Tóm tắt: Đại hội XIV (2026) của Đảng khẳng định: “phát triển kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026, tr.95), thể hiện bước phát triển mới trong tư duy lý luận của Đảng về phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, là một quyết sách hoàn toàn đúng đắn, khách quan và khoa học. Tuy nhiên, hiện có những luận điểm sai trái, khi cho rằng: “Việt Nam phát triển kinh tế tư nhân là từ bỏ con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, chuyển sang chủ nghĩa tư bản; kinh tế tư nhân không thể đóng vai trò là “động lực quan trọng nhất” của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, chỉ trong nền kinh tế tư bản chủ nghĩa, thành phần kinh tế tư nhân mới phát triển được”. Đây là luận điểm sai trái cần nhận diện và phản bác, kiên quyết đấu tranh.

Từ khóa: Kinh tế tư nhân; nhận diện, phản bác; quan điểm sai trái; chủ nghĩa xã hội; Việt Nam
Ngày nhận bài:27-7-2026; ngày thầm định đánh giá; 20-8-2026; ngày duyệt đăng: 29-8-2026

IDENTIFYING AND REFUTING THE FALSE ARGUMENT: “DEVELOPING THE PRIVATE ECONOMY IS ABANDONING THE PATH TO SOCIALISM IN VIETNAM”

Abstract: The 14th Party Congress (2026) affirmed that "developing the private economic sector is one of the most important driving forces of the economy" (Communist Party of Vietnam, 2026, p.95). This assertion reflects an evolution in the Party's theoretical thinking regarding the development of the socialist-oriented market economy and represents a policy decision that is entirely correct, objective, and scientific. However, erroneous arguments have emerged claiming that by developing the private economic sector, Vietnam is abandoning the path to socialism in favor of capitalism; that the private sector cannot serve as "one of the most important driving forces" of a socialist-oriented market economy; and that the private economic sector can only flourish within a capitalist economy. These are erroneous arguments that must be identified, refuted, and resolutely countered.

Keywords: Private sector; identification and refutation; erroneous views; socialism; Vietnam

1. Đặt vấn đề
Trong tiến trình đổi mới đất nước, nhận thức của Đảng về vị trí, vai trò của kinh tế tư nhân (KTTN) không ngừng được bổ sung và hoàn thiện. Đặc biệt, Nghị quyết số 68-NQ/TW, ngày 4-5-2025 của Bộ Chính trị “Về phát triển kinh tế tư nhân” và Văn kiện Đại hội XIV (2026) của Đảng đã khẳng định KTTN là một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế quốc dân, thể hiện bước phát triển mới trong tư duy lý luận của Đảng về xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng XHCN. Tuy nhiên, các thế lực thù địch đã lợi dụng chủ trương này để xuyên tạc, cho rằng việc phát triển KTTN đồng nghĩa với việc Việt Nam từ bỏ con đường đi lên CNXH. Xuất phát từ yêu cầu bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới, bài viết tập trung phân tích làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của chủ trương phát triển KTTN là đúng đắn, khẳng định sự nhất quán đường lối phát triển kinh tế của Đảng trong thời kỳ mới, đồng thời phản bác những luận điệu sai trái, về vấn đề này.
Phương pháp nghiên cứu: Bài viết dựa trên cơ sở lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về phát triển kinh tế nói chung, KTTN nói riêng. Các phương pháp chủ yếu được sử dụng gồm: phương pháp lịch sử và lôgíc, phân tích, tổng hợp, so sánh trong nghiên cứu các văn kiện của Đảng, chính sách của Nhà nước và các tài liệu về lý luận, thực tiễn nhằm làm rõ cơ sở khoa học của chủ trương phát triển KTTN của Đảng, đồng thời phản bác các quan điểm sai trái, xuyên tạc của các thế lực phản động.

