Tóm tắt: Xây dựng cơ sở nội tuyến là một nhiệm vụ của công tác binh vận. Trong những năm 1973-1975, dưới sự lãnh đạo của Trung ương Cục miền Nam, Ban Binh vận Trung ương Cục đã tổ chức xây dựng nội tuyến trong các đơn vị chiến lược quân đội Việt Nam Cộng hòa. Cơ sở nội tuyến được xây dựng với nhiều nội dung, hình thức phong phú và sáng tạo, từ đó đã giác ngộ và lôi kéo nhiều binh sĩ Việt Nam Cộng hòa, khuất phục nhiều tên đứng đầu trong quân đội và bộ máy chính quyền đầu não. Thành quả hoạt động của cơ sở nội tuyến trong giai đoạn 1973-1975 đã góp phần to lớn làm tan rã lớn lực lượng binh sĩ Việt Nam Cộng hòa và hạn chế đến mức thấp nhất tổn thất cho cách mạng.

Chiến trường B2 từ năm 1965 đến năm 1975 bao gồm các tỉnh thuộc cực Nam Trung Bộ: Quảng Đức, Tuyên Đức, Ninh Thuận, Bình Thuận, Lâm Đồng, Bình Tuy và các tỉnh Nam Bộ bao gồm: Phước Long, Long Khánh, Phước Tuy, Bình Long, Bình Dương, Biên Hòa, Tây Ninh, Hậu Nghĩa, Long An, Kiến Tường, Kiến Phong, Định Tường, Bến Tre, Gò Công, Châu Đốc, An Giang, Vĩnh Long, Trà Vinh,Cần Thơ, Ba Xuyên, Kiên Giang, Cà Mau, Chương Thiện và đặc khu Sài Gòn-Gia Định.
Sau Hiệp định Pari (1-1973), quân đội Việt Nam Cộng hòa ra sức đánh phá cơ sở cách mạng, đàn áp phong trào binh biến, phản chiến trong quân đội, ngăn cấm quần chúng, gia đình quan hệ với binh sĩ; cấm trại 100% không cho binh sĩ ra khỏi đơn vị, kể cả nghỉ phép; khủng bố những binh sĩ và gia đình họ nếu bỏ ngũ; đôn quân bắt lính, đưa ác ôn xuống làm nòng cốt cho từng đồn bốt, đơn vị để kìm lính, giữ lính và phát hiện cơ sở cách mạng của ta. Những hành động khủng bố của địch đã làm ảnh hưởng lớn đến việc xây dựng cơ sở nội tuyến của ta trong lòng địch. Trên chiến trường B2 cơ sở nội tuyến suy giảm, hoạt động kém hiệu quả, không đủ sức nắm và chỉ đạo công tác.
 
1. Tháng 12-1973, Trung ương Cục miền Nam tổ chức Hội nghị lần thứ 12 đề ra chủ trương: “Phải tích cực khẩn trương xây dựng cơ sở trong lòng địch phục vụ cho yêu cầu trước mắt và lâu dài, nên phải chú ý công tác vận động sĩ quan, nhằm những sĩ quan nhất là từ cấp úy trở xuống. Đối với sĩ quan bên trên cũng phải chú trọng tận dụng mọi khả năng quan hệ tình cảm, kể cả việc khai thác  quan hệ làm ăn buôn bán để tranh thủ hoà hoãn trung lập từng bước, thâm nhập chính sách hoà hợp dân tộc với nhiều mức độ thích hợp. Đối với nguỵ quyền cơ sở và công chức cần vận động phân hoá làm tê liệt tan rã và nắm sử dụng theo thực tế tương quan từng vùng”1.
