Tóm tắt: Phong cách làm việc của Chủ tịch Hồ Chí Minh là hệ thống các phương pháp, cách thức, biện pháp và thói quen mang tính khoa học và nhân văn sâu sắc; là kết tinh những giá trị tư tưởng bền vững, hành động cao đẹp, giàu sức thuyết phục và lan tỏa. Trong đó, phong cách làm việc quần chúng của Hồ Chí Minh là chuẩn mực đạo đức cao đẹp của người cán bộ cách mạng được Người hiện thực hóa trong thực tiễn lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Bài viết khái quát và làm rõ những đặc trưng cơ bản, nổi bật trong phong cách làm việc quần chúng của của Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Từ khóa: Hồ Chí Minh, phong cách làm việc quần chúng; vì nhân dân.
Ngày nhận bài: 2-9-2026; ngày thẩm định 15-9-2026; ngày duyệt đăng 10-10-2026
1. Đặt vấn đề
Phong cách làm việc quần chúng là một nội dung quan trọng trong phong cách làm việc Hồ Chí Minh, được hình thành từ tiếp thu cơ sở lý luận chủ nghĩa Mác-Lênin và kế thừa, phát triển giá trị truyền thống của dân tộc; được định hình với những nét nổi bật về gần dân, tôn trọng dân, học hỏi dân, vì lợi ích của dân, mẫu mực trước dân, được thể hiện xuyên suốt trong cuộc đời hoạt động của Hồ Chí Minh. Qua đó, tạo được mối liên hệ mật thiết, sự đồng thuận, thống nhất trong tư tưởng và hành động giữa cán bộ, đảng viên với nhân dân, giữa cấp trên với cấp dưới.
Phong cách làm việc quần chúng của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trở thành hình mẫu lý tưởng đối với cán bộ, đảng viên và nhân dân, đến nay vẫn giữ nguyên giá trị và mang tính thời sự cần được tiếp tục nghiên cứu, vận dụng. Việc nghiên cứu, học tập và thực hành phong cách làm việc quần chúng của Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ góp phần quán triệt và thực hiện Chỉ thị 07-CT/TW ngày 13-7-2026 của Bộ Chính trị về “Đẩy mạnh học tập và thực hành tư tưởng, đạo đức, phương pháp, phong cách Hồ Chí Minh trong giai đoạn phát triển mới”, mà còn trực tiếp xây dựng phong cách làm việc đối với cán bộ, đảng viên và nhân dân, nhất là đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý hiện nay.
Phương pháp nghiên cứu: Bài viết sử dụng các phương pháp nghiên cứu chính là phương pháp lịch sử - logic, phân tích - tổng hợp từ những thông tin, tài liệu, bài nói, bài viết, tác phẩm và thực tiễn hoạt động lãnh đạo, chỉ đạo cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh; các quan điểm của Đảng; công trình nghiên cứu các nhà khoa học về Người để hệ thống hóa, khái quát hóa và phân tích, luận giải làm rõ những đặc trưng cơ bản, giá trị nổi bật trong phong cách làm việc quần chúng của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Qua đó, cung cấp những luận cứ khoa học cho việc vận dụng một cách hiệu quả trong việc xây dựng phong cách làm việc đối với đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý hiện nay.
2. Kết quả nghiên cứu và thảo luận
2.1. Tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân
Tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân là một đặc trưng cơ bản của phong cách làm việc quần chúng của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đặc trưng này thể hiện ở phương pháp, cách thức làm việc tôn trọng vị trí chủ thể của nhân dân, coi trọng ý kiến, trí tuệ và sáng kiến của quần chúng; không áp đặt, bao biện, làm thay mà biết dựa vào dân, bàn bạc với dân và tạo điều kiện để dân tham gia vào sự nghiệp cách mạng.