2. Kết quả nghiên cứu và thảo luận
2. 1. Luận điểm cho rằng: “Phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam là minh chứng Việt Nam từ bỏ con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, chuyển sang chủ nghĩa tư bản” là sai trái, cần nhận diện và phản bác
Sau khi Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 68-NQ/TW, ngày 4-5-2025 “Về phát triển kinh tế tư nhân”, các thế lực thù địch, phản động thường xuyên phát tán trên các nền tảng mạng xã hội với những luận điệu xuyên tạc, bóp méo, phủ nhận chủ trương đúng đắn của Đảng. Chúng cố tình cho rằng, KTTN phát triển sẽ lấn át vai trò của kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể; là nguyên nhân “mở cửa” cho tham nhũng, lợi ích nhóm, tạo điều kiện cho quan hệ “xin - cho”, gây thất thoát tài sản, tài nguyên của đất nước (?!). Thâm độc hơn, chúng quy kết sự phát triển KTTN là minh chứng cho việc Việt Nam từ bỏ con đường đi lên CNXH. Tinh vi và tráo trở hơn nữa, chúng xuyên tạc, phủ nhận ý nghĩa của Nghị quyết số 68-NQ/TW của Bộ Chính trị khi cho rằng, việc khuyến khích phát triển KTTN là do “đường cùng” hoặc chỉ là “chiêu trò” chính trị.
Trước âm mưu, thủ đoạn đó, cần chủ động nhận diện, bóc trần và kiên quyết đấu tranh, phản bác. Thực chất phía sau những luận điệu trên là hệ thống âm mưu tinh vi, thâm độc của các thế lực thù địch, nhằm kích động “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, làm suy giảm niềm tin của cán bộ, đảng viên và nhân dân đối với sự lãnh đạo của Đảng. Mục đích sâu xa của các thế lực thù địch là nhằm gây tâm lý nghi ngờ, hoài nghi về con đường đi lên CNXH; gây mâu thuẫn giữa các thành phần kinh tế, giữa người dân với Nhà nước và doanh nghiệp, từ đó gây mất ổn định chính trị - xã hội, cản trở phát triển kinh tế đất nước, làm suy yếu vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế. Với sự hỗ trợ của internet, công nghệ số và trí tuệ nhân tạo (AI), âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch được lan truyền nhanh chóng, phạm vi tác động ngày càng rộng.
Trên thực tế, chủ trương của Đảng về KTTN nhằm phát huy mọi nguồn lực xã hội cho phát triển, từng bước hoàn thiện thể chế KTTT định hướng XHCN, cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh, cắt giảm thủ tục hành chính, nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước, đồng thời bảo vệ tốt hơn quyền tài sản, quyền tự do kinh doanh của cá nhân và tổ chức theo quy định của Hiến pháp và pháp luật.
2. 2. Tính đúng đắn trong quan điểm: “Kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế” của Đảng
Trong 40 năm thực hiện công cuộc đổi mới đất nước, Đảng không ngừng hoàn thiện tư duy lý luận, phát triển đường lối đổi mới, trong đó Đại hội XIV của Đảng khẳng định KTTN là một động lực quan trọng nhất của nền KTTT định hướng XHCN. Quan điểm này xuất phát từ nhận thức về tính tất yếu khách quan của phát triển KTTN và vai trò của khu vực kinh tế này đối với sự phát triển đất nước. Điều này được minh chứng bằng một số luận điểm cơ bản sau:
Một là, phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam là sự phù hợp với quy luật khách quan, không phải là từ bỏ con đường đi lên chủ nghĩa xã hội
Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, trong thời kỳ quá độ lên CNXH, sự tồn tại của nhiều hình thức sở hữu và nhiều thành phần kinh tế là tất yếu, phù hợp với quy luật khách quan. Việc phát triển giúp giải phóng sức sáng tạo, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế. Do đó, Đảng xác định định hướng XHCN, về bản chất, không phải là đặc trưng riêng có của CNTB, mà là một phương thức tổ chức kinh tế dựa trên các quy luật vận động khách quan của sản xuất và trao đổi hàng hóa, trong đó, quan hệ cung - cầu giữ vai trò điều tiết chủ yếu. KTTT định hướng XHCN được Đảng xác định là “mô hình kinh tế tổng quát của nước ta trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội... bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” phù hợp với từng giai đoạn phát triển của đất nước” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2021, tr.128). Việc phát triển KTTT hoàn toàn phù hợp với quy luật khách quan, không đồng nghĩa với việc đi theo con đường TBCN, mà là lựa chọn làm “phương tiện xây dựng chủ nghĩa xã hội” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2008, tr.139). Theo đó, Đảng khẳng định, nền kinh tế mà chúng ta xây dựng là nền KTTT định hướng XHCN, vừa vận hành đầy đủ, đồng bộ các quy luật thị trường, đồng thời bảo đảm định hướng XHCN, có sự quản lý của Nhà nước pháp quyền XHCN, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, nhằm mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. Đây là sự khác biệt căn bản với KTTT của CNTB, nơi mà lợi nhuận tối đa là mục tiêu cao nhất. Trong mô hình KTTT định hướng XHCN, Nhà nước luôn giữ vai trò định hướng, quản lý, điều tiết nền kinh tế thông qua hệ thống pháp luật, quy hoạch, chiến lược phát triển và chính sách phân phối lại thu nhập. Phát triển kinh tế gắn với phát triển con người và quan trọng nhất là không đánh đổi tăng trưởng kinh tế bằng mọi giá; luôn gắn phát triển kinh tế, môi trường với an sinh xã hội, xóa đói giảm nghèo, thu hẹp khoảng cách vùng, miền và “không để ai bị bỏ lại phía sau”. Đó chính là tính ưu việt của mô hình KTTT định hướng XHCN ở Việt Nam, mà Đảng, nhân dân Việt Nam kiên định lựa chọn. Do đó, phát triển KTTT không phải là từ bỏ CNXH, mà là cách thức để đi đến CNXH một cách chủ động, hiệu quả và phù hợp với điều kiện thực tiễn của Việt Nam.
