Tóm tắt: Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, đổi mới nội dung xây dựng nền kinh tế thể hiện rõ trong đổi mới về lựa chọn cơ cấu nền kinh tế; đổi mới cơ cấu kinh tế nhiều thành phần. Đổi mới nội dung xây dựng nền kinh tế theo tư tưởng Hồ Chí Minh có đóng góp lớn vào việc thúc đẩy nền kinh tế đất nước thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Trong giai đoạn hiện nay, Đảng đã vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về đổi mới nội dung xây dựng nền kinh tế.

Từ khóa: Tư tưởng Hồ Chí Minh; đổi mới, nội dung xây dựng nền kinh tế


Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm Nhà máy in Tiến Bộ, (14-5-1959)
 

Đổi mới là tư tưởng luôn nhất quán trong tư duy lý luận và hoạt động thực tiễn của Hồ Chí Minh. Đổi mới kinh tế theo tư tưởng Hồ Chí Minh được thể hiện xuyên suốt từ đổi mới trong mục tiêu xây dựng nền kinh tế tới nội dung và phương pháp xây dựng nền kinh tế. Mục tiêu xây dựng nền kinh tế thể hiện đặc trưng, bản chất của chế độ. Mục tiêu trong xây dựng nền kinh tế Việt Nam theo tư tưởng Hồ Chí Minh nhằm không ngừng nâng cao đời sống nhân dân, hướng tới nhân dân, tất cả vì nhân dân, sao cho mỗi người dân lao động đều được ấm no, hạnh phúc. Đây vừa là mục tiêu, đồng thời cũng là thước đo tính đúng đắn, ý nghĩa, giá trị của mỗi chính sách, biện pháp kinh tế. Từ mục tiêu đó, Hồ Chí Minh có những sáng tạo, đổi mới trong nội dung xây dựng kinh tế, mang giá trị nhân văn sâu sắc.

1. Tư tưởng Hồ Chí Minh về đổi mới nội dung xây dựng nền kinh tế

Đổi mới về lựa chọn cơ cấu cho nền kinh tế

Chủ tịch Hồ Chí Minh sớm chủ trương đưa nền kinh tế Việt Nam tiến lên CNXH, có công nghiệp và nông nghiệp hiện đại, có văn hóa và khoa học tiên tiến. Người chỉ rõ: “Công nghiệp và nông nghiệp là hai chân của nền kinh tế”1. Hai ngành này có mối quan hệ mật thiết với nhau, cùng nhau phát triển. Trong đó: “Nông nghiệp phải phát triển mạnh để cung cấp đủ lương thực cho nhân dân; cung cấp đủ nguyên liệu (như bông, mía, chè...) cho nhà máy, cung cấp đủ nông sản (như lạc, đỗ, đay...) để xuất khẩu đổi lấy máy móc. Công nghiệp phải phát triển mạnh để cung cấp đủ hàng tiêu dùng cần thiết cho nhân dân, trước hết là cho nông dân; cung cấp máy bơm nước, phân hóa học, thuốc trừ sâu... để đẩy mạnh nông nghiệp; và cung cấp dần dần máy cấy, máy bừa cho các hợp tác xã nông nghiệp”2. Nông nghiệp phát triển tạo tiền đề, là cơ sở để phát triển công nghiệp, ngược lại, công nghiệp phát triển lại thúc đẩy, nâng nông nghiệp lên một tầm cao mới với năng suất, chất lượng, hiệu quả cao hơn. Chính vì vậy, “công nghiệp và nông nghiệp phải giúp đỡ lẫn nhau và cùng nhau phát triển, như hai chân đi khoẻ và đi đều thì tiến bước sẽ nhanh và nhanh chóng đi đến mục đích”3.

Từ mối quan hệ giữa công nghiệp và nông nghiệp, Hồ Chí Minh cho rằng tất yếu sẽ dẫn tới “thực hiện liên minh công nông để xây dựng chủ nghĩa xã hội, xây dựng đời sống ấm no sung sướng cho nhân dân”4.  Đây là sự hợp tác giữa hai chủ thể trực tiếp hoạt động trong hai lĩnh vực sản xuất vật chất chủ yếu của xã hội, sự liên minh của hai chủ thể này là nền tảng của chế độ xã hội mới.

