Tóm tắt: Hồ Chí Minh là lãnh tụ vĩ đại của dân tộc Việt Nam, nhà chiến lược quân sự thiên tài. Dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, quân và dân Việt Nam đã giành thắng lợi to lớn trong Chiến dịch Điện Biên Phủ, buộc thực dân Pháp phải ký kết Hiệp định Genève về việc chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam và Đông Dương. Với chiến thắng này, Việt Nam trở thành ngọn đuốc soi đường cho các dân tộc thuộc địa trên thế giới vùng lên đánh đổ chế độ thực dân kiểu cũ của chủ nghĩa đế quốc. Vì vậy, sau chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ, cụm từ “Việt Nam - Điện Biên Phủ - Hồ Chí Minh” đã trở thành biểu tượng chiến thắng của nhân dân yêu chuộng hòa bình trên thế giới.

Từ khóa: Hồ Chí Minh; Điện Biên Phủ; Hiệp định Genève.

1. Tầm nhìn chiến lược của Chủ tịch Hồ Chí Minh

Năm 1946, trước những hành động xâm lược trắng trợn của thực dân Pháp, để bảo vệ nền độc lập vừa mới giành được, Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Đảng và Chính phủ ra “Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến”. Trải qua 9 năm trường kỳ kháng chiến, quân và dân Việt Nam đã giành được nhiều thắng lợi to lớn, đặc biệt là chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ năm 1954, buộc thực dân Pháp phải ký Hiệp định Genève, chấm dứt chiến tranh xâm lược Việt Nam.

Nguyên nhân thắng lợi của Chiến dịch Điện Biên Phủ có nhiều, trong đó yếu tố quan trọng quyết định chiến thắng lịch sử này là đường lối chính trị, quân sự đúng đắn, sáng tạo và tầm nhìn chiến lược của Đảng, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đầu năm 1953, tại HNTƯ 4 khóa II, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ 10 nhiệm vụ để “Lãnh đạo kháng chiến và chính sách quân sự”, trong đó, nhiệm vụ số 1 là: “Tránh chỗ mạnh, đánh chỗ yếu để phân tán lực lượng địch và tiêu diệt sinh lực địch, mở rộng vùng tự do. Đó là phương hướng chiến lược của ta hiện nay”1 quán triệt sâu sắc quan điểm “Chắc thắng mới đánh, không chắc thắng không đánh”2.

Bên cạnh đó, do hiểu rõ bản chất của chủ nghĩa thực dân chỉ chấp nhận đàm phán khi thất bại quân sự trên các chiến trường, nên ngay từ đầu tháng 8-1953, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cho rằng, từ kinh nghiệm của cuộc chiến tranh Triều Tiên cho thấy: “phải đánh bao giờ cho đế quốc quỵ, nó biết không thể đánh được nữa, nó mới chịu đàm phán. Đừng có ảo tưởng mình muốn đàm phán là nó đàm phán”3. Do đó, đối với Việt Nam:  “Ta cũng phải đánh cho Pháp quỵ. Lúc ấy, có đàm phán mới đàm phán, chứ không phải đưa đàm phán ra là nó đàm phán ngay đâu. Đừng có ảo tưởng. Mục đích của nó là xâm lược. Nó mất 99% còn hy vọng 1%, nó vẫn đánh. Phải đánh nó qụy nó mới chịu”4.

Tư tưởng và nghệ thuật quân sự của Chủ tịch Hồ Chí Minh thể hiện rõ hơn trong cuộc họp của Bộ Chính trị ở Tỉn Keo, huyện Định Hoá, tỉnh Thái Nguyên (tháng 10-1953) để bàn về kế hoạch chiến lược Đông-Xuân 1953-1954. Khi được Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp trình bày ý đồ của tướng Pháp H.Navarre về việc tập trung một lực lượng cơ động lớn, gồm 44 tiểu đoàn ở đồng bằng Bắc Bộ, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Địch tập trung quân cơ động để tạo sức mạnh… Không sợ! Ta buộc chúng phải phân tán binh lực thì sức mạnh đó không còn”5. Sau khi nghe Đại tướng Võ Nguyên Giáp và hội nghị báo cáo thêm về Kế hoạch Navarre và các phương án đánh Pháp trong cuộc tiến công chiến lược Đông-Xuân 1953-1954, Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng “Về hướng hoạt động, lấy Tây Bắc làm hướng chính, các hướng khác là hướng phối hợp. Hướng chính hiện nay không thay đổi, nhưng trong hoạt động có thể thay đổi. Phép dùng binh là phải thiên biến vạn hóa”6. Việc quyết định lấy Tây Bắc làm hướng chính thể hiện tầm nhìn chiến lược của Chủ tịch Hồ Chí Minh, buộc quân Pháp phải đưa một bộ phận quân từ đồng bằng Bắc Bộ lên Tây Bắc để giữ địa bàn chiến lược quan trọng này, bước đầu làm phá sản Kế hoạch Navarre của Pháp.