Để phát triển KTTN, Đảng đã đề ra đường lối, quan điểm, chủ trương định hướng, giải pháp để khuyến khích, hỗ trợ, tạo mọi điều kiện thuận lợi cho KTTN phát triển. Điều đó không đồng nghĩa với việc “tư nhân hóa” mà là huy động mọi nguồn lực, mọi thành phần kinh tế, trong đó có KTTN, các doanh nhân cùng đoàn kết phát triển, cùng xây dựng nền KTTT định hướng XHCN trong kỷ nguyên phát triển mới. Trong cơ cấu kinh tế, KTTN được xác định là một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế quốc dân, đóng vai trò bổ sung và thúc đẩy sự phát triển của các khu vực kinh tế khác. Nhà nước giữ vai trò định hướng, điều tiết và bảo đảm công bằng trong sản xuất, kinh doanh, không để xảy ra tình trạng thao túng thị trường, lũng đoạn chính sách hay hình thành các nhóm lợi ích. Phát triển KTTN theo định hướng của Đảng, gắn liền với yêu cầu tuân thủ pháp luật, thực hiện trách nhiệm xã hội và đóng góp vào sự phát triển nhanh và bền vững đất nước. Đặc biệt là xây dựng đội ngũ doanh nhân thật sự trở thành “chiến sĩ” trên mặt trận kinh tế. Do đó, phát triển KTTN là một phần trong chiến lược tổng thể xây dựng nền KTTT định hướng XHCN ở Việt Nam, cùng với kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường gắn với hội nhập quốc tế sâu rộng, đưa đất nước tiến lên, hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước hòa bình, độc lập, giàu mạnh, dân chủ, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc.
Hai là, tư duy lý luận của Đảng về phát triển kinh tế tư nhân không ngừng được bổ sung, hoàn thiện qua thực tiễn 40 năm đổi mới
Quan điểm của Đảng về KTTN không phải là bất biến, mà luôn được điều chỉnh, bổ sung trên cơ sở tổng kết thực tiễn và phát triển lý luận trong từng thời kỳ lịch sử, nhằm bảo đảm vai trò lãnh đạo toàn diện của Đảng. Quá trình đó phản ánh tư duy đổi mới, vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh vào điều kiện thực tiễn Việt Nam, đồng thời, phát huy mọi nguồn lực cho công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. 
