27/08/2023 - 01:34 AM - 1.098 lượt xem
Tóm tắt: Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Trung ương Đảng rất quan tâm công tác bảo vệ tuyệt đối an toàn cho lãnh tụ, cán bộ trung ương, cơ quan đầu não của Đảng. Đặc biệt, năm 1945, vào những thời điểm quyết định vận mệnh dân tộc, Trung ương Đảng đã tổ chức bảo vệ tuyệt đối an toàn cho Chủ tịch Hồ Chí Minh, các đồng chí cán bộ cấp cao và cơ quan đầu não của Đảng, lãnh đạo toàn dân tiến hành Tổng khởi nghĩa Tháng Tám và tổ chức ngày Lễ độc lập, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
Từ khóa: Bảo vệ lãnh tụ Hồ Chí Minh; Hà Nội; 1945.
1. Tháng 5-1945, lãnh tụ Hồ Chí Minh từ Cao Bằng về Tuyên Quang để chuẩn bị chỉ đạo khởi nghĩa toàn quốc. Trung ương giao cho đồng chí Trần Đăng Ninh phụ trách công tác phục vụ và bảo vệ Người. Sáng ngày 4-5-1945 tại Khuổi Nậm, Người tập hợp tiểu đội du kích và hai sỹ quan Đồng minh Mỹ sang giúp Việt Minh về kỹ thuật vô tuyến điện, trực tiếp phân công công việc, hướng dẫn cách giữ bí mật và dặn cố gắng tránh đụng độ với địch để bảo toàn lực lượng. Khoảng 9 giờ, đoàn lên đường. Lãnh tụ Hồ Chí Minh mặc bộ quần áo Nùng, tay chống gậy song, đội nón chóp quai thao, khăn che gần kín mặt và đeo chiếc túi dết nhỏ có hai nút buộc dây.
Từ ngày 6 đến ngày 8-5, Hồ Chí Minh làm việc ở Lam Sơn (Cao Bằng), họp với các đồng chí Trung ương: Hoàng Quốc Việt, Đặng Việt Châu, Vũ Anh, Phạm Văn Đồng, Đặng Văn Cáp và cán bộ của Liên tỉnh ủy Cao-Bắc-Lạng bàn một số công việc chuẩn bị khởi nghĩa. Công tác bảo vệ, an ninh ở đây cũng rất tốt, ngoài việc bảo vệ địa điểm họp còn có cơ sở bí mật canh phòng từ xa và nắm bắt tình hình.
Sáng 9-5, Người rời Lam Sơn, tiểu đội cận vệ đặc biệt do đồng chí Đặng Văn Cáp phụ trách đi bảo vệ Người.
Ngày 10-5, Hồ Chí Minh cùng đoàn cán bộ tới Ngân Sơn. Người yêu cầu đồng chí Đặng Văn Cáp quay lại Lam Sơn dựng một nhà chứa súng, tiếp tục công việc chế tạo và sửa chữa vũ khí để chuẩn bị Tổng khởi nghĩa. Các đồng chí Gia Quốc Toàn và Đồng Quang Tuân được giao nhiệm vụ tiếp tục đưa đoàn đi.
Ngày 16-5, đoàn đi qua Chợ Đồn thì nghe có tiếng súng ở châu lỵ nên rẽ vào rừng Khuổi Luông để tránh. Hồ Chí Minh cùng một số cán bộ đi vòng đường rừng ra khe Nậm Cảng. Buổi chiều ngày 17-5, Người về tới Nà Kiến, xã Nghĩa Tá, huyện Chợ Đồn thì gặp đồng chí Võ Nguyên Giáp lên đón.
Ngày 20-5, lãnh tụ Hồ Chí Minh cùng đoàn công tác đến địa phận tỉnh Tuyên Quang và nghỉ ăn trưa tại Pá Hóp, sau đó đi qua bản Pài, bản Pình rồi nghỉ tối ở bản Coóc. Các đồng chí được phân công đi đón và bảo vệ đoàn đến đèo So để chờ nhưng biết tin Người đi đường khác nên phải cấp tốc quay về Tân Trào chờ đón Người tại đình Hồng Thái.