Lấy phát triển nông nghiệp và công nghiệp là hai nhiệm vụ trung tâm, thời kỳ đầu, xuất phát từ điều kiện kinh tế-xã hội của đất nước, Hồ Chí Minh xác định phải lấy nông nghiệp là mặt trận hàng đầu, là lĩnh vực chủ yếu, là cơ sở hạ tầng, nền tảng của kinh tế, nhưng với tư duy kinh tế mở, Hồ Chí Minh luôn hướng tới những thay đổi nhằm ích nước lợi dân. Trong bài viết “Con đường phía trước” (năm 1960), Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Nước ta vốn là một nước nông nghiệp lạc hậu. Đó là chỗ bắt đầu đi của chúng ta.... Nhưng công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa vẫn là mục tiêu phấn đấu chung, là con đường no ấm thật sự của nhân dân ta”; “Đó là con đường phải đi của chúng ta: Con đường công nghiệp hóa nước nhà”5. Quan điểm này thể hiện rõ tư duy đổi mới của Hồ Chí Minh. Người đã xác định công nghiệp hóa là một giai đoạn tất yếu của tiến trình đi tới XHCN. Vai trò tiến bộ của công nghiệp hóa là thúc đẩy sản xuất xã hội phát triển, giải phóng sức lao động, giải phóng con người, tạo ra những bước đột phá trong khai thác tự nhiên. Người nêu mục đích cuối cùng của công nghiệp hóa XHCN là đem lại “đời sống dồi dào”, ấm no, hạnh phúc cho nhân dân. Đây chính là bản chất xã hội của quá trình công nghiệp hóa do giai cấp công nhân lãnh đạo, là ranh giới để nhận diện công nghiệp hóa trong thời kỳ quá độ lên CNXH với công nghiệp hóa diễn ra trong điều kiện chế độ TBCN.

Sự tồn tại và khả năng tương tác giữa công nghiệp và nông nghiệp được thực hiện qua một mắt khâu trung gian, là thương nghiệp. Hồ Chí Minh khẳng định: “Về nhiệm vụ thì phải hiểu rõ trong nền kinh tế quốc dân có ba mặt quan trọng: nông nghiệp, công nghiệp, thương nghiệp. Ba mặt công tác quan hệ mật thiết với nhau. Thương nghiệp là cái khâu giữa nông nghiệp và công nghiệp... Nếu khâu thương nghiệp bị đứt thì không liên kết được nông nghiệp với công nghiệp, không củng cố được công nông liên minh. Công tác thương nghiệp không chạy thì hoạt động nông nghiệp, công nghiệp sẽ bị rời rạc”6.

Trong hoạt động thương mại, Hồ Chí Minh chú ý đến cả hai bình diện: về kinh tế, thương nghiệp thực hiện khâu phân phối lưu thông, tăng cường khả năng liên kết giữa các khu vực, ngành kinh tế, gắn sản xuất với tiêu dùng, nâng cao hiệu quả sản xuất, đáp ứng và giải quyết tốt quan hệ cung- cầu trong nội bộ nền kinh tế; về mặt xã hội, thương nghiệp góp phần củng cố khối đoàn kết xã hội, giai cấp, làm nền tảng và chỗ dựa vững chắc cho Nhà nước. Hai mặt kinh tế và xã hội thống nhất trong hoạt động thương mại, phản ánh đúng bản chất của các quan hệ kinh tế của chế độ.

Đổi mới trong xây dựng và phát triển cơ cấu kinh tế nhiều thành phần

Cơ cấu các thành phần của một nền kinh tế phụ thuộc vào sự tồn tại của các  hình thức sở hữu, các kiểu quan hệ sản xuất, vào trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, của sản xuất hàng hóa trong thời kỳ quá độ. Kế thừa quan điểm lý luận của V.I. Lênin đặc biệt là chính sách kinh tế mới (NEP), trong xây dựng kinh tế, Hồ Chí Minh đã đưa ra quan điểm sáng tạo, đổi mới trong điều kiện Việt Nam: xây dựng cơ cấu kinh tế nhiều thành phần với các hình thức sở hữu đa dạng.

