân sự.
Những chính sách phản động về chính trị, quân sự và kinh tế của Nhật - Pháp, đã bóp nghẹt cuộc sống của tất cả các giai cấp, tầng lớp nhân dân Việt Nam. Trước tình hình đó, sẽ diễn ra cuộc đấu tranh quyết liệt của toàn thể dân tộc Việt Nam chống lại đế quốc Pháp và phát xít Nhật để giải phóng dân tộc. Yêu cầu cấp bách đặt ra là phải có sự điều chỉnh, thay đổi chiến lược cách mạng, đưa nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu, lựa chọn địa bàn phù hợp để xây dựng căn cứ địa vững chắc, phát triển lực lượng cách mạng về mọi mặt, sẵn sáng tiến lên đánh đổ ách thống trị của thực dân, phát xít giành lại nền độc lập của dân tộc.
Ngay từ trước khi quân Nhật tiến vào Việt Nam, tại HNTƯ tháng 11-1939, Đảng đã xác định: “Bước đường sinh tồn của các dân tộc Đông Dương không còn có con đường nào khác hơn là con đường đánh đổ đế quốc Pháp, chống tất cả ách ngoại xâm vô luận da trắng hay da vàng để giành lấy giải phóng độc lập” (Đảng cộng sản Việt Nam, 2000a, tr. 536); “Sự bóc lột tàn ác của đế quốc Pháp ở Đông Dương để cung cấp cho chiến tranh sẽ làm cho dân Đông Dương ngày càng cách mệnh hóa. Cuộc cách mệnh đánh đổ đế quốc Pháp của các dân tộc Đông Dương nhất định sẽ nổ bùng” (Đảng cộng sản Việt Nam, 2000a, tr. 536-537).
Sau chủ trương này đã liên tiếp diễn ra các cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn (vùng núi tỉnh Lạng Sơn, tháng 9-1940), do một số đảng viên vừa thoát khỏi nhà tù Lạng Sơn về Bắc Sơn đã cùng Đảng bộ Bắc Sơn tổ chức; khởi nghĩa Nam Kỳ, do Xứ ủy Nam kỳ lãnh đạo (11-1940); cuộc nổi dậy của binh lính ở Rạng - Đô Lương (Nghệ An, tháng 1-1941). Tuy nhiên, các cuộc khởi nghĩa do tổ chức Đảng lãnh đạo và nổi dậy của binh lính này đã thất bại, đòi hỏi Đảng phải có chủ trương mới với những phương pháp tổ chức thực hiện sát hợp với tình hình mới đặt ra.
3.2. Lựa chọn Cao Bằng tổ chức Hội nghị Trung ương 8 (5-1941) - Tầm nhìn chiến lược của Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc
Ngày 28-1-1941, sau 30 năm xa Tổ quốc, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã đặt chân về nước. Người đặt nơi làm việc tại làng Pác Bó, xã Trường Hà, tỉnh Cao Bằng. Việc lựa chọn Cao Bằng là nơi về nước để cùng với Đảng trực tiếp lãnh đạo cách mạng Việt Nam, trước mắt là chuẩn bị mở HNTƯ 8 (5-1941) khóa I bàn về chủ trương cứu nước, giải phóng dân tộc thể hiện tầm nhìn chiến lược của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc. Đây là một quyết định có ý nghĩa lịch sử đối với cách mạng Việt Nam, điều này được thể hiện trên những mặt sau:
Thứ nhất, Cao Bằng có vị trí thuận lợi về địa lý - quân sự và kết nối với lực lượng cách mạng từ bên ngoài lãnh thổ quốc gia
Cao Bằng là tỉnh miền núi biên giới phía Bắc, phía Nam giáp tỉnh Lạng Sơn, Bắc Kạn (nay thuộc Thái Nguyên), phía Tây giáp Hà Giang, Tuyên Quang (2 tỉnh này từ 1-7-2025 là tỉnh Tuyên Quang), có đường biên giới với Trung Quốc dài hơn 300 km ở phía Đông và phía Bắc. Vị trí này thuận lợi đối với việc di chuyển qua lại sang Trung Quốc, nơi có phong trào cách mạng phát triển, có nhiều tổ chức yêu nước của người Việt Nam đang hoạt động, nhân dân hai nước Việt Nam - Trung Quốc ở vùng đường biên có quan hệ tốt đẹp. Những yếu tố này rất thuận lợi đối với việc hoạt động cách mạng, tiếp nhận những tư tưởng tiến bộ từ bên ngoài; đồng thời, có thể rút sang Trung Quốc khi bị chính quyền thực dân, phát xít và tay sai đánh phá tổ chức, truy lùng cán bộ. Mặt khác, từ Cao Bằng dễ dàng qua lại các tỉnh Lạng Sơn, Bắc Kạn, Hà Giang, Tuyên Quang để phát triển hoạt động về xuôi.   