Trước đổi mới (trước năm 1986), Việt Nam áp dụng mô hình kinh tế kế hoạch hóa tập trung, quan liêu, bao cấp, theo mô hình của các nước trong hệ thống XHCN, lấy sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể về tư liệu sản xuất làm nền tảng. Trong mô hình này, KTTN bị coi là “phi xã hội chủ nghĩa”, thậm chí bị xem là trở ngại cho con đường đi lên CNXH (Phạm Thị Lương Diệu, 27-7-2018). Đại hội VI (1986) của Đảng đánh dấu bước ngoặt lớn về đổi mới tư duy phát triển kinh tế, Đảng chủ trương thực hiện nhất quán chính sách kinh tế nhiều thành phần, Đại hội chỉ rõ: “cần có chính sách sử dụng và cải tạo đúng đắn các thành phần kinh tế khác” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2019, tr.55). Đây là sự thay đổi có tính cách mạng, mở đầu cho sự hình thành nền kinh tế nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước. Tuy vậy, thời kỳ này, KTTN nói riêng, các thành phần kinh tế phi XHCN nói chung vẫn được coi là đối tượng phải “cải tạo”, bằng những hình thức và bước đi thích hợp, tránh chủ quan nóng vội (Nguyễn Hồng Sơn, Phạm Thị Hồng Điệp, 9-6-2017). KTTN từ chỗ bị xem là “phi xã hội chủ nghĩa” đã từng bước được nhìn nhận như một chủ thể trong nền kinh tế nhiều thành phần, được tạo điều kiện hoạt động trong khuôn khổ pháp luật. Hộ kinh doanh cá thể, doanh nghiệp tư nhân đã xuất hiện và từng bước khẳng định vai trò trong sản xuất hàng hóa, cung cấp dịch vụ và tạo việc làm. 
Từ Đại hội IX (2001) đến Đại hội XII (2016) của Đảng, nhận thức về vị trí, vai trò của KTTN ngày càng được củng cố và hoàn thiện. Các văn kiện Đại hội và nghị quyết HNTƯ của Đảng trong giai đoạn này đều thể hiện tư tưởng, quan điểm nhất quán là khuyến khích phát triển KTTN, nhất là trong lĩnh vực sản xuất, dịch vụ, xuất khẩu, đổi mới công nghệ. Nghị quyết số 14-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương khoá IX “Về tiếp tục đổi mới cơ chế, chính sách, khuyến khích và tạo điều kiện phát triển kinh tế tư nhân” xác định: “Tập trung sửa đổi, bổ sung một số cơ chế, chính sách, bảo đảm sự bình đẳng giữa các thành phần kinh tế về cơ hội và khả năng lựa chọn các điều kiện để phát triển; tiếp tục tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc, sửa đổi những quy định chưa phù hợp với trình độ, quy mô kinh doanh để kinh tế tư nhân có thể thụ hưởng những chính sách ưu đãi của Nhà nước đối với các ngành, vùng, các sản phẩm và dịch vụ cần ưu tiên hoặc khuyến khích phát triển không phân biệt thành phần kinh tế” (Ban Chấp hành Trung ương, 18-3-2002). Đây là Nghị quyết chuyên đề đầu tiên về KTTN kể từ khi thực hiện công cuộc đổi mới. Đến Đại hội X (2006) của Đảng, KTTN được xác định có vai trò quan trọng, là một trong những động lực của nền kinh tế. Đồng thời là một bước tiến lớn về nhận thức, thể hiện quyết tâm chính trị của Đảng trong tạo lập môi trường đầu tư - kinh doanh thuận lợi, bình đẳng giữa các thành phần kinh tế. 
Nghị quyết số 10-NQ/TW, ngày 3-6-2017 của Ban Chấp hành Trung ương khóa XII, “Về phát triển kinh tế tư nhân trở thành một động lực quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa” đánh dấu bước phát triển quan trọng về quan điểm phát triển KTTN của Đảng. Lần đầu tiên sau một thời gian dài của công cuộc đổi mới, KTTN được khẳng định là “một động lực quan trọng” (Ban Chấp hành Trung ương, 3-6-2017) trong tương quan với các thành phần kinh tế khác. Đảng chủ trương phát triển KTTN lành mạnh, hiệu quả, bền vững, thực sự trở thành một động lực quan trọng của nền kinh tế quốc dân; đồng thời, xác định các nhiệm vụ then chốt, như: tạo môi trường đầu tư thuận lợi, cải cách thể chế, bảo vệ quyền tài sản, nâng cao năng lực quản trị doanh nghiệp và thúc đẩy đổi mới sáng tạo. Nghị quyết này như làn gió mới thúc đẩy phát triển KTTN với nhiều chương trình, chính sách cụ thể được triển khai mạnh mẽ, tiêu biểu như: chương trình quốc gia khởi nghiệp, hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa, thúc đẩy chuyển đổi số trong khu vực tư nhân,…