Phong cách làm việc này được xây dựng trên nền tảng nhận thức sâu sắc và nhất quán của Chủ tịch Hồ Chí Minh về vị trí, vai trò và sức mạnh của nhân dân. Người cho rằng: “Trong bầu trời không gì quý bằng nhân dân. Trong thế giới không gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân” (Hồ Chí Minh, 2011h, tr.453); “Nước lấy dân làm gốc... Gốc có vững cây mới bền. Xây lầu thắng lợi trên nền nhân dân” (Hồ Chí Minh, 2011d, tr.501-502). Chính những quan điểm đó đã chi phối phong cách làm việc của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Tuy nhiên, nét đặc sắc trong phong cách làm việc của Người không chỉ nhận thức đúng vai trò của quần chúng nhân dân, mà quan trọng hơn là chuyển hóa nhận thức đó thành phương pháp, cách thức làm việc cụ thể, thường xuyên và nhất quán. Người luôn khẳng định quan điểm “Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng” (Hồ Chí Minh, 2011j, tr.467), cho nên mọi công việc của cách mạng phải vì dân; xác định dân là chủ, thì phải tôn trọng ý kiến và quyền của dân; nhận thức sức mạnh nằm trong nhân dân thì phải biết dựa vào dân, tổ chức và phát huy sức dân. Chính sự thống nhất giữa nhận thức và hành động đó tạo nên chiều sâu của phong cách làm việc quần chúng của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Người tôn trọng quyền làm chủ của nhân dân, đặt nhân dân ở đúng vị trí chủ thể của quyền lực nhà nước: “Nước ta là nước dân chủ, địa vị cao nhất là dân, vì dân là chủ” (Hồ Chí Minh, 2011f, tr.434). Từ nhận thức đó, Hồ Chí Minh luôn đặt mình đúng vị trí của người phục vụ nhân dân, không đứng trên dân, không xa dân, không dùng quyền lực để áp đặt đối với dân. Trong quan hệ công tác với quần chúng nhân dân, Người luôn thể hiện thái độ tôn trọng, gần gũi, chân thành; coi trọng ý kiến, nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân.
Từ phong cách làm việc quần chúng, Chủ tịch Hồ Chí Minh yêu cầu trong công việc, cán bộ phải xác định đúng vị trí của mình, quyền hạn được giao không phải để ra oai hay đứng trên nhân dân, mà để thực hiện trách nhiệm trước dân và phục vụ nhân dân. Người nhấn mạnh: “Chế độ ta là chế độ dân chủ, tức là nhân dân là người chủ, mà Chính phủ là người đày tớ trung thành của nhân dân” (Hồ Chí Minh, 2011g, tr.382). Trong công việc, cán bộ, đảng viên phải “hết lòng, hết sức phục vụ nhân dân. Phải kính yêu nhân dân. Phải thật sự tôn trọng quyền làm chủ của nhân dân” (Hồ Chí Minh, 2011i, tr.67). Phong cách làm việc của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối lập căn bản với lối làm việc quan liêu, hách dịch, mệnh lệnh và xa rời quần chúng.
Tôn trọng quyền làm chủ của quần chúng còn được thể hiện rõ ở niềm tin sâu sắc của Hồ Chí Minh đối với trí tuệ, kinh nghiệm và khả năng sáng tạo của nhân dân. Trong quá trình hoạt động cách mạng, Người không tuyệt đối hóa vai trò của người lãnh đạo, cũng không tự đặt mình ở vị trí biết hết, quyết định thay quần chúng. Trái lại, Người luôn coi thực tiễn đời sống của nhân dân là nguồn tri thức phong phú cần được lắng nghe, học hỏi và vận dụng trong quá trình giải quyết công việc. Người căn dặn: “Chúng ta phải ghi tạc vào đầu cái chân lý này: dân rất tốt. Lúc họ đã hiểu thì việc gì khó khăn mấy họ cũng làm được, hy sinh mấy họ cũng không sợ” (Hồ Chí Minh, 2011d, tr.286). Niềm tin đó được Hồ Chí Minh thể hiện nhất quán trong phong cách làm việc của mình. Người luôn tìm hiểu thực tiễn từ cơ sở, coi trọng kinh nghiệm của nhân dân, lắng nghe ý kiến từ nhiều phía và học hỏi những sáng kiến nảy sinh trong đời sống. Người yêu cầu cán bộ phải khắc phục tư tưởng tự mãn, chủ quan, không được coi thường quần chúng nhân dân hay chỉ dựa vào kinh nghiệm cá nhân để giải quyết công việc. Người cán bộ phải biết đặt mình trong thực tiễn của nhân dân, tiếp nhận và chọn lọc những kinh nghiệm, sáng kiến từ quần chúng nhân dân để nâng cao chất lượng lãnh đạo, tổ chức thực hiện nhiệm vụ. Người khẳng định: “có lực lượng dân chúng việc to tát mấy, khó khăn mấy làm cũng được. Không có, thì việc gì làm cũng không xong” (Hồ Chí Minh, 2011d, tr.335). Vì vậy, tin dân trong phong cách làm việc của Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ là sự tin tưởng mà là một phương pháp, cách thức làm việc dựa trên cơ sở khoa học và phát huy trí tuệ, kinh nghiệm, năng lực sáng tạo của nhân dân trong thực tiễn cách mạng.