Địa hình Cao Bằng chủ yếu là rừng núi, chiếm hơn 90% diện tích toàn tỉnh, độ cao trung bình từ 600 đến 1000 mét, nhiều khu vực bị chia cắt, núi non hiểm trở, có nhiều hang động, giao thông đi lại hết sức khó khăn, xen kẽ các dãy núi cao là những thung lũng đất đai màu mỡ thuận lợi cho việc sản xuất, phát triển kinh tế. Với vị trí, địa hình như vậy cùng với hệ thống kiểm soát của chính quyền thực dân, phát xít và tay sai có phần lỏng lẻo hơn các tỉnh đồng bằng, nên Cao Bằng tránh được thế đối đầu trực diện với địch, tạo điều kiện xây dựng và phát triển lực lượng cách mạng bao gồm cả con người và vật chất, tích lũy thế và lực lâu dài. Đây là yếu tố có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với việc xây dựng căn cứ địa cách mạng vững chắc của cả nước trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc.
Thứ hai, nhân dân các dân tộc Cao Bằng có truyền thống đoàn kết, yêu nước và cách mạng
Cao Bằng là địa bàn sinh sống của các dân tộc Tày, Nùng, Kinh, Hoa, Mông, Dao, Lô Lô,… tổng dân số của tỉnh năm 1939 là 173.460 người (Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Cao Bằng, 2003, tr.13). Nhân dân các dân tộc trên địa bàn có truyền thống đoàn kết thống nhất trong đấu tranh bảo vệ quê hương, đất nước. Trong suốt quá trình lịch sử của dân tộc, nhân dân các dân tộc Cao Bằng luôn hướng về đại gia đình các dân tộc Việt Nam quyết tâm cùng nhân dân cả nước chung lưng đấu cật, bảo vệ chủ quyền quốc gia, xây nền độc lập, sẵn sàng cầm vũ khí giáng trả bất cứ cuộc xâm lược nào từ bên ngoài. Trong quá trình đó đã sản sinh ra nhiều anh hùng hào kiệt, những tấm gương về tinh thần dũng cảm, kiên cường, bất khuất. Tinh thần yêu nước, chiến đấu vì độc lập, tự do của Tổ quốc tiếp tục được phát huy kể từ khi thực dân pháp xâm lược Việt Nam cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX dưới sự lãnh đạo của các sĩ phu yêu nước ở địa phương.
Thứ ba, Cao Bằng là địa phương có tổ chức đảng phát triển sâu rộng, xuyên suốt từ khi Đảng ra đời
Là địa phương có truyền thống đoàn kết, yêu nước và cách mạng, nên ngay từ năm 1927, đã xuất hiện Hội đánh Tây, Hội thanh niên phản đế tại nhiều nơi trên địa bàn tỉnh, như ở châu Hòa An, Hà Quảng, Quảng Uyên,… Trong đó xuất hiện nhiều tấm gương tiêu biểu cho tinh thần yêu nước và cách mạng, nổi bật là Hoàng Đình Giong, Hoàng Văn Nọn. Năm 1928, Hoàng Đình Giong và Hoàng Văn Nọn được kết nạp vào Hội Việt Nam Cách mạng thanh niên ở Long Châu (Trung Quốc). Năm 1929, chi bộ Đảng ở Long Châu (Trung Quốc) được thành lập, do Hoàng Đình Giong làm Bí thư. Chi bộ chủ trương đẩy mạnh hoạt động tuyên truyền và chỉ đạo cách mạng ở Cao Bằng và Lạng Sơn. Thực hiện chủ trương của chi bộ, Hoàng Văn Nọn trở về Cao Bằng tích cực hoạt động. Trên cơ sở đó, ngày 1-4-1930, chi bộ Đảng Cộng sản Việt Nam đầu tiên của tỉnh Cao Bằng được thành lập tại xã Hoành Tung, châu Hòa An, do Hoàng Như làm Bí thư.
