Tóm tắt: Người có uy tín trong đồng bào dân tộc thiểu số, chức sắc, chức việc các tôn giáo là một lực lượng quần chúng đặc biệt, có vị trí, vai trò quan trọng, góp phần đắc lực giúp các cơ quan tham mưu, giúp việc của Đảng, Nhà nước tổ chức thực hiện thắng lợi các mục tiêu, nhiệm vụ đề ra. Trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam luôn coi trọng “lực lượng quần chúng” đặc biệt này nhằm phát huy tinh thần yêu nước, đoàn kết của họ, “đồng hành cùng dân tộc” đóng góp vào thắng lợi của sự nghiệp cách mạng đấu tranh giải phóng dân tộc, kháng chiến chống thực dân, đế quốc và xây dựng, phát triển đất nước.
Từ khóa: Tư tưởng Hồ Chí Minh; sự vận dụng của Đảng; người có uy tín; chức sắc, chức việc

Ngày nhận bài: 17-6-2026; ngày thẩm định đánh giá: 5-7-2026; ngày duyệt đăng: 14-7-2026

1. Đặt vấn đề
Trong suốt quá trình cùng với Đảng lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã xác định việc vận động quần chúng nhân dân, tập hợp, hướng dẫn họ đấu tranh cách mạng và xây dựng đất nước không những là mục đích mà còn là nhiệm vụ cốt yếu hàng đầu, giữ vai trò quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Trong lực lượng quần chúng đó, những người có uy tín trong đồng bào dân tộc thiểu số, chức sắc, chức việc các tôn giáo có vai trò rất quan trọng. Dưới sự lãnh đạo của các tổ chức Đảng, sự điều hành của chính quyền, sự vận động của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức thành viên, người có uy tín trong đồng bào dân tộc thiểu số, chức sắc, chức việc các tôn giáo là một trong các cầu nối giữa người dân với tổ chức Đảng, chính quyền và các tổ chức đoàn thể quần chúng. Những hoạt động của đội ngũ này có tác động rất lớn đến phong trào quần chúng ở địa phương.
Trong công cuộc đổi mới hiện nay, cả nước tập trung xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, độc lập, thống nhất, giàu đẹp, nhân dân có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, cần tiếp tục phát huy vai trò của người có uy tín trong đồng bào dân tộc thiểu số, chức sắc, chức việc các tôn giáo trong việc vận động nhân dân địa phương tích cực tham gia các phong trào thi đua yêu nước, xây dựng quê hương, bản, làng, thôn, buôn,… giàu đẹp, văn minh, xã hội ổn định.
Phương pháp nghiên cứu: Bài viết sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu, đặc biệt là phương pháp lịch sử và phương pháp logic nhằm bảo đảm tính khách quan, khoa học. Trong đó, phương pháp lịch sử được sử dụng để làm rõ những quan điểm, tư tưởng của Hồ Chí Minh về vai trò của quần chúng đối với sự nghiệp cách mạng, nhất là vai trò của những người có uy tín trong đồng bào dân tộc thiểu số, chức sắc, chức việc các tôn giáo; đồng thời làm rõ sự vận dụng của Đảng trong việc phát huy vai trò của đội ngũ này trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa hiện nay. Phương pháp logic được sử dung trong nhận định đánh giá làm rõ những kết quả, hạn chế và đúc kết những kinh nghiệm của Đảng trong quá trình đó.