2.2. Lắng nghe và thấu hiểu mong muốn, nguyện vọng của nhân dân
Lắng nghe và thấu hiểu mong muốn, nguyện vọng của nhân dân là một đặc trưng nổi bật trong phong cách làm việc của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đặc trưng này được thể hiện nhất quán trong cách Người tiếp xúc, quan sát, tìm hiểu đời sống và xử lý những vấn đề liên quan đến nhân dân. Với Chủ tịch Hồ Chí Minh, muốn làm việc đúng với dân thì trước hết phải hiểu dân; muốn hiểu dân thì phải chủ động đến với dân, nghe dân nói, quan sát thực tế đời sống của dân và từ đó nắm được tâm tư, nhu cầu, khó khăn, lợi ích cũng như những nguyện vọng chính đáng của nhân dân. Lắng nghe và thấu hiểu quần chúng nhân dân không chỉ là thái độ ứng xử mà đã trở thành một phương thức, cách thức làm việc thường xuyên của Người, giúp bám sát thực tiễn và lựa chọn cách giải quyết công việc phù hợp với nguyện vọng của nhân dân.
Trong phong cách làm việc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, lắng nghe nhân dân không phải là một thủ thuật giao tiếp hay biểu hiện mang tính lễ nghi. Người luôn coi trọng những thông tin, kinh nghiệm và sáng kiến xuất phát trực tiếp từ đời sống thực tiễn của nhân dân. Nhân dân là những người hằng ngày lao động, sản xuất, chiến đấu và trực tiếp đối diện với những vấn đề cụ thể của thực tiễn. Người viết: “nhân dân trăm tai nghìn mắt vẫn có nhiều ý kiến thông minh … công tác gì muốn làm tốt đều phải coi trọng ý kiến của nhân dân” (Hồ Chí Minh, 2011k, tr.668). Chính vì vậy, Hồ Chí Minh luôn chú ý lắng nghe, quan sát và học hỏi từ thực tế đời sống của nhân dân. Bởi theo Người, “Dân chúng biết giải quyết nhiều vấn đề một cách giản đơn, mau chóng, đầy đủ, mà những người tài giỏi, những đoàn thể to lớn, nghĩ mãi không ra” (Hồ Chí Minh, 2011d, tr.335). Từ sự tin cậy ấy, trong công việc, Người đến với dân, nghe những điều dân nói, học hỏi từ những kinh nghiệm nảy sinh trong đời sống nhân dân và lấy đó làm cơ sở để xem xét, điều chỉnh cách giải quyết cho sát với thực tế hơn.