Trong khi đó, trên phạm vi cả nước, sau phong trào Xô viết Nghệ - Tĩnh (1930-1931), thực dân Pháp đàn áp dã man phong trào đấu tranh của nhân dân, đánh phá khốc liệt tổ chức đảng và tổ chức quần chúng do Đảng lãnh đạo, làm cho hệ thống tổ chức đảng, tổ chức quần chúng bị tan vỡ nghiêm trọng từ Trung ương đến cơ sở. Tại nhiều địa phương, tổ chức đảng và tổ chức quần chúng không còn, cán bộ, đảng viên bị chính quyền thực dân bắt, tù đày. Tuy nhiên, riêng ở Cao Bằng, từ năm 1930 đến năm 1935 các cơ sở đảng vẫn tiếp tục được củng cố và phát triển. Nhiều chi bộ đảng mới được thành lập: tại Hòa An, chi bộ xã Phúc Tăng (tháng 6-1930), chi bộ Xuân Phách (10-1930), chi bộ mỏ thiếc Tĩnh Túc (tháng 10-1930), chi bộ xã Sóc Hà (Hà Quảng, tháng 6-1931), chi bộ xã Chí Thảo (Quảng Uyên, tháng 2-1932), chi bộ xã Vân Trình (Thạch An, tháng 2-1933), chi bộ xã Minh Tâm (năm 1935).
Đến năm 1935, tổ chức đảng trong tỉnh đã lan rộng ra khắp các châu, với tổng số hơn 70 đảng viên (Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Cao Bằng, 2003, tr.36), các cấp bộ đảng được kiện toàn, bảo đảm sự hoạt động và chỉ đạo thống nhất. Mọi hoạt động của Đảng bộ tỉnh đều dựa trên nguyên tắc bí mật, nhờ đó các cơ sở đảng được giữ vững, củng cố và phát triển không ngừng. Trong quá trình lãnh đạo, phát triển phong trào cách mạng ở địa phương, Tỉnh ủy Cao Bằng luôn chủ động đưa người sang Trung Quốc học tập, huấn luyện nghiệp vụ công tác do các tổ chức đảng của ta ở Trung Quốc tổ chức.
Song song với việc củng cố và phát triển tổ chức cơ sở đảng, Đảng bộ tỉnh Cao Bằng tích cực thành lập các tổ chức cách mạng của quần chúng như Cộng sản đoàn (cuối năm 1931, đầu 1932), hoạt động chủ yếu ở khu vực Hòa An, Hà Quảng; Công hội đỏ (1931) ở mỏ thiếc Tĩnh Túc; Nông hội đỏ (1933) ở Hòa An, sau phát triển sang Quảng Hòa, Nguyên Bình. Dưới sự lãnh đạo của tổ chức Đảng, các tổ chức cách mạng của quần chúng tích cực đấu tranh cách mạng và bảo vệ quyền lợi của giai cấp mình. Trong giai đoạn 1936-1939, phong trào đấu tranh của nhân dân trong tỉnh phát triển mạnh mẽ theo chủ trương chung của Trung ương Đảng.
Với tình hình chung của cách mạng cả nước, Cao Bằng đã trở thành cầu nối, điểm trung chuyển giữa cơ quan Trung ương của Đảng đang ở Trung Quốc với tổ chức đảng ở trong nước. Đầu năm 1932, đồng chí Lê Hồng Phong theo đường dây bí mật tới Long Châu (Trung Quốc). Tại đây, đồng chí Lê Hồng Phong đã gặp đồng chí Hoàng Đình Giong để tìm hiểu phong trào cách mạng tỉnh Cao Bằng, giúp Đảng bộ Cao Bằng mở lớp huấn luyện, đào tạo cán bộ nhằm xây dựng Cao Bằng thành căn cứ địa cách mạng, cầu nối liền giữa Ban Chỉ huy ở ngoài của Đảng với phong trào cách mạng trong nước (Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Cao Bằng, 2003, tr.40). Từ đó, nhiều cán bộ Cao Bằng lần lượt được cử đi các tỉnh miền xuôi, chắp nối liên lạc với các cơ sở trong nước, tiêu biểu là đồng chí Hoàng Đình Giong, Hoàng Văn Luận góp phần khôi phục cơ sở đảng ở trong nước những năm 1932-1935.