Năm 1953, trong tác phẩm Thường thức chính trị, Hồ Chí Minh đã chỉ ra kinh tế nước ta (vùng tự do), lúc đó có những thành phần như sau: “Kinh tế địa chủ phong kiến bóc lột địa tô;  Kinh tế quốc doanh, có tính chất chủ nghĩa xã hội; Các hợp tác xã tiêu thụ và hợp tác xã cung cấp, có tính chất nửa chủ nghĩa xã hội; Kinh tế cá nhân của nông dân và của thủ công nghệ; Kinh tế tư bản của tư nhân;  Kinh tế tư bản quốc gia là Nhà nước hùn vốn với tư nhân để kinh doanh và do Nhà nước lãnh đạo”7.

Không chỉ nêu lên sự tồn tại khách quan của số lượng các thành phần kinh tế, Hồ Chí Minh còn chỉ ra tính ưu việt và mặt hạn chế của từng thành phần kinh tế. Theo Người, kinh tế cộng sản thì tự cung tự cấp là “thứ kinh tế lạc hậu”. Kinh tế tư bản tư nhân dù bóc lột công nhân nhưng đồng thời cũng góp phần vào xây dựng kinh tế. Hồ Chí Minh xác định vị trí, vai trò, xu hướng biến đổi của các thành phần trong một nền kinh tế quốc dân thống nhất. Điều đặc biệt là thứ tự sắp xếp các thành phần kinh tế (quốc doanh; hợp tác xã; tiểu chủ, cá thể; tư bản tư nhân; tư bản nhà nước) của Hồ Chí Minh trái ngược với V.I. Lênin, nhưng không tạo ra sự đối lập mà là một sự bổ sung hợp lý. Nếu V.I. Lênin sắp xếp các thành phần kinh tế, hình thức sở hữu theo lôgic vận động khách quan của chúng, thì Hồ Chí Minh lại căn cứ vào vai trò thực tế của từng hình thức sở hữu trong chế độ mới để sắp xếp chúng.

Xuất phát từ trình độ hiện tại của lực lượng sản xuất xã hội, Hồ Chí Minh nhìn nhận và chỉ ra các loại hình kinh tế, đồng thời cũng chỉ rõ các loại hình sở hữu tương ứng: sở hữu của Nhà nước tức là của toàn dân; sở hữu của hợp tác xã tức là sở hữu tập thể của nhân dân lao động; sở hữu của người lao động riêng lẻ; một ít tư liệu sản xuất thuộc sở hữu của nhà tư bản. Xu hướng vận động chung của các hình thức sở hữu này là “xoá bỏ các hình thức sở hữu không xã hội chủ nghĩa, làm cho nền kinh tế gồm nhiều thành phần phức tạp trở nên một nền kinh tế thuần nhất, dựa trên chế độ sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể”8.

Có thể khẳng định, Hồ Chí Minh nêu ra một cách đầy đủ và chủ trương sử dụng nền kinh tế nhiều thành phần định hướng XHCN. Trong tư tưởng của Người, nền kinh tế nhiều thành phần với các hình thức sở hữu khác nhau tồn tại lâu dài, do Đảng Cộng sản Việt Nam cầm quyền lãnh đạo.

Cùng với đường lối phát triển kinh tế nhiều thành phần, Hồ Chí Minh chỉ rõ, để phát triển kinh tế của đất nước, Đảng và Chính phủ phải thực hiện bốn chính sách mấu chốt là: “công tư đều có lợi”; “chủ thợ đều có lợi”; “công nông giúp đỡ lẫn nhau” và “lưu thông trong ngoài”9. Người đã xác định lợi ích kinh tế là hạt nhân để xác định các loại kinh tế; giải quyết đúng đắn lợi ích của các chủ thể kinh tế sẽ tạo được động lực cho nền kinh tế hoạt động có hiệu quả và phát triển đúng hướng.