Cụ thể hóa chủ trương Đại hội XIII (2021) của Đảng, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 68-NQ/TW, ngày 4-5-2025 “Về phát triển kinh tế tư nhân”. Nghị quyết xác định mục tiêu: Đến năm 2030, KTTN là một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế quốc gia; là lực lượng tiên phong trong phát triển khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số;…; tầm nhìn đến năm 2045, KTTN Việt Nam phát triển nhanh, mạnh, bền vững, chủ động tham gia vào chuỗi sản xuất, cung ứng toàn cầu; có năng lực cạnh tranh cao trong khu vực và quốc tế… hình thành được nhiều doanh nghiệp tư nhân có tiềm lực lớn, có khả năng cạnh tranh khu vực và toàn cầu. Nghị quyết đặt ra mục tiêu cụ thể đến năm 2030, phấn đấu có 2 triệu doanh nghiệp hoạt động trong nền kinh tế, trung bình 20 doanh nghiệp hoạt động/nghìn dân. Có ít nhất 20 doanh nghiệp lớn tham gia chuỗi giá trị toàn cầu. Tốc độ tăng trưởng bình quân của KTTN đạt khoảng 10-12%/năm, cao hơn tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế; đóng góp khoảng 55-58% GDP, khoảng 35-40% tổng thu ngân sách nhà nước, giải quyết việc làm cho khoảng 84-85% tổng số lao động; năng suất lao động tăng bình quân khoảng 8,5-9,5%/năm... (Bộ Chính trị, 4-5-2025, tr.3-4).
Như vậy, tư duy của Đảng về phát triển KTTN ngày càng phát triển phù hợp với tình hình thực tiễn đất nước và xu thế toàn cầu. Nghị quyết Trung ương 5 khóa XII, đã chính thức xác lập “động lực quan trọng” của KTTN trong nền kinh tế và đặc biệt là Nghị quyết số 68-NQ/TW của Bộ Chính trị khóa XIII là bước phát triển vượt bậc trong tư duy lý luận của Đảng về phát triển KTTN, là một “động lực quan trọng nhất” trong nền kinh tế.
Ngay sau Nghị quyết số 68-NQ/TW được ban hành, Tổng Bí thư Tô Lâm khẳng định: “trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, phát triển kinh tế tư nhân là sự lựa chọn sống còn để thúc đẩy sản xuất vật chất, tạo ra sự biến đổi xã hội, “sức bật” về trình độ công nghệ, đào tạo nghề, gia tăng khả năng hấp thu vốn, thúc đẩy tăng năng suất lao động, xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật cho chủ nghĩa xã hội” (Tô Lâm, 11-5-2025). Quan điểm này tiếp tục khẳng định phát triển KTTN là yêu cầu khách quan của quá trình xây dựng CNXH ở Việt Nam.
Đại hội XIV (2026) của Đảng tiếp tục nhấn mạnh xóa bỏ mọi rào cản, định kiến, tạo mọi điều kiện thuận lợi để KTTN phát triển cả về số lượng và chất lượng. Như vậy, từ chỗ chưa được thừa nhận, đến xem KTTN là một thành phần của nền kinh tế, đến nay, KTTN được khẳng định là một động lực quan trọng nhất của nền KTTT định hướng XHCN. Quá trình phát triển quan điểm của Đảng về KTTN là minh chứng rõ ràng cho tinh thần đổi mới tư duy và khả năng vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh vào thực tiễn Việt Nam. Qua đó, KTTN đã ngày càng thể hiện vai trò to lớn trong thúc đẩy tăng trưởng, đổi mới sáng tạo, tạo việc làm và nâng cao đời sống nhân dân. Việc phát triển KTTN không nằm ngoài mục tiêu xây dựng nền KTTT định hướng XHCN, nơi mọi thành phần kinh tế cùng phát triển bình đẳng, hướng tới mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh dưới sự lãnh đạo của Đảng. Thực tiễn phát triển KTTN qua 40 năm đổi mới cho thấy, vai trò quan trọng nhất của KTTN là đóng góp vào sự tăng trưởng kinh tế, giải quyết việc làm, tăng thu ngân sách nhà nước. Năm 2025, khu vực KTTN có khoảng hơn 940 nghìn doanh nghiệp cùng hơn 5 triệu hộ kinh doanh hoạt động, đóng góp khoảng 50% GDP, hơn 30% tổng thu ngân sách nhà nước và sử dụng khoảng 82% tổng số lao động (Bộ Chính trị, 4-5-2025). Sự tăng trưởng tích cực của khu vực kinh tế tư nhân đã đóng góp đáng kể vào kết quả thu ngân sách nhà nước. Theo số liệu từ Bộ Tài chính, tính đến hết tháng 5-2026, thu ngân sách nhà nước từ khu vực KTTN đạt 67,9% dự toán năm, tăng 43,6% so với cùng kỳ năm 2025; nộp ngân sách Nhà nước là 502.600 tỷ đồng, đạt 135,7% kế hoạch (Thanh Hằng, 12-6-2026).