Ở các châu miền đông như Quảng Uyên, Thạch An, Phục Hòa của tỉnh Cao Bằng, các cơ sở quần chúng đã bí mật tổ chức dẫn đường cho cán bộ ở trong nước ra nước ngoài và đón cán bộ từ nước ngoài về nước để chỉ đạo phong trào cách mạng. Nhờ đó, các đồng chí lãnh đạo Trung ương, Xứ ủy vượt biên giới trở về căn cứ, về xuôi được an toàn. Các trạm ở 3 châu: Quảng Uyên, Thạch An, Phục Hòa đã bảo đảm giao thông liên lạc giữa Tỉnh ủy Cao Bằng với Ban chỉ huy ở ngoài của Đảng Cộng sản Đông Dương
Cuối năm 1939, đầu năm 1940, chính quyền thực dân Pháp ra sức khủng bố, đánh phá các cơ sở cách mạng ở Hòa An, Hà Quảng, Thạch An và các châu khác trong tỉnh. Trước tình hình đó, Tỉnh ủy Cao Bằng chỉ đạo rút vào hoạt động bí mật. Châu ủy Hòa An dựng một số lán bí mật trong rừng sâu. Châu Hà Quảng tập trung củng cố vùng Lục Khu - Pắc Bó - Nà Sát vốn đã có cơ sở cách mạng tương đối vững chắc. Tại đây, đã tổ chức các đội tự vệ vũ trang dưới danh nghĩa các đội phòng chống phỉ, hội đánh Tây.
Như vậy, có thể khẳng định rằng, Cao Bằng là địa phương hội đủ các yếu tố “thiên thời, địa lợi, nhân hòa” để xây dựng căn cứ cách mạng cho cả nước. Vị trí địa quân sự, ngoại giao đều thuận lợi, dễ dàng di chuyển về xuôi hoặc sang nước bạn khi cần thiết. Mặt khác, nếu bị địch tấn công đã có núi rừng, hang động bảo vệ. Trong tỉnh, hệ thống tổ chức đảng, tổ chức quần chúng cách mạng được xây dựng, củng cố vững chắc. Đội ngũ cán bộ cách mạng được trui rèn, nhiều đồng chí lãnh đạo cao cấp của Đảng là người Cao Bằng, tiêu biểu là đồng chí Hoàng Đình Giong, đồng chí Hoàng Văn Nọn. Đội ngũ cán bộ dẫn đường đưa cán bộ qua lại biên giới luôn hoàn thành tốt nhiệm vụ. Quần chúng nhân dân tin vào Đảng, tích cực tham gia các tổ chức quần chúng cách mạng.
Chính vì vậy, ngay trong quá trình về nước, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã chọn Cao Bằng làm căn cứ địa cách mạng của cả nước, chuẩn bị tổ chức HNTƯ 8 (5-1941). Đầu năm 1940, với các bí danh “Hồ Quang”, “ông Trần”, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đến Côn Minh, thủ phủ của tỉnh Vân Nam (Trung Quốc), để bắt liên lạc với các đảng viên Đảng Cộng sản Đông Dương đang hoạt động tại đây như Vũ Anh (Trịnh Đông Hải), Phùng Chí Kiên, Đặng Văn Cáp…, chuẩn bị điều kiện về nước hoạt động. Tháng 6-1940, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc (mang bí danh đồng chí Vương) bắt liên lạc và cử hai đồng chí Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp (vừa từ trong nước sang) đi học trường Quân chính của Đảng Cộng sản Trung Quốc tại Diên An. Nhưng sau khi được tin quân Đức chiếm Paris, Người đề nghị Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp chuẩn bị về nước hoạt động.