Chủ tịch Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam Bùi Thị Minh Hoài thăm, chúc mừng Tòa Tổng Giám mục Tổng Giáo phận Hà Nội
và Phó Chủ tịch Hội đồng Giám mục Việt Nam Vũ Văn Thiên nhân dịp Giáng sinh 2025, ngày 19-12-2025

2. Kết quả nghiên cứu và thảo luận
2.1. Tư tưởng Hồ Chí Minh về vai trò của người có uy tín trong đồng bào dân tộc thiểu số, chức sắc, chức việc các tôn giáo trong vận động quần chúng
Trong công tác vận động quần chúng, Chủ tịch Hồ Chí Minh hiểu rất rõ vị thế của những người có uy tín trong các dân tộc thiểu số, chức sắc, chức việc các tôn giáo của người phương Đông nói chung và Việt Nam nói riêng. Người chỉ rõ: “Nói chung người phương Đông đều giàu tình cảm và đối với họ một tấm gương sống còn có giá trị hơn hàng trăm bài diễn văn tuyên truyền” (Hồ Chi Minh, 2011a, tập 1, tr.284). Những người có uy tín, chức sắc, chức việc tôn giáo… trong đời sống xã hội, bản thân và gia đình họ có lối sống giàu nhân cách; có đạo đức, có trách nhiệm với cộng đồng trong các hoạt động kinh tế - xã hội và bảo vệ môi trường tự nhiên… Vì lẽ đó, người có uy tín trong đồng bào dân tộc thiểu số, chức sắc, chức việc tôn giáo… trong văn hoá truyền thống đều được cộng đồng các dân tộc, các tôn giáo tôn vinh, kính trọng, tin yêu.
Ngay sau khi nước nhà giành được độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cùng với Đảng, Chính phủ mời nhiều người có uy tín trong các dân tộc thiểu số, các vị chức sắc các tôn giáo tham gia Chính phủ, Mặt trận, … và giữ nhiều trọng trách quan trọng như Linh mục Phạm Bá Trực - Phó Chủ tịch Thường trực Quốc hội, Nguyễn Mạnh Hà - Bộ trưởng Bộ Kinh tế, Vũ Đình Tụng - Bộ trưởng Bộ Y tế. Trong đó, Linh mục Phạm Bá Trực “là linh mục đầu tiên tham gia cách mạng và giữ chức vụ cao trong bộ máy Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Ông là Phó Chủ tịch Thường trực Quốc hội, Ủy viên Đoàn Chủ tịch Hội Liên hiệp quốc dân Việt Nam (29.5.1946), Phó Chủ tịch Mặt trận Liên Việt (7.3.1951)” (Văn phòng Quốc hội (28-12-2022).
Chủ tịch Hồ Chí Minh nhiều lần viết thư cho Giám mục Lê Hữu Từ về đoàn kết dân tộc, đoàn kết tôn giáo. Trong đó, bức thư ngày 23-3-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: “Chính phủ dự bị phái đại biểu vào miền Nam Trung Bộ để úy lạo đồng bào trong đó. Vì ở miền đó cũng có nhiều đồng bào công giáo, nên tôi muốn nhờ Cụ (Giám mục Lê Hữu Từ -BT) chọn cho một vị linh mục thân tín của Cụ cùng đi với các đại biểu của Chính phủ vào thăm đồng bào ta” (Hồ Chi Minh, 2011b, tập 4, tr.240). Người kịp thời gửi thư cám ơn Giám mục Lê Hữu Từ đã tích cực vận động nhân dân đoàn kết, tham gia kháng chiến: “Tôi được tin cụ chịu khó đi nhiều nơi, kêu gọi đồng bào lương - giáo đoàn kết, ra sức ủng hộ Chính phủ, kháng chiến cứu quốc, được nhiều kết quả. Tôi thành thật cảm ơn cụ” (Hồ Chi Minh, 2011c, tập 5, tr.106).
Không chỉ cảm ơn tinh thần yêu nước của họ, khi được tin Giám mục Hồ Ngọc Cẩn qua đời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gửi Lời chia buồn cùng đồng bào Công giáo địa phận Bùi Chu: “Tôi rất lấy làm đau đớn được tin Đức Giám mục Hồ Ngọc Cẩn đã từ trần” (Hồ Chi Minh, 2011c, tập 5, tr.657).  Ðây là một trong những cách tốt nhất để xây dựng các tổ chức cách mạng, xây dựng con người mới, cuộc sống mới, khuyến khích mọi người hăng hái làm những việc ích nước lợi nhà (Hà Huy Giáp, Hồi ký, Tư liệu Bảo tàng Hồ Chí Minh, ký hiệu H25C5/11).