Ngày 21-5, Hồ Chí Minh và đoàn cán bộ đi qua làng Chạp, làng Nha, làng Đồn rồi vượt qua đèo Chắn đến Hồng Thái, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang. Người nghỉ chân ở đình Hồng Thái, sau đó vượt qua sông Phó Đáy đi Tân Trào vào buổi trưa. Đồng chí Võ Nguyên Giáp đưa Người đến nhà ông Nguyễn Tiến Sự - chủ nhiệm Việt Minh làng Kim Long, xã Tân Trào, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang. Được ít ngày, Người đề nghị chuyển lên ở rừng để giữ bí mật. Anh em bảo vệ lên rừng tìm địa điểm trước.
Ngày 25-5, Hồ Chí Minh mang theo la bàn và đi cùng tổ vô tuyến điện; đến lưng chừng đồi Nà Lừa, Người chọn nơi dựng chiếc lán nhỏ làm theo kiểu nửa nhà sàn. Dưới chân đồi là con đường mòn đi chợ Chu bên con suối quanh co uốn khúc. Chiếc lán nhỏ chia làm hai gian: một bên là buồng nghỉ của Người, còn bên kia bày chiếc bàn nứa vừa để làm việc và tiếp khách. Hồ Chí Minh làm việc suốt ngày: đọc sách, soạn tài liệu, viết báo, dạy chính trị... Ngoài ra, Người còn hướng dẫn anh em về cuộc sống tập thể như cách sắp xếp đồ đạc, giữ gìn súng đạn, làm mẫu các động tác tập thể dục và cả cách vá quần áo, cách chọn rau rừng ngon. Toàn bộ công tác phục vụ, bảo vệ Hồ Chí Minh và các đồng chí Trung ương do đồng chí Nguyễn Văn Cao (Nguyễn Văn Lý) phụ trách.
Ngày 4-6-1945, Tân Trào được chọn làm Thủ đô của khu giải phóng. Lực lượng bảo vệ ATK (An toàn khu) do đồng chí Đàm Minh Viễn phụ trách có nhiệm vụ bảo vệ ATK và trọng tâm là bảo vệ nơi ở, làm việc của lãnh tụ Hồ Chí Minh và các đồng chí Trung ương. Đồng chí Viễn đã chọn các đồng chí: Ngọc Hà, Trần Đình, Vũ Lâm, Nam Long bổ sung vào tổ tiếp cận bảo vệ Hồ Chí Minh. Sau khi xảy ra sự kiện một toán thổ phỉ thân Nhật mò vào Tân Trào dò la phá hoại căn cứ, Hồ Chí Minh nhận định, có thể Tân Trào đã bị lộ và nhắc anh em bảo vệ, phục vụ gói ghém tài liệu, chuẩn bị vũ khí, xóa mọi dấu vết, gấp rút hành quân đến Lũng Cò trú tạm. Khoảng 10 ngày sau, khi tình hình yên ắng, Người quay về Nà Lừa. Trên đường về, Người bị ngã bệnh, anh em bảo vệ làm cáng đưa Người đi.
Sức khoẻ của Hồ Chí Minh vốn bị giảm sút từ lúc bị giam trong các nhà tù ở Quảng Tây, lại do điều kiện thiếu thốn, làm việc căng thẳng, ăn uống đạm bạc (chỉ có măng rừng chấm muối vừng, cơm gạo đỏ chan nước chè xanh), nên Người sốt cao, lúc tỉnh, lúc mê.
Lúc này, Trung ương chỉ có đồng chí Võ Nguyên Giáp đang làm việc tại làng Tân Lập gần đó, hằng ngày vẫn lên báo cáo tình hình và thăm hỏi sức khoẻ. Dù rất yếu, Người vẫn nói: “Chú cứ xuống làm công tác, tôi không việc gì”. Một hôm thấy Người sốt cao, đồng chí Võ Nguyên Giáp xin ở lại chăm sóc. Tỉnh lại sau cơn sốt, Người nói: “Lúc này thời cơ thuận lợi đã tới, dù hy sinh tới đâu, dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải kiên quyết giành cho được độc lập”1.