 Điều đó khẳng định khu vực KTTN là lực lượng quan trọng thúc đẩy tăng trưởng, đổi mới sáng tạo, nâng cao năng suất lao động, gia tăng năng lực cạnh tranh quốc gia, góp phần xóa đói, giảm nghèo, ổn định đời sống xã hội.
Ba là, kinh tế tư nhân góp phần quan trọng thúc đẩy tăng trưởng nền kinh tế, đổi mới sáng tạo và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia
Thực tiễn qua 40 năm đổi mới đã cho thấy vai trò quan trọng của KTTN trong sự tăng trưởng chung của nền kinh tế, đổi mới sáng tạo và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia. Sự phát triển mạnh mẽ của nhiều doanh nghiệp tư nhân lớn, như: Vingroup, Thaco, FPT, Vietjet Air,… đã khẳng định vị thế trong các lĩnh vực công nghiệp, công nghệ, dịch vụ, hàng không…, chứng minh năng lực cạnh tranh của KTTN ở trong nước và quốc tế. Những doanh nghiệp này không chỉ tạo việc làm cho hàng chục vạn lao động, mà còn góp phần quan trọng vào thu ngân sách, xuất khẩu hàng hóa và đổi mới công nghệ.
Kinh tế tư nhân thúc đẩy đổi mới sáng tạo, khả năng nắm bắt nhanh các xu hướng công nghệ mới và áp dụng vào sản xuất - kinh doanh. Trong nhiều lĩnh vực, doanh nghiệp tư nhân là lực lượng đi đầu trong ứng dụng công nghệ cao, từ nông nghiệp thông minh, năng lượng tái tạo, công nghiệp 4.0 đến ngành thương mại điện tử... Nhiều doanh nghiệp tư nhân quy mô vừa và nhỏ đã mạnh dạn đầu tư vào chuyển đổi số, phát triển nền tảng số để quản lý, bán hàng, chăm sóc khách hàng, tiết kiệm chi phí và mở rộng thị trường. Đặc biệt, trong những năm 2020-2021, khi đại dịch COVID-19 hoành hành, khu vực KTTN đã chứng minh khả năng linh hoạt cao trong việc thích ứng với hoàn cảnh mới, sử dụng công nghệ để duy trì hoạt động và mở rộng các mô hình kinh doanh số. Sự tiên phong của KTTN trong đổi mới sáng tạo đã góp phần nâng cao năng suất lao động, đưa nhiều ngành nghề phát triển vượt bậc cả về quy mô và chất lượng. Đây cũng là động lực quan trọng để Việt Nam từng bước hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước nhanh, bền vững, chuyển từ nền kinh tế gia công, lắp ráp sang nền kinh tế sáng tạo, có giá trị gia tăng cao. KTTN góp phần vào việc cải thiện đời sống người dân, thay đổi diện mạo nông thôn, đô thị. Nhiều doanh nghiệp tư nhân đầu tư vào các khu công nghiệp, khu chế xuất, cụm công nghiệp nông thôn, không chỉ tạo việc làm tại chỗ mà còn phát triển đồng bộ hạ tầng, dịch vụ, giáo dục, y tế. Các doanh nghiệp trong lĩnh vực nông nghiệp công nghệ cao, chế biến nông sản, logistics,… góp phần thay đổi tập quán sản xuất nhỏ lẻ, manh mún, nâng cao giá trị sản phẩm nông nghiệp và mở ra cơ hội tiếp cận thị trường xuất khẩu cho người nông dân. Các mô hình doanh nghiệp liên kết với hợp tác xã, hộ nông dân đang được nhân rộng, giúp tăng thu nhập và đời sống người dân rõ rệt. Các tập đoàn tư nhân đầu tư mạnh vào các lĩnh vực như: bất động sản, dịch vụ, giáo dục, y tế chất lượng cao, thương mại - bán lẻ hiện đại…, làm thay đổi mạnh mẽ diện mạo đô thị, nâng cao chất lượng sống, tăng cường tiếp cận dịch vụ hiện đại của người dân. Bên cạnh đó, nhiều doanh nghiệp tư nhân tích cực thực hiện trách nhiệm xã hội, thông qua các chương trình từ thiện, hỗ trợ người nghèo, học bổng cho học sinh, sinh viên, xây dựng nhà tình nghĩa, chung tay khắc phục hậu quả thiên tai, dịch bệnh,… Những đóng góp đó khẳng định vị trí, vai trò ngày càng vững chắc của KTTN trong đổi mới toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới đất nước.