Như vậy, có thể thấy tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn đoàn kết toàn dân, phát huy vai trò của người có uy tín trong đồng bào dân tộc thiểu số, chức sắc, chức việc các tôn giáo là những quan điểm về một lực lượng quần chúng đặc biệt của cách mạng; họ là những tấm gương trong gia đình, dòng họ, cộng đồng; là những người tốt có tác động tích cực đến cuộc vận động quần chúng thực hiện các mục tiêu của cách mạng Việt Nam. Đây là luận điểm cách mạng, khoa học, khách quan, mang đặc điểm tình hình văn hoá - xã hội, lịch sử của một quốc gia có bề dày lịch sử hàng ngàn năm với những cấu trúc xã hội mang dậm dấu ấn của “công xã nông thôn” và vai trò của những người tiêu biểu, mang tính “thủ lĩnh” về tinh thần, nếp sống, “tập quán pháp”… Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ ra yêu cầu phải biết khai thác, phát huy các “di sản sống đó” vào phong trào quần chúng thực hiện các nhiệm vụ, mục tiêu cách mạng đề ra. Trong đó, thực chất là phát huy vai trò người có uy tín trong đồng bào dân tộc thiểu số, chức sắc, chức việc các tôn giáo trong vận động quần chúng của Đảng; là sự vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác dân vận, trước hết là tư tưởng đại đoàn kết toàn dân tộc của Người.
Từ hoạt động thực tiễn trong phong trào giải phóng dân tộc, cách mạng thế giới và nhận thức lý luận, Hồ Chí Minh đã rút ra kết luận: “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết; Thành công, thành công, đại thành công” (Hồ Chí Minh, 2011e, tập 13, tr. 119). Tư tưởng về đại đoàn kết của Người đã được phát huy cao độ trong thực tiễn cách mạng Việt Nam, từ trong nội bộ Đảng đến toàn thể dân tộc. Người chỉ rõ: Nếu chỉ đoàn kết trong Đảng thì chưa đủ, mà Đảng còn phải “đoàn kết nhân dân cả nước” (Hồ Chí Minh, 2011e, tập 13, tr.278). Người chủ trương mở rộng khối đại đoàn kết toàn dân mà cốt lõi là liên minh công - nông, đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, không phân biệt dân tộc, tôn giáo…, miễn là người Việt Nam yêu nước, chống đế quốc, tán thành xây dựng cuộc sống ấm no, hạnh phúc. Người viết: “Chúng ta phải đoàn kết chặt chẽ các tầng lớp nhân dân..., phải đoàn kết tốt các đảng phái, các đoàn thể, các nhân sĩ trong Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, thực hiện hợp tác lâu dài, giúp đỡ lẫn nhau, cùng tiến bộ..., phải đoàn kết các dân tộc anh em, cùng nhau xây dựng Tổ quốc..., phải đoàn kết chặt chẽ giữa đồng bào lương và đồng bào tôn giáo, cùng nhau xây dựng đời sống hòa thuận ấm no, xây dựng Tổ quốc” (Hồ Chí Minh, 2011e, tập 13, tr.453-454).
Đoàn kết các tôn giáo là nền tảng tư tưởng để nhìn nhận và phát huy vai trò của các chức sắc tôn giáo đối với sự nghiệp xây dựng, bảo vệ và phát triển đất nước. Ngay từ những ngày đầu thành lập nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu rõ quan điểm và kiên trì thực hiện đoàn kết tôn giáo, đoàn kết toàn dân theo tinh thần “Đoàn kết Lương - Giáo”. Người luôn xem đồng bào các tôn giáo là một phần không thể tách rời của cộng đồng dân tộc và một lực lượng quan trọng của cách mạng. Điều đó không chỉ có tác dụng khuyến khích đồng bào các tôn giáo tích cực tham gia cách mạng, mà còn đập tan những luận điệu tuyên truyền xuyên tạc gây chia rẽ người cộng sản với đồng bào theo tôn giáo của các thế lực phản động.
Hồ Chí Minh luôn tìm và chỉ ra những giá trị đạo đức, văn hóa dân tộc với triết lý của tôn giáo để vận động, đoàn kết đồng bào theo tôn giáo đi theo cách mạng, giải phóng dân tộc, xây dựng đất nước; luôn đề cao vai trò của nhân sĩ, trí thức, chức sắc các tôn giáo. Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nhận thức đúng đắn về vai trò xã hội và đạo đức của tôn giáo đối với một bộ phận người dân. Đặc biệt, Người luôn kính trọng và ca ngợi:
“Chúa Giêsu dạy: Đạo đức là bác ái.
 Phật Thích Ca dạy: Đạo đức là từ bi.
 Khổng Tử dạy: Đạo đức là nhân nghĩa” (Hồ Chí Minh, 2011d, tr. 95).
Theo Người, Khổng Tử, Giêsu, Mác, Tôn Dật Tiên cũng có những điểm chung - đó là đều muốn mưu cầu hạnh phúc cho mọi người, mưu cầu phúc lợi cho xã hội.... Với tư tưởng đó, trong lần gặp với đại biểu các tôn giáo năm 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đề cao vai trò của tôn giáo trong công cuộc giải phóng dân tộc, bởi vì, nước không có độc lập thì tôn giáo không được tự do, nên chúng ta phải làm cho nước độc lập đã. Dân tộc giải phóng thì tôn giáo mới được giải phóng, lúc này chỉ có quốc gia mà không phân biệt tôn giáo nữa, mỗi người đều là công dân của nước Việt Nam có nhiệm vụ chiến đấu cho nền độc lập hoàn toàn của Tổ quốc.
Với tinh thần cầu thị, thái độ chân thành Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tập hợp được nhiều nhân sĩ, trí thức theo tôn giáo, trong đó có các giáo sĩ Công giáo tham gia kháng chiến, ủng hộ cách mạng. Sự có mặt của các vị nhân sĩ, trí thức, chức sắc tôn giáo...có tác dụng to lớn trong việc động viên, khích lệ người có đạo tham gia kháng chiến, kiến quốc và hạn chế việc lợi dụng tôn giáo chống phá cách mạng của các thế lực thù địch.
2.2 Quan điểm của Đảng và chính sách của Nhà nước đối với người có uy tín trong đồng bào dân tộc thiểu số, chức sắc, chức việc các tôn giáo
Vận dụng tư tưởng Chủ tịch Hồ Chí Minh về phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, Đảng đã nhận thức rõ vai trò to lớn, quan trọng của người có uy tín trong đồng bào dân tộc thiểu số, với chủ trương tăng cường, mở rộng khối đại đoàn kết toàn dân, Đại hội IX (2001) của Đảng, cụm từ “người tiêu biểu, có uy tín trong đồng bào dân tộc và ở địa phương” đã được nêu trong văn kiện của Đảng. Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng nêu rõ: “Động viên, phát huy vai trò của những người tiêu biểu, có uy tín trong dân tộc và ở địa phương” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2016a, tập 60, tr.213).
Nghị quyết số 24-NQ/TW ngày 12-3-2003 HNTƯ 7 khóa IX “về công tác dân tộc” chỉ rõ: “Có chính sách động viên, bồi dưỡng, hướng dẫn và phát huy vai trò của những người có uy tín trong đồng bào dân tộc trong việc thực hiện chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ở các địa bàn dân cư vùng dân tộc và miền núi” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2016b, tập 62, tr.54).
Đại hội X (2006) của Đảng tiếp tục khẳng định: “Củng cố và nâng cao chất lượng hệ thống chính trị ở cơ sở vùng đồng bào dân tộc thiểu số; động viên, phát huy vai trò của những người tiêu biểu trong các dân tộc” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2018, tập 65, tr.217). Năm 2015, Ban Bí thư Trung ương khóa XI ban hành Chỉ thị số 49-CT/TW ngày 20-10-2015 “về tăng cường và đổi mới công tác dân vận của Đảng ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số”, nhấn mạnh phải “đề cao và phát huy tốt vai trò của già làng, trưởng bản, người có uy tín trong đồng bào” (Ban Bí thư, 20-10-2015). Đại hội XIII (2021) của Đảng tiếp tục yêu cầu: “Chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ, Người có uy tín tiêu biểu trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2021, tập 1, tr.170).
Thực hiện chủ trương của Đảng, Nhà nước ban hành nhiều chính sách thiết thực như: Quyết định số 18/2011/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ “hỗ trợ đối với người có uy tín trong đồng bào dân tộc thiểu số”. Theo đó, người có uy tín trong đồng bào dân tộc thiểu số được cung cấp thông tin và hỗ trợ vật chất, động viên tinh thần vào các dịp Tết Nguyên đán, Tết của các dân tộc thiểu số; được thăm hỏi, hỗ trợ vật chất khi ốm đau. Ngày 7-10-2013, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 56/QĐ-TTg, “về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Quyết định số 18/2011/QĐ-TTg ngày 18 tháng 3 năm 2011 của Thủ tướng Chính phủ về chính sách đối với người có uy tín trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số”. Theo đó, hộ gia đình người có uy tín gặp khó khăn do hậu quả thiên tai; bố, mẹ, vợ, chồng, con, bản thân người có uy tín qua đời được cấp ủy, chính quyền các cấp đến thăm viếng, động viên, hỗ trợ vật chất. Người có uy tín trong quá trình thực hiện nhiệm vụ mà bị thương nếu bảo đảm các điều kiện theo quy định của pháp luật thì được hưởng chính sách như thương binh; nếu bị chết mà bảo đảm các điều kiện theo quy định của pháp luật thì được cơ quan có thẩm quyền xem xét, quyết định công nhận liệt sỹ và được hưởng các chế độ ưu đãi đối với người có công với cách mạng (Thủ tướng Chính phủ, 7-10-2013).
Ngày 6-3-2018, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 12/2018/QĐ-TTg “về tiêu chí lựa chọn, công nhận người có uy tín và chính sách đối với người có uy tín trong đồng bào dân tộc thiểu số”. Quyết định xác định tiêu chí lựa chọn người có uy tín như sau:
1) Là công dân Việt Nam, không phân biệt thành Phần dân tộc, cư trú hợp pháp tại Việt Nam; 2) Bản thân và gia đình gương mẫu chấp hành chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và các quy định của địa phương; 3) Là người tiêu biểu, có nhiều công lao, đóng góp trong các phong trào thi đua yêu nước, xóa đói giảm nghèo, bảo vệ an ninh trật tự, giữ gìn bản sắc văn hóa và đoàn kết các dân tộc; 4) Hiểu biết về văn hóa truyền thống, phong tục, tập quán dân tộc; có mối liên hệ chặt chẽ và có ảnh hưởng trong dòng họ, dân tộc và cộng đồng dân cư; 5) Có khả năng quy tụ, tập hợp đồng bào dân tộc thiểu số trong phạm vi nhất định bằng lời nói, qua việc làm, được người dân trong cộng đồng tín nhiệm, tin tưởng, nghe và làm theo” (Thủ tướng Chính phủ, 6-3-2018).
Đến ngày 23-11-2023, Thủ tướng Chính phủ tiếp tục ban hành Quyết định số 28/2023/QĐ-TTg, sửa đổi Quyết định số 12/2018/QĐ-TTg nhằm xác định tiêu chí lựa chọn người có uy tín trong đồng bào dân tộc thiểu số sát hợp với tình hình thực tế. Với những tiêu chí này cho thấy, người có uy tín trong các dân tộc thiểu số có những phẩm chất, đặc điểm: Được cộng đồng mến mộ, kính trọng, tôn vinh, suy tôn làm chỗ dựa về tinh thần và trong đời sống. Là người có vốn sống sâu rộng, bề dày kiến thức về luật tục, môi trường tự nhiên, kinh nghiệm trong sản xuất, văn hóa và nếp sống cộng đồng, xã hội, bảo vệ bản, làng, buôn, thôn; giỏi ứng xử trong hoạt động đối nội và đối ngoại liên quan đến đời sống và sinh mệnh của cộng đồng; là người gương mẫu, có đạo đức, lối sống lành mạnh, có khả năng tổ chức tốt cuộc sống gia đình của mình, có ý thức trách nhiệm giúp đỡ các thành viên khác trong cộng đồng. Khi cần họ có thể hy sinh quyền lợi của bản thân vì lợi ích của cộng đồng, cuộc sống gắn bó máu thịt với bản, làng, buôn, thôn.
Kế thừa và vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng ban hành nhiều chủ trương về công tác tôn giáo, đặc biệt là Nghị quyết số 25-NQ/TW, ngày 12-3-2003 HNTƯ 7 khóa IX “về công tác tôn giáo” đã đưa ra quan điểm: “Tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân, đang và sẽ tồn tại cùng dân tộc trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Đồng bào các tôn giáo là bộ phận của khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Thực hiện nhất quán chính sách tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, theo hoặc không theo một tôn giáo nào, quyền sinh hoạt tôn giáo bình thường theo đúng pháp luật. Các tôn giáo hoạt động trong khuôn khổ pháp luật, bình đẳng trước pháp luật” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2016b, tr.60). Quan điểm này được thể hiện cụ thể trong vấn đề theo đạo và truyền đạo “Mọi công dân đều có quyền tự do hành đạo tại gia đình và cơ sở thờ tự hợp pháp theo quy định của pháp luật. Các tổ chức tôn giáo được Nhà nước thừa nhận được hoạt động theo pháp luật và được pháp luật bảo hộ, được hoạt động tôn giáo, mở trường đào tạo chức sắc, nhà tu hành, xuất bản kinh sách và giữ gìn, sửa chữa, xây dựng cơ sở thờ tự tôn giáo của mình theo đúng quy định của pháp luật” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2016b, tr, 61-62).
Cụ thể hóa chủ trương của Đảng, Hiến pháp năm 2013 có bước tiến mới trong việc mở rộng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo. Điều 24 ghi rõ: Mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo; Nhà nước tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo. Điều 14: Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật (Quốc hội, 2013). Như vậy, các chức sắc, chức việc tôn giáo cũng được tôn trọng, công nhận và thực hiện các chức trách của mình đối với đạo và trong đời sống xã hội.
Từ nền tảng tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng đến thực tiễn hiện nay cho thấy Việt Nam luôn quan tâm chăm lo đời sống tín ngưỡng, tôn giáo của đồng bào cũng như các chức sắc, chức việc tôn giáo... Trong thực tiễn những năm qua, các hoạt động tôn giáo, lễ hội tôn giáo diễn ra quanh năm và trở thành nét đẹp văn hóa trong đời sống xã hội, như lễ Phật đản của Phật giáo và Tịnh độ Cư sĩ Phật hội; lễ Giáng sinh, Phục sinh của Công giáo, Tin lành; Tết Chôl Chnăm Thmây của đồng bào Khơmer; Tháng lễ Ramađan của cộng đồng Hồi giáo (Islam) và Ramưoăn của cộng đồng Hồi giáo Bàni.
2.3. Một số kết quả và giải pháp
Triển khai thực hiện chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước nêu trên, các cấp bộ đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị, xã hội đã tích cực, chủ động đổi mới công tác vận động, phát huy vai trò người có uy tín trong đồng bào các dân tộc thiểu số, chức sắc, chức việc các tôn giáo nhằm tập hợp, đoàn kết các dân tộc, các tôn giáo trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tổ chức định kỳ các hoạt động gặp mặt, thăm hỏi, tiếp xúc với các già làng, trưởng bản, trưởng họ tộc, người uy tín và nhân dân vùng đồng bào các dân tộc thiểu số để lắng nghe, nắm bắt tâm tư, nguyện vọng, ý kiến, kiến nghị của đồng bào các dân tộc. Đồng thời, biểu dương những điển hình tiên tiến là người dân tộc thiểu số. Đối với đồng bào có đạo, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cũng định kỳ tổ chức các hoạt động gặp mặt thăm hỏi, động viên, tiếp xúc, đối thoại với các chức sắc, nhà tu hành, chức việc tôn giáo, đặc biệt là trong các dịp lễ, sự kiện sinh hoạt, hoạt động quan trọng của tôn giáo. Phát huy các giá trị bản sắc văn hóa, truyền thống tốt đẹp của các dân tộc; giá trị văn hoá, đạo đức tốt đẹp và nguồn lực các tôn giáo trong xây dựng và phát triển đất nước, mở rộng đối ngoại nhân dân của tôn giáo. Qua đó, đồng bào các dân tộc thiểu số ngày càng phát huy tinh thần tự lực, tự chủ, có nhiều đóng góp trong phát triển kinh tế, giữ gìn, phát huy bản sắc và sự đa dạng văn hóa của các dân tộc, bảo đảm quốc phòng, an ninh, nhất là ở vùng biên giới; là lực lượng quan trọng trong xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Đời sống vật chất, tinh thần của đồng bào các dân tộc ngày càng được cải thiện.
Đồng bào tín đồ các tôn giáo luôn đồng hành cùng dân tộc, sống “tốt đời, đẹp đạo”, tích cực tham gia các cuộc vận động, các phong trào thi đua yêu nước, hoạt động an sinh xã hội, từ thiện, nhân đạo, phát huy những giá trị văn hoá, tinh thần tốt đẹp trong đời sống tín ngưỡng, tôn giáo, góp phần bảo vệ, xây dựng, phát triển đất nước.
Tuy nhiên, việc phát huy vai trò của người có uy tín trong các dân tộc thiểu số, chức sắc, chức việc các tôn giáo ở nhiều nơi còn hạn chế. Việc quán triệt và triển khai thực hiện các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước một số nơi chưa kịp thời, hiệu quả thấp; thực hiện Quy chế dân chủ cơ sở nhiều nơi còn hình thức; chênh lệch giàu nghèo giữa các vùng và các dân tộc ngày càng lớn. Cán bộ người dân tộc thiểu số nhìn chung thiếu và yếu.
Để tiếp tục phát huy vai trò người có uy tín trong đồng bào dân tộc thiểu số, chức sắc, chức việc các tôn giáo trong thời gian tới cần thực hiện đồng bộ các giải pháp sau:
Thứ nhất, các cấp bộ đảng chính quyền các cấp cần tiếp tục nghiên cứu, vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác dân vận, nhằm tập hợp, xây dựng được khối đại đoàn kết dân tộc - tôn giáo, phát huy sức mạnh của toàn dân, thực hiện thắng lợi đường lối đổi mới của Đảng, xây dựng nước Việt Nam hòa bình, độc lập, mạnh giàu, nhân dân có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc.
Thứ hai, đẩy mạnh thể chế hóa cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ”, bảo đảm nguyên tắc mọi chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước phải xuất phát từ lợi ích và nguyện vọng chính đáng của nhân dân; đổi mới nội dung và hình thức lấy ý kiến các tầng lớp nhân dân tham gia xây dựng Đảng, chính quyền, làm tốt hơn nữa chính sách đối với các thành phần xã hội đặc thù, có ảnh hưởng và tác động quan trọng đến công tác vận động quần chúng như người có uy tín trong đồng bào dân tộc thiểu số, chức sắc, chức việc tôn giáo…nhằm thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển kinh tế-xã hội, thực hiện công bằng xã hội, bình đẳng giới.
  Thứ ba, đẩy mạnh thực hiện phong trào thi đua “Dân vận khéo” gắn với việc “Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh” và các phong trào thi đua yêu nước do các cấp, các ngành phát động. Thực hiện tốt công tác khen thưởng, nhân rộng các điển hình tiên tiến, trong đó có phát huy vai trò, tôn vinh những người có uy tín, chức sắc, chức việc các tôn giáo… thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia, các mục tiêu công bằng xã hội và bình đẳng giới của các cấp, các ngành ở cấp quốc gia và địa phương.
3. Kết luận
Trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nhấn mạnh vai trò đặc biệt quan trọng của đoàn kết, nhất là đoàn kết trong Đảng, đoàn kết dân tộc, tạo nên sức mạnh thực hiện thành công các nhiệm vụ cách mạng đề ra. Để củng cố khối đại đoàn kết dân tộc, mỗi địa bàn dân cư cần phát huy vai trò của người có uy tín trong đồng bào dân tộc thiểu số, chức sắc, chức việc các tôn giáo trong các phong trào thi đua yêu nước. Vận dựng tư tưởng của Người, trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng luôn quán triệt thực hiện công tác vận động quần chúng, tôn trọng phát huy vai trò của những người có uy tín trong đồng bào dân tộc thiểu số, chức sắc, chức việc các tôn giáo. Qua đó, Việt Nam một quốc gia đa dân tộc, đa tôn giáo đã xây dựng, củng cố vững chắc khối đại đoàn kết toàn dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng thực hiện thắng lợi cuộc cách mạng đấu tranh giải phóng dân tộc, kháng chiến chống thực dân, đế quốc trước đây cũng như trong công cuộc đổi mới hiện nay.
 
Tài liệu tham khảo
Ban Bí thư Trung ương. (2015). Về tăng cường và đổi mới công tác dân vận của đảng ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số, https://thuvienphapluat.vn/van-ban/Van-hoa-Xa-hoi/Chi-thi-49-CT-TW-tang-cuong-doi-moi-cong-tac-dan-van-cua-Dang-o-vung-dong-bao-dan-toc-thieu-so-2015-293742.aspx
Đảng Cộng sản Việt Nam. (2016a). Văn kiện Đảng Toàn tập: Tập 60. Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật)
Đảng Cộng sản Việt Nam. (2016b). Văn kiện Đảng Toàn tập: Tập 62. Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật
 Đảng Cộng sản Việt Nam. (2018). Văn kiện Đảng Toàn tập: Tập 65. Nxb Chính trị quốc gia Sự thật
Đảng Cộng sản Việt Nam (2021). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII: Tập 1. Nxb Chính trị quốc gia Sự thật
Hà Huy Giáp. Hồi ký: Kho Tư liệu Bảo tàng Hồ Chí Minh, ký hiệu H25C5/11
Hồ Chi Minh. (2011a). Toàn tập: Tập 1. Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật
Hồ Chi Minh. (2011b). Toàn tập: Tập 4. Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật
Hồ Chi Minh. (2011c). Toàn tập: Tập 5. Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật
Hồ Chí Minh. (2011d). Toàn tập: Tập 7. Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật
Hồ Chi Minh. (2011e). Toàn tập: Tập 13. Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật
Quốc hội. (2013). Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam,  https://thuvienphapluat.vn/van-ban/Bo-may-hanh-chinh/Hien-phap-nam-2013-215627.aspx
9. Thủ tướng Chính phủ. (2013). Về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của quyết định số 18/2011/qđ-ttg ngày 18 tháng 3 năm 2011 của thủ tướng chính phủ về chính sách đối với người có uy tín trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số, https://luatvietnam.vn/chinh-sach/quyet-dinh-56-2013-qd-ttg-thu-tuong-chinh-phu-81840-d1.html
10. Thủ tướng Chính phủ. (2018). “về tiêu chí lựa chọn, công nhận người có uy tín và chính sách đối với người có uy tín trong đồng bào dân tộc thiểu số”, https://thuvienphapluat.vn/van-ban/Van-hoa-Xa-hoi/Quyet-dinh-12-2018-QD-TTg-tieu-chi-lua-chon-cong-nhan-nguoi-co-uy-tin-trong-dong-bao-dan-toc-376269.aspx
Văn phòng Quốc hội: Đại biểu nhân dân .(28-12-2022). Linh mục Phạm Bá Trực: Bậc nhân sĩ “tận tụy ái quốc”, https://daibieunhandan.vn/linh-muc-pham-ba-truc-bac-nhan-si-tan-tuy-ai-quoc-10300494.html