Hôm sau, đồng chí Võ Nguyên Giáp viết thư hỏa tốc báo cáo Trung ương về tình hình sức khoẻ của lãnh tụ Hồ Chí Minh và đi tìm thầy thuốc chữa bệnh cho Người. Nhờ đồng bào chỉ dẫn, đồng chí Võ Nguyên Giáp mời được một thầy lang người Tày tên là Ma Văn Đàm đến bắt mạch, cắt thuốc Nam cho Người. Sau khi uống vài lần thuốc Nam hoà với cháo loãng, cơn sốt lui dần.
Tối ngày 12-8-1945, dù còn rất mệt nhưng Người vẫn nghe tin tức thế giới qua radio và biết tin Nhật Bản gửi công hàm cho Mỹ và Đồng minh đề nghị đàm phán và chấp nhận ngừng bắn. Lúc 23h, Ủy ban chỉ huy lâm thời Khu giải phóng hạ lệnh khởi nghĩa. Hồ Chí Minh chỉ thị viết thư hoả tốc truyền đi các địa phương mệnh lệnh khởi nghĩa.
Ngày 16-8-1945, hơn 60 đại biểu toàn quốc, các đảng phái chính trị, đoàn thể cứu quốc, các dân tộc, tôn giáo và kiều bào ở Thái Lan và Lào đã về tham dự Đại hội quốc dân tại Tân Trào. Mặc dù còn mệt nhưng lãnh tụ Hồ Chí Minh vẫn đến dự và góp ý kiến cho hội nghị.
Lúc này, công tác bảo vệ sự kiện đặc biệt này được giao cho các đơn vị vũ trang đảm nhiệm, bố trí thành vòng ngoài và trong, cùng các đội bảo vệ tiếp cận yếu nhân. Các trạm an ninh được thiết lập trên các tuyến đường vào Tân Trào và quanh lán Nà Lừa. Mọi cửa ngõ vào ATK, đều có lực lượng trinh sát và cơ sở bí mật xen kẽ, ngụy trang thành người dân làm các nghề phổ thông để phát hiện địch từ xa.
Đại hội nhiệt liệt tán thành chủ trương Tổng khởi nghĩa của Việt Minh và bầu ra Ủy ban giải phóng dân tộc Việt Nam (tức là Chính phủ lâm thời) do Hồ Chí Minh làm Chủ tịch.
Buổi chiều hôm đó, Người lại sốt nên không đến dự lễ xuất phát của Quân giải phóng tiến về xuôi.
2. Cách mạng Tháng Tám thành công, tiên liệu sẽ phải chuẩn bị cho một cuộc kháng chiến lâu dài, bảo vệ độc lập dân tộc vừa giành được, trước khi rời Tân Trào về Hà Nội, ngày 20-8-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh họp, phân công một số đồng chí ở lại. Người nói: “Các cô, các chú người nào cũng muốn về Hà Nội vì đã bao nhiêu năm nay, thời cơ cách mạng cướp chính quyền đến, ai cũng muốn đi lắm chứ. Nhưng đợt này Chủ tịch Hồ Chí Minh về mà các cô, các chú không được về là vì các cô, các chú nên nhớ rằng cách mạng phải có đường tiến, đường lui. Đừng tưởng rằng kỳ này chúng ta về là sẽ không quay trở lại rừng núi, trở lại căn cứ nữa đâu”2.
Sáng ngày 22-8-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh từ Tân trào, lên đường về Thái Nguyên. Người đi theo đường đèo Khế, Cù Vân, vì chưa khỏi ốm nên có lúc phải nằm cáng. Tuyến đường này có nhiều núi đất và rừng già nên từ người dẫn đường, phương tiện di chuyển, địa điểm dừng nghỉ, nơi qua sông đều được chuẩn bị chu đáo, kỹ lưỡng. Trực tiếp bảo vệ Chủ tịch Hồ Chí Minh trong chuyến đi này là 4 đồng chí; liên lạc dẫn đường là đồng chí Đàm Trung Y. Đoàn nghỉ lại nấu cơm ăn tại một xã cách Đại Từ chừng 3 km, Người dặn anh em phải thanh toán tiền ăn đầy đủ cho nhân dân. Khoảng 20 giờ ngày 22-8, Người tới Đại Từ. 21 giờ, đồng chí Trần Đăng Ninh đưa ô tô lên đón Người về Thái Nguyên.