Cuối tháng 11-1953, quân Pháp nhảy dù chiếm đóng Điện Biên Phủ và xây dựng thành một tập đoàn cứ điểm mạnh nhất, một pháo đài bất khả xâm phạm ở Đông Dương. Trước tình hình đó, ngày 6-12-1953, Bộ Chính trị họp, quyết định mở Chiến dịch Điện Biên Phủ. Phát biểu tại Hội nghị, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Chiến dịch này là một chiến dịch rất quan trọng, không những về quân sự mà cả về chính trị, không những đối với trong nước mà đối với quốc tế. Vì vậy, toàn quân, toàn dân, toàn Đảng phải tập trung hoàn thành cho kỳ được”7. Đây là một trận quyết chiến chiến lược, một cuộc đọ sức toàn diện nhất, quyết liệt nhất giữa ta và địch. Thắng, bại của quân dân ta trong chiến dịch này có ảnh hưởng lớn đối với dân tộc Việt Nam và nhân dân thế giới đang chiến đấu vì độc lập, tự do. Muốn giành thắng lợi đòi hỏi toàn Đảng, toàn dân, toàn quân phải có quyết tâm và nỗ lực rất cao.

Để đảm bảo cho Chiến dịch Điện Biên Phủ giành thắng lợi, Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn Đại tướng Võ Nguyên Giáp trước khi lên đường chỉ huy chiến dịch “Cần nắm chắc nghị quyết của Trung ương và chủ trương của Bộ Chính trị”; “Tổng Tư lệnh ra mặt trận, Tướng quân tại ngoại, trao cho chú toàn quyền quyết định. Trận này quan trọng, phải đánh cho thắng. Chắc thắng mới đánh, không chắc thắng không đánh”8. Đây là tư tưởng quân sự sâu sắc, khẳng định bản lĩnh Việt Nam và niềm tin chiến thắng của cuộc kháng chiến.

Thực hiện chủ trương của Đảng và sự chỉ đạo trực tiếp của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Tổng Tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam, Bí thư Đảng ủy, Tư lệnh Chiến dịch Điện Biên Phủ đã nêu cao tinh thần trách nhiệm trước Đảng, nhân dân, quân đội và nhất là sinh mạng của bộ đội đã phân tích đánh giá sâu sắc tình hình thực tiễn chiến trường, tạm hoãn thời điểm mở màn chiến dịch, chuyển phương châm tác chiến từ “đánh nhanh, giải quyết nhanh” sang “đánh chắc, tiến chắc”. Đây là quyết định đúng đắn của vị Tổng chỉ huy chiến dịch, tạo tiền đề tiến tới thắng lợi lịch sử Điện Biên Phủ.

2. Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn động viên, tiếp sức mạnh tinh thần cho cán bộ, chiến sĩ ở mặt trận và nhân dân cả nước

Để kịp thời động viên, cổ vũ và tiếp thêm sức mạnh cho quân và dân Việt Nam vượt qua khó khăn và đánh thắng quân Pháp ở Điện Biên Phủ, trong Thư gửi cán bộ và chiến sĩ mặt trận Điện Biên Phủ (12-1953), Chủ tịch Hồ Chí Minh khích lệ: “Các chú phải chiến đấu anh dũng hơn, chịu đựng gian khổ hơn, phải giữ vững quyết tâm trong mọi hoàn cảnh: Quyết tâm tiêu diệt địch, Quyết tâm giữ vững chính sách, Quyết tâm tranh nhiều thắng lợi”9 và “chờ tin thắng lợi để khen thưởng”10. Ngay trước khi mở màn chiến dịch, tháng 3-1954, Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp tục gửi thư cho cán bộ và chiến sĩ trên mặt trận Điện Biên Phủ, căn dặn: “Các chú sắp ra mặt trận. Nhiệm vụ các chú lần này rất to lớn, khó khăn, nhưng rất vinh quang... Bác tin chắc rằng các chú sẽ phát huy thắng lợi vừa qua, quyết tâm vượt mọi khó khăn gian khổ để làm tròn nhiệm vụ vẻ vang sắp tới”11 tặng cờ “Quyết chiến quyết thắng” làm giải thưởng luân lưu.