Sự lớn mạnh của khu vực KTTN cũng là một động lực quan trọng thúc đẩy quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam. Đến năm 2026, có nhiều doanh nghiệp tư nhân không chỉ xuất khẩu hàng hóa mà còn tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu, từng bước làm chủ công nghệ, thương hiệu và mở rộng thị trường ra khu vực và thế giới. Khu vực KTTN luôn nhạy bén với thị trường, đi đầu trong việc ứng dụng công nghệ và chuyển đổi số. Doanh nghiệp tư nhân trong lĩnh vực chế biến, chế tạo, dệt may, da giày, điện tử, nông sản… góp phần gia tăng giá trị trong kim ngạch xuất khẩu hằng năm của Việt Nam. Doanh nghiệp tư nhân còn thu hút vốn đầu tư nước ngoài (FDI) thông qua hợp tác, liên doanh, liên kết trong các lĩnh vực công nghiệp hỗ trợ, nghiên cứu - phát triển, logistics, nông nghiệp công nghệ cao…, góp phần lan tỏa trình độ công nghệ, kỹ năng quản trị và chuẩn hóa quy trình sản xuất. Sự lớn mạnh của các doanh nghiệp tư nhân đã chứng minh năng lực cạnh tranh của khu vực KTTN trong nước và quốc tế, góp phần xây dựng thương hiệu quốc gia và nâng cao vị thế Việt Nam trên trường quốc tế.

Hiện nay, thế giới đang bước vào giai đoạn chuyển đổi sâu sắc dưới tác động của trí tuệ nhân tạo, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, công nghệ bán dẫn, dữ liệu lớn, tái cấu trúc các chuỗi cung ứng toàn cầu. Những chuyển đổi chưa từng có này đã làm thay đổi cách thức sản xuất, kinh doanh, định hình lại trật tự cạnh tranh giữa các quốc gia và doanh nghiệp. Trong bối cảnh đó, lợi thế cạnh tranh không còn chủ yếu dựa vào tài nguyên thiên nhiên, lao động giá rẻ mà là phụ thuộc vào năng lực đổi mới sáng tạo, khả năng làm chủ công nghệ, năng lực tham gia vào các chuỗi giá trị toàn cầu. Đây vừa là thách thức, vừa là cơ hội lớn đối với Việt Nam. Với quy mô thị trường trên 100 triệu dân, vị trí địa kinh tế thuận lợi, độ mở kinh tế thuộc nhóm cao trên thế giới, lực lượng lao động trẻ và năng động, sự đổi mới mạnh mẽ trong cải cách thể chế và phát triển khoa học công nghệ, Việt Nam đang hội tụ nhiều điều kiện thuận lợi để hình thành một thế hệ doanh nghiệp mới, trong đó KTTN sẽ là lực lượng lớn mạnh tiên phong, đủ khả năng vươn ra khu vực và thế giới góp phần xây dựng một nền kinh tế Việt Nam tự chủ, tự cường, đủ sức cạnh tranh trên trường quốc tế.
Những thành tựu đã đạt được trong 40 năm đổi mới là minh chứng quan trọng, bác bỏ hoàn toàn những luận điệu sai trái, xuyên tạc, trái với lý luận và thực tiễn về chủ trương phát triển KTTN của Đảng, cần nhận diện, phản bác và kiên quyết đấu tranh.