2. Đảng Cộng sản Việt Nam vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh trong đổi mới nội dung xây dựng nền kinh tế

Trên nền tảng tư tưởng Hồ Chí Minh nói chung, trong đó có tư tưởng về đổi mới trong lĩnh vực kinh tế, Đảng Cộng sản Việt Nam đã từng bước đổi mới trong xây dựng mô hình tăng trưởng kinh tế đất nước hướng tới mục tiêu không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân như mong muốn lúc sinh thời của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Hội nghị Bộ Chính trị khóa V (tháng 9-1986), lần đầu tiên, Đảng Cộng sản Việt Nam đã đưa ra quan điểm đổi mới trong lĩnh vực kinh tế. Về bố trí cơ cấu kinh tế, cơ cấu đầu tư, phải lấy nông nghiệp làm mặt trận hàng đầu tạo sự phát triển công nghiệp nhẹ; phát triển có chọn lọc công nghiệp nặng; Cơ cấu kinh tế nhiều thành phần là một đặc trưng của thời kỳ quá độ lên CNXH ở nước ta; Về cơ chế quản lý kinh tế, lấy kế hoạch làm trung tâm, đồng thời phải sử dụng đúng quan hệ hàng hóa tiền tệ, dứt khoát xóa bỏ cơ chế tập trung, bao cấp, chính sách giá phải vận dụng quy luật giá trị, tiến tới thực hiện cơ chế một giá. Đây chính là cơ sở tạo sự đột phá để Đảng Cộng sản Việt Nam đưa ra đường lối đổi mới đất nước.

Tại Đại hội VI (tháng 12-1986) của Đảng đã đề ra đường lối đổi mới toàn diện đất nước trong đó có đổi mới kinh tế, tạo bước ngoặt mới trong tiến trình vận động, phát triển của nền kinh tế. Đổi mới nền kinh tế thể hiện trước hết là đổi mới cơ cấu kinh tế (cơ cấu công-nông nghiệp; cơ cấu nội bộ ngành nông nghiệp; ngành công nghiệp nhẹ và tiểu thủ công nghiệp; công nghiệp nặng và kết cấu hạ tầng; cơ cấu kinh tế huyện). Thực hiện ba chương trình kinh tế bao gồm chương trình lương thực, thực phẩm; chương trình hàng tiêu dùng; chương trình hàng xuất khẩu. Xây dựng và củng cố quan hệ sản xuất XHCN, sử dụng và cải tạo đúng đắn các thành phần kinh tế.  Đảng khẳng định chiến lược thực hiện nhất quán chính sách cơ cấu kinh tế nhiều thành phần, giải phóng mọi năng lực sản xuất, đó là vấn đề có ý nghĩa chiến lược lâu dài, có tính quy luật từ sản xuất nhỏ đi lên CNXH. Xóa bỏ kinh tế bao cấp, thực hiện cơ cấu kinh tế nhiều thành phần. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII (năm 1991), Đảng thông qua Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội, khẳng định: Phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa, vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước. Kinh tế quốc doanh và kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng của nền kinh tế quốc dân. Tư tưởng đổi mới trong phát triển kinh tế tiếp tục được Đại hội XI, Đại hội XII của Đảng khẳng định, phát triển. Đại hội XI nêu rõ: “Đổi mới mô hình tăng trưởng và cơ cấu lại nền kinh tế, nâng cao chất lượng, hiệu quả, phát triển kinh tế nhanh, bền vững”10, trong đó đặc biệt hướng tới việc đẩy mạnh CNH, HĐH, phấn đấu sớm đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại.

Về đổi mới trong xây dựng và phát triển cơ cấu kinh tế nhiều thành phần, từ Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển 2011) tới Đại hội XII của Đảng luôn nhất quán quan điểm: Phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN với nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, hình thức tổ chức kinh doanh và hình thức phân phối. Tại HNTƯ 5 khóa XII (ngày 3-6-2017), Đảng ban hành Nghị quyết “Về phát triển kinh tế tư nhân trở thành một động lực quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”.

Kế thừa tư tưởng Hồ Chí Minh trong điều kiện mới, định hướng phát triển đất nước giai đoạn 2021-2030, được Đảng ta nêu ra trong Dự thảo các văn kiện trình Đại hội XIII của Đảng, gồm 12 nội dung, về kinh tế: Hoàn thiện toàn diện, đồng bộ thể chế phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, tạo môi trường thuận lợi để huy động, phân bổ và sử dụng hiệu quả các nguồn lực. Bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô, đổi mới mạnh mẽ mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế, hiện đại hóa đất nước gắn với từng bước phát triển kinh tế số, dựa chủ yếu trên nền tảng khoa học và công nghệ, đổi mới sáng tạo, nguồn nhân lực chất lượng cao; nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế11. Đối với cơ cấu của nền kinh tế: Tiếp tục đẩy mạnh cơ cấu lại nền kinh tế. Đối với các hình thức sở hữu: Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa có nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế liên quan chặt chẽ với nhau, hợp thành nền kinh tế quốc dân thống nhất, trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, kinh tế tập thể không ngừng được củng cố, phát triển, kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng của nền kinh tế12.