Một nét đặc sắc trong phong cách làm việc quần chúng của Chủ tịch Hồ Chí Minh là luôn chủ động đến với quần chúng nhân dân để lắng nghe và tìm hiểu thực tế, thay vì chỉ tiếp nhận thông tin qua báo cáo, hội họp hoặc các tầng nấc trung gian. Người thường xuyên đi cơ sở, trực tiếp gặp gỡ, trò chuyện với cán bộ, chiến sĩ và nhân dân; vừa nghe, vừa quan sát, vừa đối chiếu với tình hình thực tế để nắm bắt đầy đủ hơn những vấn đề đang đặt ra. Phong cách làm việc đó thể hiện rõ sự kết hợp giữa “óc nghĩ, mắt trông, tai nghe, chân đi, miệng nói, tay làm” (Hồ Chí Minh, 2011e, tr.233-234). Trong đó, lắng nghe không tách rời việc trực tiếp đi đến thực tế, quan sát đời sống, suy xét điều đã nghe và chuyển những nhận biết đó thành hành động cụ thể. Chính sự gắn kết ấy làm cho phong cách làm việc của Người mang tính chủ động, sâu sát và thực chất.
Chủ tịch Hồ Chí Minh không dừng lại ở việc tiếp nhận những thông tin quần chúng phản ánh, mà luôn chú ý tìm hiểu hoàn cảnh cụ thể và nguyên nhân của những vấn đề đó để tìm hướng giải quyết. Người căn dặn: “Dân chúng rất khôn khéo, rất hăng hái, rất anh hùng. Vì vậy, chúng ta phải học dân chúng, phải hỏi dân chúng, phải hiểu dân chúng” (Hồ Chí Minh, 2011d, tr.333); “phải luôn luôn đi sát với dân, thân với dân, để hiểu dân và làm việc cho dân” (Hồ Chí Minh, 2011e, tr.189).
Người luôn chú ý đặt công việc trong hoàn cảnh cụ thể của từng địa bàn, từng nhóm đối tượng và từng điều kiện thực tế. Một vấn đề nhìn từ cơ quan lãnh đạo có thể hợp lý, nhưng khi đi vào đời sống lại phát sinh những khó khăn khác nhau. Chính vì thường xuyên đến cơ sở, quan sát, trò chuyện và lắng nghe nên Chủ tịch Hồ Chí Minh có điều kiện nhận biết những khoảng cách giữa chủ trương với thực tiễn, giữa yêu cầu chung với hoàn cảnh cụ thể của nhân dân. Đây là một biểu hiện rất rõ của phong cách làm việc sâu sát, thực tế và chống bệnh chủ quan.
2.3. Quan tâm chăm lo đời sống của nhân dân, lấy lợi ích của nhân dân làm mục đích phục vụ
Quan tâm, chăm lo đời sống của nhân dân, lấy lợi ích của nhân dân làm mục đích phục vụ là một biểu hiện nhất quán trong phong cách làm việc quần chúng của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Ở Người, sự quan tâm ấy không dừng lại ở tình cảm, lời nói hay những lời động viên chung chung, mà luôn được thể hiện bằng những việc làm cụ thể, thiết thực, gắn trực tiếp với đời sống hằng ngày của nhân dân. Từ những nhu cầu tối thiểu như ăn, mặc, ở, học hành, chữa bệnh đến những vấn đề lâu dài về việc làm, đời sống văn hóa, tinh thần đều được Người quan tâm thường xuyên.
Ngay từ những năm đầu hoạt động cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sớm hình thành một tư duy nhất quán: “Chúng ta đã hy sinh làm cách mệnh, thì nên làm cho đến nơi, nghĩa là làm sao cách mệnh rồi thì quyền giao cho dân chúng số nhiều, chớ để trong tay một bọn ít người. Thế mới khỏi hy sinh nhiều lần, thế dân chúng mới được hạnh phúc” (Hồ Chí Minh, 2011a, tr.292). Quan niệm ấy luôn được Người gắn với những vấn đề rất cụ thể của đời sống. Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, trong hoàn cảnh đất nước vừa giành được độc lập nhưng nhân dân còn đói rét, Người đặt ngay câu hỏi về ý nghĩa thực tế của độc lập đối với cuộc sống của dân: “Chúng ta tranh được tự do, độc lập rồi mà dân cứ chết đói, chết rét, thì tự do, độc lập cũng không làm gì. Dân chỉ biết rõ giá trị của tự do, của độc lập khi mà dân được ăn no, mặc đủ” (Hồ Chí Minh, 2011c, tr.175). Ở đây, lợi ích của nhân dân không chỉ được Người nhìn nhận một cách trừu tượng mà được đặt trong những nhu cầu rất thiết thực của đời sống.