Ngay sau khi quân ta tiêu diệt cụm cứ điểm Him Lam và đập tan đợt phản kích của quân Pháp hòng chiếm lại Him Lam, ngày 15-3-1954, Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi điện khen toàn thể cán bộ, chiến sĩ ở mặt trận Điện Biên Phủ, nhấn mạnh: “Chiến dịch này là một chiến dịch lịch sử của quân đội ta, ta đánh thắng chiến dịch này có ý nghĩa quân sự và chính trị quan trọng. Địch sẽ ra sức đối phó, ta phải cố gắng, chiến đấu dẻo dai, bền bỉ, chớ chủ quan khinh địch, giành toàn thắng cho chiến dịch này”12.

Chiến dịch Điện Biên Phủ đã diễn ra trong thời gian dài và vô cùng ác liệt, quân và dân Việt Nam gặp rất nhiều khó khăn, trở ngại. Tuy nhiên, dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo sát sao, cùng với sự cổ vũ, động viên, kịp thời của Trung ương Đảng, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh, ngày 7-5-1954, sau 56 ngày chiến đấu, quân và dân Việt Nam đã đánh bại hoàn toàn hơn 16 nghìn quân Pháp ở Điện Biên Phủ.

Ngày 8-5-1954, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư khen bộ đội, dân công, thanh niên xung phong và đồng bào Tây Bắc: “Bác và Chính phủ thân ái gửi lời khen ngợi cán bộ, chiến sĩ, dân công, thanh niên xung phong và đồng bào địa phương đã làm tròn nhiệm vụ một cách vẻ vang. Thắng lợi tuy lớn nhưng mới là bắt đầu. Chúng ta không nên vì thắng mà kiêu, không nên chủ quan khinh địch. Chúng ta kiên quyết kháng chiến để tranh lại độc lập, thống nhất, dân chủ, hòa bình. Bất kỳ đấu tranh về quân sự hay ngoại giao cũng đều phải đấu tranh trường kỳ gian khổ mới đi đến thắng lợi hoàn toàn. Bác và Chính phủ sẽ khen thưởng những cán bộ, chiến sĩ, dân công, thanh niên xung phong và đồng bào địa phương có công trạng đặc biệt”13; đồng thời, quyết định tặng huy hiệu “Chiến sĩ Điện Biên Phủ”14 cho các đồng chí tham gia chiến dịch.

Trong Chiến dịch Điện Biên Phủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn theo sát tình hình, kịp thời cổ vũ, động viên, khen thưởng cán bộ, chiến sĩ, nhân dân tham gia chiến dịch với một niềm tin chiến thắng. Nhờ đó, quân và dân Việt Nam đã được tiếp thêm sức mạnh, giành thắng lợi to lớn ở Điện Biên Phủ, làm thất bại hoàn toàn kế hoạch xâm lược Việt Nam của thực dân Pháp, tiến tới kết thúc 9 năm kháng chiến trường kỳ của dân tộc Việt Nam.

Dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh, quân và dân Việt Nam đã giành chiến thắng lợi trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và can thiệp Mỹ với đỉnh cao là chiến thắng Điện Biên Phủ. Lần đầu tiên trong lịch sử, một nước thuộc địa nhỏ yếu đã đánh thắng một nước thực dân hùng mạnh. Đó là một thắng lợi vẻ vang của nhân dân Việt Nam và cũng là một thắng lợi của các lực lượng hòa bình, dân chủ, tiến bộ trên thế giới. Với chiến thắng Điện Biên Phủ, tên tuổi của Hồ Chí Minh và tên “Việt Nam - Điện Biên Phủ - Hồ Chí Minh” được biết đến rộng rãi với tình cảm quý trọng của nhân dân trên khắp thế giới. Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ mãi mãi là biểu tượng sáng ngời của chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam và phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc trên thế giới. 70 năm đã qua với nhiều đổi thay nhưng thời gian không thể làm phai mờ tầm vóc, ý nghĩa của chiến thắng Điện Biên Phủ đã tạo ra động lực để toàn Đảng, toàn dân, toàn quân đoàn kết một lòng thực hiện thành công mục tiêu xây dựng Tổ quốc Việt Nam XHCN giàu mạnh, hùng cường.

 

1, 3, 4, 9, 10, 11, 12, 13, 14. Hồ Chí Minh Toàn tập, Nxb CTQG, H, 2011, T. 8, tr. 28, 198, 198, 378, 378, 433, 434, 466, 470       

2, 5, 6, 8. Võ Nguyên Giáp: Thế giới còn thay đổi nhưng tư tưởng Hồ Chí Minh sống mãi, Ban Khoa học xã hội Thà nh ủy Thành phố Hồ Chí Minh, 1991, tr. 75, 75, 77, 79

7. Song Thành (Chủ biên): Hồ Chí Minh Tiểu sử, Nxb Lý luận chính trị, H, 2006, tr. 462.