Tháng 10-1940, khi biết tin hơn 40 thanh niên Cao Bằng vượt biên giới sang Trung Quốc để tránh sự khủng bố của chính quyền thực dân, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc chỉ thị cho các đồng chí cùng hoạt động tổ chức một lớp huấn luyện cách mạng cho nhóm thanh niên này để trở về bổ sung lực lượng cho phong trào cách mạng ở Cao Bằng. Nhận thấy vị thế chiến lược quan trọng và phong trào cách mạng vững mạnh của Cao Bằng, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã quyết định chọn nơi đây để đặt cơ quan chỉ đạo phong trào cách mạng toàn quốc. Người nói: “Căn cứ địa Cao Bằng sẽ mở ra triển vọng lớn cho cách mạng nước ta. Cao Bằng có phong trào tốt từ trước, lại kề sát biên giới, lấy đó làm cơ sở liên lạc quốc tế rất thuận lợi. Nhưng từ Cao Bằng còn phải phát triển về Thái Nguyên và thông xuống nữa mới có thể tiếp xúc với toàn quốc được. Có nối phong trào được với Thái Nguyên và toàn quốc thì khi phát động đấu tranh vũ trang, lúc thuận lợi có thể tấn công, lúc khó khăn có thể giữ” (Võ Nguyên Giáp, 1977, tr.38-39).
Thứ tư, Cao Bằng là địa phương thử nghiệm thành công việc xây dựng và phát triển Mặt trận Việt Minh
Trong quá trình chuẩn bị cho HNTƯ 8, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã chủ động tiến hành thử nghiệm xây dựng Mặt trận Việt Minh để làm cơ sở cho việc triển khai rộng khắp trong cả nước. Ban đầu, Người tổ chức các Hội cứu quốc tại ba châu Hà Quảng, Hòa An, Nguyên Bình. Tại đây, Người đã mở nhiều lớp huấn luyện cho cán bộ cách mạng, trực tiếp làm giảng viên huấn luyện về cách thức tổ chức các hội cứu quốc, giảng giải về chủ trương, mục đích, điều lệ của Mặt trận Việt Minh: “Tại Pác Bó, đồng chí Nguyễn Ái Quốc liên tiếp mở nhiều lớp huấn luyện về tổ chức Mặt trận Việt Minh, về Chương trình, Điều lệ Việt Minh cho các cán bộ người Cao Bằng” (Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Cao Bằng, 2003, tr.65). Những cán bộ sau khi được huấn luyện đã tỏa về các địa phương hoạt động, phát triển phong trào Việt Minh rộng khắp. Đến tháng 4-1941, phong trào Việt Minh đã lan rộng khắp ba châu Hòa An, Hà Quảng, Nguyên Bình, thu hút tới 2.000 hội viên trong các tổ chức cứu quốc, gồm nhiều dân tộc Tày, Nùng, Kinh, Dao, Mông...; các lứa tuổi, các giới: thanh niên, phụ nữ, phụ lão, nhi đồng (Tỉnh ủy Cao Bằng, Bảo tàng Hồ Chí Minh, 2015, tr.38-39; Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Cao Bằng, 2003, tr.66). Trước sự lớn mạnh của các đoàn thể cứu quốc ở 3 châu thí điểm, tháng 4-1941, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc chỉ đạo Hội nghị cán bộ Cao Bằng tại Goọc Mu (Hà Quảng) để rút kinh nghiệm chuẩn bị phát động phong trào rộng rãi trong toàn quốc. Hội nghị đánh giá: “công tác Việt Minh ở ba châu thí điểm đạt kết quả rất cao; Chương trình, Điều lệ Việt Minh là rất rõ ràng, dễ hiểu, dễ nhớ, rất thiết thực, phù hợp với nguyện vọng của nhân dân, vì vậy có sức lôi cuốn các tầng lớp quần chúng tham gia đông đảo” (Tỉnh ủy Cao Bằng, Bảo tàng Hồ Chí Minh, 2015, tr.39-40). Việc thí điểm thành công Mặt trận Việt Minh ở Cao Bằng đã chứng tỏ đây là chủ trương đúng đắn, phù hợp với nguyên vọng của đông đảo các tầng lớp nhân dân tạo nên khối đoàn kết rộng rãi toàn dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng đấu tranh vì nền độc lập của dân tộc.