Việc quan tâm, chăm lo đời sống của quần chúng nhân dân được Người thể hiện rất rõ, rất sớm trong giải quyết những công việc của đất nước. Sau Cách mạng Tháng Tám thành công, Người xác định nhiệm vụ cần kíp của cách mạng là giải quyết ngay những nhu cầu thiết thân nhất của nhân dân. Theo đó, trong phiên họp đầu tiên của Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa ngày 3-9-1945, Người đã chủ động đề ra 6 nhiệm vụ cấp bách cần giải quyết nhằm đáp ứng những đòi hỏi trước mắt của nhân dân, đó là chống nạn đói; chống nạn dốt và các tệ nạn xã hội khác; thực hiện tổng tuyển cử với chế độ phổ thông đầu phiếu; thực hiện cần, kiệm, liêm, chính; xoá bỏ thuế thân, thuế chợ, thuế đò; thực hiện tín ngưỡng tự do và lương giáo đoàn kết. Cách lựa chọn và sắp xếp những nhiệm vụ ấy cho thấy cả trong tư tưởng và trong cách làm việc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, giải quyết công việc lớn của quốc gia luôn gắn chặt với việc tháo gỡ những khó khăn cụ thể trong đời sống của quần chúng nhân dân. Đối với cán bộ chính quyền cách mạng các cấp, Người yêu cầu phải chú ý đến những việc rất cụ thể liên quan đến cuộc sống hằng ngày của nhân dân: “hết thảy những việc có thể nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của dân phải được ta đặc biệt chú ý” (Hồ Chí Minh, 2011c, tr. 52). Người nhìn nhận công việc rất rõ ràng, việc gì liên quan trực tiếp đến cuộc sống của dân thì không được coi nhẹ, không được trì hoãn, càng không thể chỉ quan tâm đến những việc lớn mà bỏ qua những vấn đề thiết thân của quần chúng.
Đặc điểm ấy còn thể hiện ở cách Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn xem xét công việc từ phía lợi ích thực tế của nhân dân. Bởi trong tư duy của Người: “Chính phủ nhân dân bao giờ cũng phải đặt quyền lợi dân lên trên hết thảy. Việc gì có lợi cho dân thì làm. Việc gì có hại cho dân thì phải tránh” (Hồ Chí Minh, 2011c, tr.21).
Từ tư tưởng và hành động nhất quán của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã làm nổi bật phong cách làm việc quần chúng của Người: sâu sát thực tiễn, vì mong muốn, vì nguyện vọng của nhân dân. Để giải quyết nạn đói năm 1945 - yêu cầu bức bách chất của nhân dân, Người yêu cầu Chính phủ phát động ngay phong trào “Hũ gạo cứu đói”, và bản thân người làm gương thực hiện, để góp phần gạo của mình cho đồng bào đang thiếu đói. Chính sự thống nhất giữa lời nói và việc làm ấy trong phong cách làm việc Hồ Chí Minh đã mang tính thuyết phục và nêu gương rất rõ ràng, hiệu quả. Sau năm 1954, miền Bắc bước vào thời kỳ khôi phục và xây dựng đất nước, Người đặt việc phát triển sản xuất trong mối quan hệ trực tiếp với nâng cao đời sống nhân dân: “Nhiệm vụ quan trọng bậc nhất của chúng ta hiện nay là phát triển sản xuất, để nâng cao đời sống vật chất và văn hóa của nhân dân” (Hồ Chí Minh, 2011i, tr. 68). Như vậy, trong tư tưởng và cách làm việc của Người, các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội đất nước đều xuất phát từ thực tiễn, từ nhân dân, xem xét mọi sự tác động thực tế đối với đời sống của quần chúng, nhằm mục đích phục vụ nhân dân. Đây là sự hiện thân sinh động của một phong cách làm việc thiết thực, sâu sát, nhân văn và luôn lấy con người, lấy nhân dân làm trung tâm của phát triển.