Hành trình Hồ Chí Minh từ Thái Nguyên về Hà Nội được bố trí chu đáo, bảo đảm tuyệt đối an toàn. Sáng ngày 23-8-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh rời Thái Nguyên về Hà Nội. Đồng chí Thái Bảo, Chủ tịch huyện (lúc đó lấy bí danh là Thuận) và hai đồng chí bảo vệ đi cùng xe với Người qua địa phận Đa Phúc; sau đó, đi đò qua sông Hồng, đồng chí Trần Độ đón Người ở bến đò thôn Phú Xá. Công tác bảo vệ trên toàn tuyến đường đều được các trinh sát nội thành và lực lượng chuẩn bị chu toàn. Trong lúc tạm nghỉ ở đình thôn Phú Xá, Người tranh thủ nghe đồng chí phụ trách công tác đội Trung ương từ nội thành ra báo cáo. Buổi tối, để đảm bảo an toàn cho Người, đồng chí Hoàng Tùng, phụ trách An toàn khu phía Nam sông Hồng (lúc đó lấy bí danh là Khánh), đưa Người cùng đoàn công tác đến nghỉ tại nhà ông Công Ngọc Kha (tức Trần Lộc) ở thôn Phú Gia (còn gọi là làng Gạ), xã Phú Thượng, huyện Từ Liêm, Hà Nội (nay là phường Phú Thượng, quận Bắc Từ Liêm, Hà Nội). Lúc này ngoài đội bảo vệ tiếp cận, còn có du kích xã Phú Thượng, điệp báo Hà Nội hóa trang bảo vệ vòng ngoài và lực lượng trinh sát nội thành tuần tra canh gác cả ngày đêm. Trung ương giao đồng chí Hoàng Tùng chỉ đạo công tác giúp việc và bảo vệ Chủ tịch Hồ Chí Minh, dưới sự lãnh đạo trực tiếp của đồng chí Nguyễn Lương Bằng (bí danh là anh Cả).
Ngôi nhà của ông Công Ngọc Kha (tức Trần Lộc) ở thôn Phú Gia (còn gọi là làng Gạ), xã Phú Thượng, huyện Từ Liêm, Hà Nội (nay là phường Phú Thượng, quận Bắc Từ Liêm, Hà Nội) - nơi Chủ tịch Hồ Chí Minh nghỉ và làm việc đầu tiên sau khi từ Tân Trào về Hà Nội.
Ngày 25-8-1945, tại làng Gạ, Chủ tịch Hồ Chí Minh nghe các đồng chí Võ Nguyên Giáp, Trần Đăng Ninh, Trường-Chinh ra báo cáo tình hình. Buổi chiều, ô tô đón Người vào Hà Nội theo đường Nhật Tân, Yên Phụ, Hàng Đậu, Hàng Giấy, Hàng Đường và dừng ở số nhà 35 Hàng Cân. Theo chủ trương của Trung ương, lực lượng điệp báo nội thành đã bố trí lực lượng bí mật trên toàn tuyến để bảo vệ Người.
Hồ Chí Minh cùng hai đồng chí bảo vệ, liên lạc được bố trí ở tại nhà số 48 Hàng Ngang, cơ sở của Việt Minh nội thành. Đây là ngôi nhà của gia đình tư sản dân tộc-ông Trịnh Văn Bô và bà Hoàng Thị Minh Hồ. Ngôi nhà này sau khi được chọn đã được bí mật bảo vệ bởi lực lượng trinh sát của Sở Liêm phóng Bắc Bộ (tổ chức đầu tiên của Công an nhân dân), do đồng chí Giám đốc Chu Đình Xương phụ trách. Toàn bộ tầng 2 ngôi nhà được gọi là “cơ quan thượng cấp”. Trong thời gian chờ Người về đây, để giữ bí mật, anh em gọi bí danh thượng cấp là “Mẹ”, ví dụ như: “Hôm nào thì Mẹ về đến đây, anh Cả?”. Nhưng lúc chính thức chuẩn bị đón Người về thì anh em lại gọi luôn là “Ông Cụ”.
3 Ngày 26-8-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh triệu tập và chủ trì cuộc họp của Thường vụ Trung ương Đảng để thảo luận và thông qua chủ trương đối nội, đối ngoại trong tình hình mới, về danh sách thành viên Chính phủ lâm thời, việc chuẩn bị Tuyên ngôn Độc lập và tổ chức mít tinh để Chính phủ lâm thời ra mắt nhân dân.