Xuất phát từ đường lối đúng đắn của Đảng, trên nền tảng tư tưởng Hồ Chí Minh, sau gần 35 năm tiến hành công cuộc đổi mới, cơ cấu kinh tế của Việt Nam ngày càng dịch chuyển theo hướng CNH, HĐH, phát huy lợi thế so sánh ngành và vùng lãnh thổ, các thành phần kinh tế đặc biệt kinh tế tư nhân được tạo điều kiện phát huy tối đa năng lực và điều kiện phát triển để góp sức xây dựng, phát triển đất nước. Kinh tế Việt Nam đã đạt được những thành tựu quan trọng: Từ một nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu với 90% dân số làm nông nghiệp, Việt Nam đã xây dựng được cơ sở vật chất-kỹ thuật, hạ tầng kinh tế-xã hội từng bước đáp ứng cho sự nghiệp CNH, HĐH, tạo môi trường thu hút nguồn lực xã hội cho phát triển lâu dài, bền vững. Kinh tế Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu đáng ghi nhận, Việt Nam tiếp tục là một điểm sáng trong khu vực, toàn cầu, tiếp tục được các tổ chức quốc tế uy tín và nhiều quốc gia, đối tác đánh giá cao. Việt Nam được xếp thứ 8 trong số các nền kinh tế tốt nhất thế giới để đầu tư năm 2019, tăng 15 bậc so với năm 201813. Theo đánh giá của Diễn đàn Kinh tế Thế giới, năng lực cạnh tranh của Việt Nam cải thiện vượt bậc trên cả 3 trụ cột thể chế, cơ sở hạ tầng và kỹ năng, xếp thứ 67/141 quốc gia, vùng lãnh thổ, tăng 10 bậc so với năm 2018; tăng trưởng kinh tế đạt khá cao, năng suất lao động và chất lượng tăng trưởng tiếp tục được cải thiện; kinh tế vĩ mô ổn định vững chắc.

Thành tựu của gần 35 năm đổi mới trên mọi lĩnh vực, trong đó có đổi mới kinh tế đã đưa đất nước ta đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, phát triển mạnh mẽ, toàn diện so với những năm trước đổi mới. Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực và vị thế như ngày nay. Tuy nhiên, cũng còn nhiều khó khăn, thách thức cần kiên quyết khắc phục để phát triển nhanh và bền vững hơn.

Bài đăng trên Tạp chí Lịch sử Đảng (in) số 11/2020

1, 2. Hồ Chí Minh Toàn tập, Nxb CTQG, H, 2011, T. 13, tr. 376, 376

3, 6. Sđd, T. 12, tr. 445, 372

4. Sđd, T. 10, tr. 335

5, 7. Sđd, T.8, tr. 266, 267

8. GS Phùng Hữu Phú, GS, TS Lê Hữu Nghĩa, GS, TS Vũ Văn Hiền, PGS, TS Nguyễn Viết Thông (đồng chủ biên): Một số vấn đề lý luận - thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam qua 30 năm đổi mới, Nxb CTQG, H, 2016, tr. 184

9. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập, Nxb CTQG, H, 2007, T. 51, tr. 135

10. Đảng Cộng sản Việt Nam:Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb CTQG, H, 2011, tr. 191

11, 12. Xem “Công bố dự thảo các văn kiện Đại hội XIII của Đảng để lấy ý kiến Nhân dân” dẫn theo https://dangcongsan.vn/xay-dung-dang/cong-bo-du-thao-cac-van-kien-dai-hoi-xiii-cua-dang-de-lay-y-kien-nhan-dan-566046.html.

13. Báo cáo của Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc tại Kỳ họp thứ 8, Quốc hội khóa XIV về tình hình kinh tế-xã hội năm 2019 và kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội năm 2020, ngày 21-10-2019, http://vpcp.chinhphu.vn/Home/Toan-van-Bao-cao-do-Thu-tuong-trinh-bay-truoc-Quoc-hoi/201910/26696.vgp.