2.4. Gần gũi, giản dị, khiêm tốn và gương mẫu trước nhân dân
Gần gũi, giản dị, khiêm tốn và gương mẫu trước nhân dân là một nét nổi bật trong phong cách làm việc quần chúng của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Ở Người, những phẩm chất này không biểu hiện như một thủ pháp tạo ảnh hưởng hay một cách thức thu phục lòng người, mà được thể hiện tự nhiên, nhất quán trong cách sống, cách ứng xử và cách giải quyết công việc. Ngay cả khi giữ cương vị cao nhất của Đảng và Nhà nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn giữ lối sống giản dị, khiêm nhường và gần gũi, luôn tâm niệm là “người công bộc”, “người lính vâng lệnh quốc dân” để phục vụ nhân dân.
Gần gũi và giản dị còn được thể hiện rõ trong cách Chủ tịch Hồ Chí Minh giao tiếp với nhân dân. Người hạn chế những cách diễn đạt cầu kỳ, xa lạ, mà thường sử dụng ngôn ngữ trong sáng, mộc mạc, giàu hình ảnh và gần với cách nói hằng ngày của quần chúng. Những vấn đề lớn, phức tạp thường được Người diễn đạt bằng những câu ngắn gọn, dễ hiểu, dễ nhớ, thậm chí bằng thơ, ca dao, thành ngữ để người dân dễ tiếp nhận. Việc phổ thơ Mười chính sách của Mặt trận Việt Minh là một ví dụ cho cách diễn đạt gần gũi ấy: “Việt Nam Độc lập đồng minh. Có bản Chương trình đánh Nhật, đánh Tây. Quyết làm cho nước non này, Cờ treo độc lập, nền xây bình quyền: Làm cho con cháu Rồng, Tiên, Dân ta giữ lấy lợi quyền của ta….” (Hồ Chí Minh, 2011b, tr.242).
Phong cách giao tiếp gần gũi của Chủ tịch Hồ Chí Minh còn được thể hiện rất sinh động trong những tình huống cụ thể. Ngày 2-9-1945, khi đọc Tuyên ngôn Độc lập tại Quảng trường Ba Đình, giữa một sự kiện chính trị trọng đại, Người dừng lại hỏi đồng bào: “Tôi nói đồng bào nghe rõ không?”. Câu hỏi ngắn gọn, tự nhiên đã xóa đi khoảng cách nghi thức giữa nguyên thủ quốc gia với nhân dân, tạo nên một không khí giao tiếp trực tiếp, thân tình và bình đẳng. Chính những chi tiết như vậy làm cho phong cách của Chủ tịch Hồ Chí Minh không mang vẻ xa cách của quyền lực, mà luôn gần với đời sống và tâm lý của quần chúng. Hoặc trong quan hệ với các bậc cao niên, nhân sĩ, trí thức, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn giữ cách ứng xử đúng mực, nhã nhặn và tôn trọng. Người chú ý đến cách xưng hô, lời chào, cách đặt vấn đề sao cho phù hợp với tuổi tác, vị trí và hoàn cảnh của từng người. Trong thư gửi cụ Phùng Lục, nhân dịp cụ thọ 90 tuổi, Người sẵn sàng xưng “Cháu” và viết: “Cháu xin thay mặt Chính phủ cảm ơn cụ và trân trọng chúc cụ sống lâu và luôn luôn mạnh khoẻ...” (Hồ Chí Minh, 2011d, tr.521). Cách xưng hô ấy cho thấy sự giản dị và khiêm nhường của Hồ Chí Minh, đồng thời làm cho quan hệ giữa người đứng đầu Nhà nước với nhân dân trở nên gần gũi, tự nhiên hơn.