Từ những kết quả trên, HNTƯ 8 (5-1941) đã được tổ chức tại lán Khuổi Nặm làng Pác Bó thuộc châu Hà Quảng tỉnh Cao Bằng (nay là Pắc Bó, xã Trường Hà, tỉnh Cao Bằng) từ ngày 10 đến ngày 19-5-1941. Hội nghị đã thảo luận và quyết định thông qua nhiều chủ trương đặc biệt quan trọng đối với nhiệm vụ giải phóng dân tộc, trong đó có việc hoàn thiện chủ trương thay đổi chiến lược cách mạng, đưa nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu được nêu ra từ HNTƯ tháng 11-1939; thông qua chủ trương thành lập và phát triển tổ chức Việt Nam độc lập đồng minh (gọi tắt là Mặt trận Việt Minh) thay thế cho Mặt trận Dân tộc chống phát xít Pháp - Nhật, bao gồm các tổ chức quần chúng chống đế quốc lấy tên là Hội Cứu quốc trên phạm vi cả nước, tạo ra động lực cách mạng mạnh mẽ của toàn dân tộc phát triển từ Bắc đến Nam, từ miền núi đến đồng bằng; thông qua chủ trương thành lập, phát triển các tổ chức vũ trang và nửa vũ trang; chuẩn bị khởi nghĩa vũ trang, đi từ khởi nghĩa từng phần đến Tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong cả nước. Nghị quyết Hội nghị ghi rõ: “Cuộc cách mạng Đông Dương phải kết liễu bằng một cuộc khởi nghĩa vũ trang” (Đảng cộng sản Việt Nam, 2000b, tr.129). Muốn cuộc khởi nghĩa vũ trang thắng lợi phải có đủ những điều kiện khách quan và chủ quan, phải chọn đúng thời cơ cách mạng.
Việc tổ chức thành công HNTƯ 8 (5-1941) có sự đóng góp quan trọng của Đảng bộ và quần chúng cách mạng tỉnh Cao Bằng. Chính nơi đây đã tạo mọi điều kiện để Hội nghị diễn ra thuận lợi; bảo vệ, bảo đảm tuyệt đối bí mật địa điểm Hội nghị; đưa đón an toàn lãnh tụ của Đảng, các đồng chí lãnh đạo ở Trung ương từ các địa phương khác đến dự Hội nghị.
 
4. Kết luận
Việc lựa chọn Cao Bằng làm nơi xây dựng căn cứ địa cách mạng của cả nước trong cuộc đấu tranh giành độc lập trong giai đoạn 1941-1945 và là nơi tổ chức thành công HNTƯ 8 (5-1941) đã thể hiện tầm nhìn chiến lược của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc. Hội nghị đã đề ra những chủ trương phù hợp với tình hình mới ở trong nước và quốc tế, tiến tới thành công của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, đã thể hiện tầm nhìn chiến lược của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc. Điều đó thể hiện tư duy gắn lý luận với thực tiễn, những quyết sách chiến lược của Đảng được hình thành ngay trong lòng phong trào cách mạng, nơi quần chúng đang trực tiếp đấu tranh, xây dựng lực lượng và căn cứ địa cách mạng.
 
Tài liệu tham khảo
Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Cao Bằng. (2003). Lịch sử Đảng bộ Cao Bằng (1930-2000), Nxb Chính trị quốc gia
Đảng Cộng sản Việt Nam. (2000a). Văn kiện Đảng Toàn tập: Tập 6. Nxb Chính trị quốc gia,.
Đảng Cộng sản Việt Nam. (2000b). Văn kiện Đảng Toàn tập: Tập 7.  Nxb Chính trị quốc gia
Trần Văn Giàu. (1993). Sự phát triển của tư tưởng ở Việt Nam từ thế kỳ XIX đến Cách mạng Tháng Tám. Tập 3. Nxb Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh
Võ Nguyên Giáp. (1977). Những chặng đường lịch sử. Nxb Văn học
Tỉnh ủy Cao Bằng, Bảo tàng Hồ Chí Minh. (2015). Chủ tịch Hồ Chí Minh với Cao Bằng. Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật.