Tóm tắt: Lý luận và thực tiễn về Đảng Cộng sản Việt Nam cầm quyền đã được bàn tới cách đây gần 80 năm nhưng vẫn là vấn đề thời sự nóng hổi, luôn chứa đựng những điểm mới. Trong công cuộc đổi mới xây dựng và phát triển đất nước hiện nay càng đòi hỏi phải làm rõ những nội dung của vấn đề Đảng cầm quyền. Bài viết phân tích làm rõ hai nội dung lớn: Một là, Hồ Chí Minh trăn trở về Đảng khi nắm chính quyền; Hai là, một số giải pháp xây dựng Đảng cầm quyền theo tư tưởng Hồ Chí Minh.

1. Hồ Chí Minh trăn trở về Đảng khi nắm chính quyền
Hồ Chí Minh quan tâm sớm, xuyên suốt đến tận cuối đời vấn đề Đảng cầm quyền. Trong quá trình chuẩn bị thành lập Đảng, ngay từ những bài giảng đầu tiên cho lớp thanh niên yêu nước Việt Nam, khi nói về Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917, Người đã nhắc tới Đảng cầm quyền: “Đảng Cộng sản cầm quyền, tổ chức ra Chính phủ công, nông, binh, phát đất ruộng cho dân cày, giao công xưởng cho thợ thuyền, không bắt dân đi chết cho tư bản và đế quốc chủ nghĩa nữa, ra sức tổ chức kinh tế mới, để thực hành chủ nghĩa thế giới đại đồng”1.
Hai năm sau khi Đảng Cộng sản Việt Nam trở thành Đảng cầm quyền và cuộc kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp bùng nổ chưa đầy một năm, phát hiện ra nhiều vấn đề bất cập trong phương pháp và cách thức làm việc của đội ngũ cán bộ Đảng, chính quyền, Hồ Chí Minh viết tác phẩm Sửa đổi lối làm việc (1947). Đây là tác phẩm Hồ Chí Minh viết về Đảng cầm quyền, ghi nhận những mặt làm được và tập trung chỉ ra những hạn chế trong cách lãnh đạo, tổ chức, làm việc; về tư tưởng, đạo đức, lối sống; về thói ba hoa,... làm tài liệu học tập, giáo dục cán bộ, đảng viên nhằm sửa chữa và tẩy sạch các khuyết điểm, để cho công việc mau tiến bộ, hoàn thành nhiệm vụ Đảng và nhân dân giao phó.
Từ năm 1965 đến năm 1969, chuẩn bị cho chuyến “đi xa”, trong Di chúc, khi viết những lời để lại cho toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, lần đầu tiên Hồ Chí Minh dùng cụm từ “Đảng ta là một Đảng cầm quyền”. Liên quan tới Đảng cầm quyền, năm 1965, Người viết “trước hết nói về Đảng” tức trước hết nói về sứ mệnh, bổn phận của bộ tham mưu, đội tiên phong của giai cấp, dân tộc và trách nhiệm của từng đảng viên, những người phải “đi trước” để “làng nước theo sau”. Năm 1968, Hồ Chí Minh viết “việc cần phải làm trước tiên là chỉnh đốn lại Đảng” cho thấy tầm nhìn xa, tiên liệu của Người về bước nhảy vọt và những diễn biến phức tạp của tình hình đất nước sau khi cuộc chống Mỹ, cứu nước hoàn toàn thắng lợi. Chỉnh đốn lại Đảng là việc cần phải làm trước tiên, vì đây là công việc hết sức quan trọng và cần thiết. Xây dựng lại đất nước ta đẹp đẽ, đàng hoàng hơn, to đẹp hơn trước chiến tranh là một việc cực kỳ to lớn, nặng nề, phức tạp, khó khăn; một cuộc chiến đấu khổng lồ chống lại những gì đã cũ kỹ, hư hỏng, để tạo ra những cái mới mẻ, tốt tươi cần phải có sự lãnh đạo đúng đắn, sáng suốt của Đảng
Hồ Chí Minh trăn trở về Đảng cầm quyền. Đảng chưa cầm quyền và cầm quyền là hai nấc thang, hai trình độ khác nhau với nhiều vấn đề đặt ra cần phải giải quyết, nếu không là nguy cơ và tai họa. Khi chưa cầm quyền thì Đảng lãnh đạo toàn dân xóa bỏ chế độ áp bức bóc lột để giành chính quyền về tay nhân dân. Khi Đảng cầm quyền thì Đảng lãnh đạo xây dựng, kiến thiết đất nước, đưa dân tộc sánh vai với các cường quốc năm châu. Điều đó cho thấy Đảng cầm quyền cùng với vinh quang là sứ mệnh lớn lao.
Khi Đảng trở thành Đảng cầm quyền, câu chuyện không bó hẹp trong nội bộ Đảng như thời kỳ chưa cầm quyền, mà Đảng phải chịu trách nhiệm với mọi an nguy của Tổ quốc và dân tộc; phải thực hiện không chỉ giữ vững độc lập cho dân tộc mà còn phải bảo đảm tự do, hạnh phúc cho nhân dân, tức độc lập dân tộc và CNXH. Mọi hoạt động của Đảng và đảng viên trên tất cả các mặt về đường lối, chính sách, tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống trên hai phương diện đúng sai, hay dở đều liên quan tới sự chuyển động, định hình, định hướng phát triển của xã hội và đất nước.
Một trong những quan tâm lớn nhất của Hồ Chí Minh là giải quyết mối quan hệ giữa quyền lực và đạo đức; quyền lực và ý thức trách nhiệm với Tổ quốc và nhân dân. Mọi sự hủ bại, hủ hóa cơ bản là khuyết tật bẩm sinh của quyền lực. Quyền lực có xu hướng tha hóa. Quyền lực tuyệt đối, tha hóa tuyệt đối. Trong hoàn cảnh mới, Đảng lãnh đạo chính quyền đem lại mặt tích cực, thuận lợi, sự thăng hoa cho Đảng, nhưng cầm quyền cũng là mảnh đất màu mỡ cho những thói hư tật xấu nảy sinh như tham nhũng, lãng phí, quan liêu. Hồ Chí Minh viết: “cán bộ các cơ quan, các đoàn thể, cấp cao thì quyền to, cấp thấp thì quyền nhỏ. Dù to hay nhỏ, có quyền mà thiếu lương tâm là có dịp đục khoét, có dịp ăn của đút, có dịp “dĩ công vi tư”2.
Khác với thời kỳ Đảng lãnh đạo quần chúng đấu tranh giành chính quyền, trong thời kỳ Đảng có chính quyền trong tay, một vấn đề đặt ra là phải giải quyết mâu thuẫn giữa người lãnh đạo là cán bộ, đảng viên và người bị lãnh đạo là quần chúng nhân dân; giữa lợi ích toàn thể và lợi ích bộ phận. Theo Hồ Chí Minh, “có những cán bộ chỉ thấy lợi ích bộ phận của mình, không thấy lợi ích của toàn thể, muốn đem lợi ích của toàn thể phục tùng lợi ích của bộ phận mình... Thế là chỉ biết có mình, chỉ biết có bộ phận mình mà quên cả Đảng”3. Là Đảng cầm quyền, muốn lãnh đạo đúng và quyết định mọi vấn đề chính xác thì phải hiểu dân chúng, vì “dân chúng chính là những người chịu đựng cái kết quả của sự lãnh đạo của ta”4. Nhận thức rõ những điều trên để thấy rằng quyền lực càng tăng thì ý thức phục vụ Tổ quốc và nhân dân cũng phải tăng. Cán bộ, đảng viên phải thực hành chữ “liêm” mới thoát khỏi thân phận tù binh của quyền lực.
Khi Đảng nắm chính quyền, nhiệm vụ quan trọng nhất là giữ vững chính quyền và xây cuộc sống mới tươi đẹp. Từ đây phải giải quyết mối quan hệ giữa văn hóa và kinh tế, chính trị. Đảng cầm quyền phải có một đường lối chính trị đúng đắn, sáng suốt. Kinh tế phải phát triển mới có CNXH. Nhưng nếu văn hóa không tương ứng với sự phát triển kinh tế và chính trị, cũng không thể gọi là CNXH. Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Văn hóa, nghệ thuật cũng như mọi hoạt động khác, không thể đứng ngoài, mà phải ở trong kinh tế và chính trị”5. Trong hoàn cảnh nước ta vừa thoát khỏi bóng đêm của chế độ thực dân thì văn hóa đóng một vai trò hết sức quan trọng trong việc cải biến nước Việt Nam lạc hậu thành một nước tiên tiến. Hồ Chí Minh nói: “Có lẽ cần phải để lên hàng đầu những cố gắng của chúng tôi nhằm phát triển văn hóa. Chủ nghĩa thực dân đã kìm hãm nhân dân chúng tôi trong vòng ngu muội để chúng dễ áp bức. Nền văn hóa nảy nở hiện thời là điều kiện cho nhân dân chúng tôi tiến bộ”6. Theo Người, văn hóa không phải chỉ đặt lên hàng đầu, mà còn phải “vào sâu trong tâm lý quốc dân, nghĩa là văn hóa phải sửa đổi được tham nhũng, được lười biếng, phù hoa, xa xỉ. Tâm lý của ta lại muốn lấy tự do độc lập làm gốc. Văn hóa phải làm thế nào cho ai cũng có lý tưởng tự chủ, độc lập, tự do. Đồng thời, văn hóa phải làm thế nào cho quốc dân có tinh thần vì nước quên mình, vì lợi ích chung mà quên lợi ích riêng mình... Văn hóa phải soi đường cho quốc dân đi... Văn hóa lãnh đạo quốc dân để thực hiện độc lập, tự cường, tự chủ”7.
Trong bối cảnh mới, điều kiện mới, Đảng phải đổi mới một cách quyết liệt, triệt để mọi mặt từ lối làm việc cho đến chiến lược kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội. Đảng phải chống lại những thói hư, tật xấu, đồng thời phải bổ sung, vun bồi những phẩm chất mới về tri thức, phương cách làm việc, đạo đức, dân chủ, đặc biệt là gắn bó mật thiết với nhân dân, hiểu dân, học dân, hỏi dân là những thuộc tính của Đảng cầm quyền. Cắt nghĩa điều này, Hồ Chí Minh viết: “người lãnh đạo không nên kiêu ngạo, mà nên hiểu thấu. Sự hiểu biết và kinh nghiệm của mình cũng chưa đủ cho sự lãnh đạo đúng đắn. Vì vậy, ngoài kinh nghiệm của mình, người lãnh đạo còn phải dùng kinh nghiệm của đảng viên, của dân chúng, để thêm cho kinh nghiệm của mình. Nghĩa là một giây, một phút cũng không thể giảm bớt mối liên hệ giữa ta và dân chúng. Nghĩa là phải lắng tai nghe ý kiến của đảng viên, của nhân dân, của những người “không quan trọng”8. Đảng không gắn bó chặt chẽ với dân chúng thì không những không gánh vác nổi sứ mệnh vẻ vang, cực kỳ nặng nề, mà “cũng như đứng lơ lửng giữa trời, nhất định thất bại”9.
Trong điều kiện Đảng cầm quyền, làm rõ vai trò từng thành tố và giải quyết mối quan hệ giữa Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ là một vấn đề lớn, rất quan trọng. Bởi vì giải quyết tốt vấn đề này thì bảo đảm được vai trò lãnh đạo của một Đảng duy nhất cầm quyền, phát huy được dân chủ, tránh được bệnh chuyên quyền, độc đoán của Đảng. Về Đảng, Hồ Chí Minh chỉ rõ: Thành công của Đảng ta là ở nơi Đảng ta đã tổ chức và phát huy lực lượng cách mạng vô tận của nhân dân, đã lãnh đạo nhân dân phấn đấu dưới lá cờ tất thắng của chủ nghĩa Mác - Lênin”10. Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng, nhưng quần chúng đòi hỏi sự lãnh đạo của Đảng. Không có nhân dân thì Đảng không đủ lực lượng; không có Đảng thì nhân dân không ai dẫn đường. Vai trò của Đảng thể hiện rõ ở việc “đoàn kết, tổ chức và lãnh đạo nhân dân ta hăng hái đấu tranh tiến từ thắng lợi này đến thắng lợi khác”11.
Hồ Chí Minh khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng cầm quyền; Đảng không phải là cơ quan quyền lực Nhà nước, không có chức năng quản lý của Nhà nước. Nhà nước là của dân, do dân, vì dân, chịu sự lãnh đạo của Đảng, có chức năng quản lý và phục vụ dân chúng. Nhân dân giữ vai trò là nguồn gốc quyền lực nhà nước, nguồn gốc sức mạnh của Đảng. Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý không phải là mục tiêu, mà là kiến trúc sư, phương tiện để nhân dân làm chủ và phát huy động lực làm chủ của nhân dân. Nhân dân làm chủ mới là mục tiêu, động lực của công cuộc xây dựng đất nước. Nhân dân đòi hỏi sự quản lý của Nhà nước và sự lãnh đạo của Đảng; quyết định hiệu quả, năng lực lãnh đạo của Đảng và hiệu lực quản lý của Nhà nước.
 
2. Một số giải pháp xây dựng Đảng cầm quyền theo tư tưởng Hồ Chí Minh
Các nghị quyết của Đảng như NQTƯ 4 khóa XI (2012), NQTƯ 4 khóa XII (2016) về xây dựng Đảng và Kết luận 21-KL/TW ngày 25-10-2021 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII “Về đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” nêu nhiều nhiệm vụ, giải pháp xây dựng, chỉnh đốn Đảng, trong đó tập trung vào ba giải pháp lớn gắn với tư tưởng Hồ Chí Minh.
Thứ nhất, tăng cường giáo dục chính trị, tư tưởng.
Đây là giải pháp hàng đầu, xuyên suốt, thực hiện không ngừng, không nghỉ, vì giáo dục là biện pháp giúp con người hoàn thiện nhân cách, giúp cán bộ, đảng viên kiên định lập trường và tư tưởng cách mạng. Cán bộ, đảng viên không được cập nhật kiến thức mới, tư duy mới sẽ cảm thấy “bơ vơ”, thậm chí hoang mang, dao động trước những biến đổi nhanh chóng, khó lường của tình hình thế giới và sự xuyên tạc của các thế lực phản động, thù địch.
Trong giáo dục hiện nay có những nội dung mới như nhiệm vụ của cán bộ, đảng viên trong tình hình mới; đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIII và các nghị quyết của Đảng. Có những nội dung không mới như chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đạo đức cách mạng, nhưng phải được làm mới ở cách tiếp cận, đặc biệt gắn với diễn biến của tình hình thế giới và đất nước trên cái nền của những giá trị bền vững đã được thực tiễn kiểm nghiệm hoàn toàn đúng đắn.
Bàn về tính khoa học và cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng viết: “Nó sẽ còn tiếp tục phát triển và có sức sống trong thực tiễn cách mạng cũng như trong thực tiễn phát triển của khoa học. Chúng ta cần tiếp thu, bổ sung một cách có chọn lọc trên tinh thần phê phán và sáng tạo những thành tựu mới nhất về tư tưởng và khoa học để chủ nghĩa, học thuyết của chúng ta luôn luôn tươi mới, luôn luôn được tiếp thêm sinh lực mới, mang hơi thở của thời đại, không rơi vào xơ cứng, trì trệ, lạc hậu so với cuộc sống”12.
Tăng cường giáo dục là cách tốt nhất để thiết lập nền tảng tư tưởng chính trị, lý luận với ý nghĩa là kim chỉ nam cho hành động của Đảng và cán bộ, đảng viên. Giáo dục chính trị, tư tưởng nhằm thống nhất ý chí, hành động và tổ chức của Đảng, tạo nền, gốc cho sự nghiệp đổi mới.
Thứ hai, cán bộ, đảng viên phải tự phê bình và phê bình, tu dưỡng, nêu gương.
Là đảng viên, cán bộ ai cũng hiểu tự phê bình và phê bình là nguyên tắc, một vũ khí sắc bén trong công tác xây dựng Đảng, là quy luật phát triển Đảng. Diễn đạt một cách mộc mạc, cụ thể hơn, Hồ Chí Minh cho rằng tự phê bình và phê bình là thang thuốc hay nhất để chữa các bệnh trong Đảng. Điều đó cho thấy tự phê bình và phê bình có ý nghĩa và tầm quan trọng lớn lao. 
Những bài học kinh nghiệm của Đảng trong việc tự phê bình và phê bình, nhất là quan điểm “tự chỉ trích” của Hồ Chí Minh và Nguyễn Văn Cừ; quan điểm “nhìn thẳng vào sự thật, nói rõ sự thật, đánh giá đúng sự thật” của Đảng trong thời kỳ đổi mới cần được quán triệt sâu rộng trong tình hình hiện nay. Những chỉ dẫn của Hồ Chí Minh đối với cán bộ, đảng viên về tự phê bình như việc rửa mặt hằng ngày chính là tinh thần “tự soi, tự sửa” mà Đảng đang chỉ đạo thực hiện theo tinh thần Đại hội XIII. Không “tự soi” thì không biết được bệnh trong người hoặc biết bệnh mà không chữa thì “không chết “cũng la lết quả dưa”13.
Điều quan trọng trong tự phê bình và phê bình theo chỉ dẫn của Hồ Chí Minh và Đảng ta là phải “có gan”, “cả gan”, “có dũng khí”, “dám”. Đối với cán bộ, đảng viên, Hồ Chí Minh cho rằng: “Chúng ta không sợ có sai lầm và khuyết điểm, chỉ sợ không chịu cố gắng sửa chữa sai lầm và khuyết điểm”14. Nói về Đảng, Người chỉ rõ: “một Đảng mà giấu giếm khuyết điểm của mình là một Đảng hỏng. Một Đảng có gan thừa nhận khuyết điểm của mình, vạch rõ những cái đó, vì đâu mà có khuyết điểm đó, xét rõ hoàn cảnh sinh ra khuyết điểm đó, rồi tìm kiếm mọi cách để sửa chữa khuyết điểm đó. Như thế là một Đảng tiến bộ, mạnh dạn, chắc chắn, chân chính”15. Trong Văn kiện Đại hội XIII của Đảng đề cập việc xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm là một minh chứng rõ ràng về giá trị tư tưởng Hồ Chí Minh về bản lĩnh trong tự phê bình và phê bình.
Tu dưỡng, nêu gương có nhiều cách, trong đó tự phê bình là một cách làm hiệu quả, vì qua tự phê bình, tự soi mình sẽ biết được mặt mạnh, mặt yếu của mình để tự sửa. Tuy nhiên, trong mọi vấn đề của Đảng cầm quyền thì cán bộ, đảng viên không phải chỉ hoàn thành những công việc cụ thể, mà một điều quan trọng là phải nêu gương. Gương mẫu không chỉ là hành động có ý nghĩa chính trị mà là giá trị văn hóa. Mà khi đã trở thành văn hóa thì có sức sống trường tồn. Điều này lại càng có ý nghĩa đối với người phương Đông, vì “một tấm gương sống còn có giá trị hơn một trăm bài diễn văn tuyên truyền”16. Không phải ngẫu nhiên mà Hồ Chí Minh nhắc nhở: “Trước mặt quần chúng, không phải ta cứ viết lên trán chữ “cộng sản” mà ta được họ yêu mến. Quần chúng chỉ quý mến những người có tư cách, đạo đức. Muốn hướng dẫn nhân dân, mình phải làm mực thước cho người ta bắt chước”17.
Trong di sản của mình, khi bàn đến việc tự phê bình và tu dưỡng của cán bộ, đảng viên, Hồ Chí Minh luôn đặt mối quan hệ “với tự mình” lên hàng đầu và nhấn mạnh đến trách nhiệm của cán bộ cốt cán. Giải quyết mối quan hệ “với tự mình” là vô cùng khó khăn, nhưng nếu không giải quyết được thì mọi việc sẽ dừng lại. Người chỉ rõ: “Tự mình không đánh thắng được khuyết điểm của mình, mà muốn đánh thắng kẻ địch, tự mình không cải tạo được mình, mà muốn cải tạo xã hội, thì thật là vô lý. Vì vậy, người cách mạng nhất định phải thật thà tự phê b́ình và kiên quyết sửa chữa khuyết điểm”18. Phải “chính tâm tu thân” mới có thể “trị quốc bình thiên hạ”19.
Theo Hồ Chí Minh, khi Đảng cầm quyền, những người trong các cơ quan, đoàn thể, công sở đều có nhiều hoặc ít quyền hành, cấp cao quyền to, cấp thấp quyền nhỏ. Quyền hành phải tỷ lệ thuận với trách nhiệm nêu gương. Người làm tướng phải có trách nhiệm và gương mẫu hơn người lính. Cũng với tinh thần đó, tháng 6-2022, trong bài phát biểu tại Hội nghị tổng kết 10 năm công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhắc nhở tránh tình trạng: “Chân mình còn lấm bê bê, Lại cầm bó đuốc đi rê chân người”; “Cấp trên ở chẳng chính ngôi, cho nên ở dưới chúng tôi hỗn hào!”20.
Thứ ba, bảo đảm tính khoa học của bộ máy.
Nói ngắn gọn, xét đến cùng, xây dựng Đảng cầm quyền phải đi vững trên hai chân là sự tu dưỡng của cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu và bảo đảm tính khoa học của bộ máy. Ý thức rèn luyện, tu dưỡng, đạo đức của đảng viên, cán bộ và tính khoa học của bộ máy là những yếu tố gốc của công tác xây dựng Đảng cầm quyền. Bộ máy vận hành đều nhưng cán bộ, đảng viên không tốt thì sẽ gây ách tắc, thậm chí phá hỏng bộ máy; ngược lại, cán bộ, đảng viên tốt nhưng bộ máy không trơn tru, còn lỗ hổng, kẽ hở thì rất khó cho sự cống hiến của cán bộ, đảng viên. Có thể nói, các nghị quyết, quy định của Đảng về xây dựng, chỉnh đốn Đảng cơ bản tương đối đầy đủ; cái cần nhất lúc này là sự tự giác, nêu gương, thống nhất về ý chí và hành động, tổ chức thực hiện.
Để quyền lực không bị tha hóa phải bảo đảm tính khoa học của cơ chế, thể chế. Đây là vấn đề rộng và lớn bao gồm thể chế về xây dựng, chỉnh đốn Đảng mà một điểm nhấn là cán bộ và công tác cán bộ, đảng viên; quản lý kinh tế - xã hội; phòng chống tham nhũng, tiêu cực, trong đó đặc biệt chú ý cơ chế kiểm soát quyền lực; công tác kiểm tra, giám sát, thanh tra, kiểm toán gắn với thi hành kỷ luật Đảng và pháp luật Nhà nước; ... Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng thường nói phải có “lồng” cơ chế để “nhốt” quyền lực là nói đến cơ chế trách nhiệm, cơ chế phòng ngừa, cơ chế răn đe, trừng trị, cơ chế bảo đảm.