Sự gần gũi đó còn thể hiện rõ trong những chuyến đi cơ sở. Khi đi thăm nông dân, Người có thể bỏ dép, xắn quần, lội ruộng cùng bà con; khi thăm bộ đội hải quân, Người trực tiếp cầm lái tàu. Những hành động ấy không nhằm tạo ra hình ảnh mà xuất phát tự nhiên từ lối sống và cách ứng xử của Chủ tịch Hồ Chí Minh… Khoảng cách giữa một vị nguyên thủ quốc gia với người lao động bình thường được thu hẹp một cách rất tự nhiên.
Gần gũi, giản dị, khiêm tốn và gương mẫu ở Chủ tịch Hồ Chí Minh vì thế không phải là những phẩm chất tồn tại tách rời, mà gắn bó với nhau trong một chỉnh thể thống nhất. Sự giản dị làm cho Người dễ gần; sự khiêm tốn làm cho khoảng cách quyền lực được thu hẹp; sự gần gũi tạo điều kiện để Người hiểu dân và được dân tin; còn sự gương mẫu làm cho lời nói, yêu cầu và hành động của Người có sức thuyết phục thực tế. Chính sự kết hợp ấy tạo nên một phong cách làm việc quần chúng có sức cảm hóa sâu sắc ở Chủ tịch Hồ Chí Minh. Những biểu hiện ấy không chỉ tạo nên sức hút đặc biệt của nhân cách Hồ Chí Minh, mà còn làm cho phong cách làm việc quần chúng của Người trở nên gần gũi, dễ cảm nhận, dễ noi theo và có sức lan tỏa lâu bền trong đời sống xã hội.
3. Kết luận
Phong cách làm việc quần chúng của Chủ tịch Hồ Chí Minh là một chỉnh thể thống nhất giữa tư tưởng, đạo đức và phương pháp công tác, thể hiện sâu sắc ở việc tôn trọng, tin tưởng và phát huy quyền làm chủ, sức mạnh của nhân dân; luôn lắng nghe, thấu hiểu tâm tư, nguyện vọng và học hỏi trí tuệ của nhân dân; đồng thời, luôn quan tâm chăm lo đời sống nhân dân, lấy lợi ích của nhân dân làm mục đích phục vụ; sự gần gũi, giản dị, khiêm tốn và gương mẫu trước quần chúng... Phong cách làm việc quần chúng của Chủ tịch Hồ Chí Minh còn mang giá trị tư tưởng và phương pháp luận đặc biệt quan trọng trong chỉ đạo thực tiễn mà đội ngũ cán bộ, đảng viên của Đảng cần tích cực nghiên cứu, học tập và thực hành để nâng cao hiệu quả lãnh đạo, quản lý trong kỷ nguyên phát triển mới của dân tộc.
Tài liệu tham khảo
Hồ Chí Minh. (2011a). Toàn tập: Tập 2 (1924-1929). Nxb. Chính trị quốc gia
Hồ Chí Minh (2011b). Toàn tập: Tập 3 (1930-1945). Nxb. Chính trị quốc gia
Hồ Chí Minh (2011c). Toàn tập: Tập 4 (1945-1946). Nxb. Chính trị quốc gia
Hồ Chí Minh (2011d). Toàn tập: Tập 5 (1947-1948). Nxb. Chính trị quốc gia
Hồ Chí Minh (2011e). Toàn tập: Tập 6 (1949-1950). Nxb. Chính trị quốc gia
Hồ Chí Minh (2011f). Toàn tập: Tập 7 (1951-1952). Nxb. Chính trị quốc gia
Hồ Chí Minh (2011g). Toàn tập: Tập 9 (1954-1955). Nxb. Chính trị quốc gia
Hồ Chí Minh (2011h). Toàn tập: Tập 10 (1955-1957). Nxb. Chính trị quốc gia
Hồ Chí Minh (2011i). Toàn tập: Tập 13 (1961-1962). Nxb. Chính trị quốc gia
Hồ Chí Minh (2011j). Toàn tập: Tập 14 (1963-1965). Nxb. Chính trị quốc gia
Hồ Chí Minh (2011k). Toàn tập: Tập 15 (1966-1969). Nxb. Chính trị quốc gia.