Để đảm bảo an toàn tuyệt đối cho buổi lễ tổ chức tại Quảng trường Ba Đình, công tác an ninh, bảo vệ Chủ tịch Hồ Chí Minh và các đồng chí lãnh đạo được triển khai với sự phối hợp của các lực lượng: Sở Liêm phóng Bắc Bộ cử trinh sát theo dõi hoạt động của các tổ chức phản động và nắm tình hình trên các tuyến đường dẫn đến Ba Đình; Lực lượng Tự vệ thành Hoàng Diệu được điều đến giám sát các trụ sở Quốc dân đảng có người nước ngoài hay lui tới; đồng chí Chu Đình Xương được giao trọng trách trực tiếp bảo vệ Chủ tịch Hồ Chí Minh khi Người đứng trên lễ đài trong buổi mít tinh; đội quân danh dự của Quân Giải phóng trên quảng trường sẽ đảm bảo không ai trong số khán giả có thể tới gần khán đài trong phạm vi 20 mét. Ngoài ra, bố trí công nhân và sinh viên có vũ trang tại mọi góc của mấy khu vườn và một đơn vị tự vệ cảnh giác trước bất kì sự quấy rối nào từ hướng thành Hà Nội, nơi quân Pháp vẫn còn bị Nhật giam giữ.
Trước cuộc mít tinh, lính Nhật ở khu đất thuộc Phủ Toàn quyền đã để mấy khẩu súng máy chĩa về Quảng trường Ba Đình. Bộ phận an ninh bố trí một khối dân quân, tự vệ chắc chắn với quyết tâm thà chết không rút lui. Sở Liêm phóng Bắc Bộ được giao nhiệm vụ trực tiếp bảo vệ các thành viên Chính phủ Lâm thời. Đội Tự vệ chiến đấu Cứu quốc thành Hoàng Diệu (lực lượng vũ trang địa phương do Thành ủy Hà Nội thành lập để bảo vệ các cơ quan của Trung ương, Xứ ủy và Thành ủy Hà Nội), được giao nhiệm vụ bảo vệ địa bàn nơi diễn ra Lễ Độc lập. Đơn vị Giải phóng quân từ Chiến khu Việt Bắc về Hà Nội được phân công trực tiếp bảo vệ lễ đài. Các lực lượng quần chúng như: Thanh niên cứu quốc, Công nhân cứu quốc... dự mít tinh đều nêu cao tinh thần bảo vệ Chính phủ lâm thời. Ngày 2-9-1945, đồng chí Đỗ Đức Kiên trong Ban chỉ huy của Đội Tự vệ chiến đấu Cứu quốc thành Hoàng Diệu vinh dự dẫn hai trung đội đến Quảng trường Ba Đình làm nhiệm vụ bảo vệ. Trung đội Tô Hiệu được phân công trực tiếp làm hàng rào danh dự; Trung đội Hà Huy Tập được phân công bảo vệ vòng trong, vòng ngoài buổi Lễ Độc lập.
Chủ nhật, ngày 2-9-1945, tại Quảng trường Ba Đình lịch sử, đúng 14 giờ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trịnh trọng công bố Tuyên ngôn Độc lập của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa với toàn thể nhân dân Việt Nam và thế giới, trước sự chứng kiến của hàng chục vạn đồng bào Hà Nội và các phóng viên, nhà báo trong nước và quốc tế.
Bản Tuyên ngôn Độc lập vang lên trên Quảng trường Ba Đình đã trở thành ngọn cờ đấu tranh cho chính nghĩa, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội, vì văn minh, vì nền hoà bình, không chỉ cho nhân dân Việt Nam mà còn cho toàn nhân loại.
Bài đăng trên Tạo chí Lịch sử Đảng số 8-2020
1. Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh: Hồ Chí Minh Biên niên tiểu sử, Nxb CTQG, 2006, T. 2, tr. 267
2. Sở Văn hóa - Thể thao và Du lịch Tuyên Quang: Di tích lưu niệm về Chủ tịch Hồ Chí Minh, 2010, tr, 57.