3. Kết luận
Chủ trương phát triển KTTN của Đảng là kết quả của quá trình vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh vào thực tiễn Việt Nam. Việc xác định KTTN là một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế thể hiện bước phát triển mới trong tư duy lý luận của Đảng, hoàn toàn phù hợp với mô hình KTTT định hướng XHCN và yêu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn mới. Thực tiễn đó cũng là minh chứng sinh động thuyết phục chủ trương phát triển KTTN của Đảng là hoàn toàn đúng đắn. Đảng kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền CNXH, phát triển KTTN trở thành một động lực quan trọng nhất của nền KTTT định hướng XHCN là phù hợp với yêu cầu phát triển, hội nhập của nền kinh tế đất nước, là ý Đảng - lòng dân; đồng thời bác bỏ luận điệu cho rằng “phát triển KTTN là từ bỏ con đường đi lên CNXH ở Việt Nam”. Đây là quan điểm sai trái, xuyên tạc, trái với cơ sở lý luận và thực tiễn. Do vậy, bảo vệ quan điểm “phát triển KTTN là một động lực quan trọng nhất trong nền KTTT định hướng XHCN” cũng chính là bảo vệ đường lối đổi mới, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng và con đường đi lên CNXH mà Đảng và nhân dân Việt Nam đã lựa chọn.
        
Tài liệu tham khảo
 
Ban Chấp hành Trung ương (18-3-2002). Nghị quyết số 14-NQ/TW về tiếp tục đổi mới cơ chế, chính sách, khuyến khích và tạo điều kiện phát triển kinh tế tư nhân. https://thuvienphapluat.vn/van-ban/Doanh-nghiep/Nghi-quyet-14-NQ-TW-doi-moi-co-che-chinh-sach-khuyen-khich-tao-dieu-kien-phat-trien-kinh-te-tu-nhan-2002-320762.aspx
Ban Chấp hành Trung ương (3-6-2017). Nghị quyết số 10-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân trở thành một động lực quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. https://tulieuvankien.dangcongsan.vn/van-kien-tu-lieu-ve-dang/hoi-nghi-bch-trung-uong/khoa-xii/nghi-quyet-so-10-nqtw-ngay-362017-hoi-nghi-lan-thu-nam-ban-chap-hanh-trung-uong-dang-khoa-xii-ve-phat-trien-kinh-te-tu-560
Bộ Chính trị. (4-5-2025). Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân. https://tulieuvankien.dangcongsan.vn/he-thong-van-ban/van-ban-cua-dang/nghi-quyet-so-68-nqtw-ngay-452025-cua-bo-chinh-tri-ve-phat-trien-kinh-te-tu-nhan-11562.
Đảng Cộng sản Việt Nam. (2008). Văn kiện Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương khóa X, Nxb Chính trị quốc gia
Đảng Cộng sản Việt Nam. (2019). Văn kiện Đại hội Đảng thời kỳ đổi mới: Phần I (Đại hội VI, VII, VIII, IX). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật
Đảng Cộng sản Việt Nam. (2021). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII: Tập I. Nxb Chính trị quốc gia Sự thật
Đảng Cộng sản Việt Nam. (2026). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV: Tập I. Nxb Chính trị quốc gia Sự thật
Nguyễn Hồng Sơn & Phạm Thị Hồng Điệp. (9-6-2017). Phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam: Quan điểm của Đảng và một số vấn đề đặt ra. Tạp chí Cộng sản. https://www.tapchicongsan.org.vn/nghien-cu/-/2018/45322/phat-trien-kinh-te-tu-nhan-o-viet-nam--quan-diem-cua-dang-va-mot-so-van-de-dat-ra.aspx
Phạm Thị Lương Diệu (27-7-2018). Phát triển KTTN ở Việt Nam dưới tác động của việc cải thiện môi trường pháp lý. Tạp chí Cộng sản. https://www.tapchicongsan.org.vn/web/guest/nghien-cu/-/2018/51699/phat-trien-kinh-te-tu-nhan-o-viet-nam-duoi-tac-dong-cua-viec-cai-thien-moi-truong-phap-ly%28*%29.aspx#
Tô Lâm. (11-5-2025). Động lực mới cho phát triển kinh tế. https://baochinhphu.vn/dong-luc-moi-cho-phat-trien-kinh-te-102250511061652535.htm.
Thanh Hằng. (12-6-2026). Đóng góp của kinh tế tư nhân cho ngân sách nhà nước. https://tapchikinhtetaichinh.vn/infographic-dong-gop-cua-kinh-te-tu-nhan-cho-ngan-sach-nha-nuoc-158785.html