Có một cơ chế nền tảng mà lúc sinh thời Hồ Chí Minh hết sức quan tâm, ngày nay Đảng ta, đặc biệt người đứng đầu là Tổng Bí thư cũng thường nói tới, đó là củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ XHCN; phát huy dân chủ, vai trò sáng tạo, sức mạnh và sự ủng hộ của nhân dân; giữ chặt mối liên hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân; lấy kết quả công việc, sự hài lòng và tín nhiệm của nhân dân làm tiêu chí quan trọng để đánh giá năng lực lãnh đạo, tổ chức và chất lượng đảng viên, “dựa vào nhân dân mà xây dựng Đảng”21. Đó có thể gọi là “lồng” cơ chế dân chủ.
Trong Di chúc, khi nói về việc để giành thắng lợi trong cuộc chiến đấu khổng lồ chống lại những gì đã cũ kỹ, hư hỏng, Chủ tịch Hồ Chí Minh dặn lại Đảng “cần phải động viên toàn dân, tổ chức và giáo dục toàn dân, dựa vào lực lượng vĩ đại của toàn dân”22. Bàn về công tác giám sát, kiểm soát quyền lực, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nói: Phải biết dựa vào dân, lắng nghe dân, cái gì mà quần chúng nhân dân hoan nghênh, ủng hộ thì chúng ta phải quyết tâm làm và làm cho bằng được; ngược lại, cái gì nhân dân không đồng tình, thậm chí căm ghét, phản đối thì chúng ta phải cương quyết ngăn ngừa, uốn nắn và xử lý nghiêm các sai phạm”23. Đại hội XIII nêu một trong mười nhiệm vụ, giải pháp xây dựng chỉnh đốn Đảng trong sạch, vững mạnh, nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền và sức chiến đấu của Đảng là “Thắt chặt hơn nữa mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân, dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng”24.
Tiếp tục thực hiện tâm huyết và những trăn trở của Hồ Chí Minh về Đảng cầm quyền trong bối cảnh hiện nay sẽ giúp Đảng luôn giành được thế chủ động trước mọi biến cố của lịch sử, hoàn thành nhiệm vụ mà dân tộc và Tổ quốc giao phó.


 


1. Hồ Chí Minh Toàn tập, Nxb CTQG, H, 2011, T. 2, tr. 303-304
2, 17. Sđd, T. 6, tr. 127, 16
3, 4, 8, 9, 13, 14, 15. Sđd, T. 5, tr. 276, 325, 325, 326, 301, 323, 301
5, 18. Sđd, T. 7, tr. 246, 82
6. Sđd, T. 13, tr. 190-191
7. Hồ Chí Minh: Về công tác văn hóa văn nghệ, Nxb ST, H, 1971, tr. 72
10. Hồ Chí Minh Toàn tập, Nxb CTQG, H, 2011, T. 12, tr. 672
11, 22. Sđd, T. 15, tr. 622, 617
12. Nguyễn Phú Trọng: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, Nxb CTQGST, H, 2022, tr. 37-38
16. Hồ Chí Minh Toàn tập, Nxb CTQG, H, 2011, T. 1, tr. 284
19, 21. Sđd, T. 8, tr. 142, 281
20. “Toàn văn bài phát biểu của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng tại Hội nghị tổng kết 10 năm công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực”, https://hcma.vn/khoa-hoc-thong-tin-tu-lieu/pages/nghien-cuu-khoa-hoc.aspx?CateID=88&ItemID=32480, ngày 30-6-2022
23. Nguyễn Phú Trọng: Quyết tâm ngăn chặn và đẩy lùi tham nhũng, Nxb CTQG, H, 2019, tr. 116-117
24. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb CTQGST, H, 2021, T. I, tr. 191.