Tháng 3-1974, Ban Binh vận Trung ương Cục triển khai Đề án công tác binh vận trong tình hình mới, chỉ đạo cơ sở nội tuyến trong bất cứ tình hình nào cũng phải tìm cách đánh địch, những lúc lắng dịu tạm thời lại càng nhân cơ hội ấy mà hành động kiên quyết và táo bạo hơn. Đối với vùng kìm kẹp, vùng ven thị xã cơ sở nội tuyến phải biết nắm dân để nắm lính, nắm lính để phát triển cơ sở và đẩy mạnh phong trào. Đối với vùng tôn giáo di cư (Hòa Hảo, Cao Đài và khu Công giáo di cư) tùy tình hình có thể bố trí đưa người giác ngộ tự nguyện vào quân đội Việt Nam Cộng hòa, đi học sĩ quan chui sâu trèo cao, đáp ứng cho phương hướng lâu dài. Đối với đô thị, thị trấn và thị xã, xây dựng cơ sở trong các trung tâm đầu não các vị trí quan trọng, các nơi hội tụ ác ôn nhà tù, đi vào một số sĩ quan chỉ huy quận trưởng, quận phó, chỉ huy chi khu, quận lỵ để hỗ trợ cho phong trào diệt địch.
Ban Binh vận Trung ương Cục miền Nam yêu cầu các cấp phải thường xuyên bồi dưỡng cơ sở cả về trình độ chính trị và phương pháp vận động trong lòng địch về cách che giấu giữ gìn bí mật để chui sâu trèo cao, tồn tại lâu dài trong lòng địch, biết tự động công tác, xử lý linh hoạt các tình huống phức tạp. Tiến hành bồi dưỡng toàn diện về quan điểm, lập trường, nhận thức chính trị, đạo đức, tác phong trình độ nghiệp vụ, trình độ các mặt công tác khác, tổ chức tinh gọn lấy chất lượng lên hàng đầu. Các cấp tiếp tục vận động phong trào mọi người có chồng con em trong quân đội địch tìm mọi cách tuyên truyền móc nối thành nhân mối, móc nối xong thì bàn giao cho binh vận chuyên trách, chủ động đưa một số cán bộ, đảng viên, quần chúng vào quân đội Việt Nam Cộng hòa. Các cấp triển khai kế hoạch đào tạo cán bộ nội tuyến và cán bộ mật giao chuyên nghiệp, trên cơ sở lấy từ nòng cốt binh vận của các đoàn thể, chú trọng xây dựng cán bộ hợp pháp và đi sâu đào tạo một số thành cán bộ chuyên gỡ đồn, diệt ác, khởi nghĩa2.
Tháng 8-1974, Thường vụ Trung ương Cục ra Nghị quyết về công tác binh vận, nêu rõ: Đẩy mạnh xây dựng cơ sở nội tuyến trong đồn bốt và trong quân ngụy, phấn đấu gây dựng cơ sở binh vận ở 2/3 đồn bốt và 2/3 đội phòng vệ dân sự có cơ sở nội tuyến; 1/3 đại đội bảo an cơ động có cơ sở nội tuyến hoặc cảm tình, mỗi sư đoàn hay quân binh chủng địch có 1chi bộ, hay 1 chi đoàn, hay 1 tổ hạt nhân, 1 số cơ quan đầu não kho tàng, trung tâm huấn luyện…có cơ sở nội tuyến vừa đáp ứng yêu cầu trước mắt, vừa đáp ứng yêu cầu chiến lược cách mạng khi có thời cơ3.
Ngày 4-11-1974 Ban Binh vận Trung ương Cục miền Nam chỉ đạo công tác binh vận trong mùa khô 1974-1975, yêu cầu các cấp khẩn trương tổ chức cơ sở nội tuyến trong lòng địch, có kế hoạch chỉ đạo cơ sở hành động, tạo thành một lực lượng cách mạng nổi dậy từ bên trong liên hiệp với tiến công và nổi dậy bên ngoài. Cơ sở nội tuyến chiến lược hành động đúng thời cơ, đúng thời điểm, gây tác động quân sự, chính trị lớn trong quân đội Việt Nam Cộng hòa, góp phần tạo nên chuyển biến tình hình mạnh mẽ.
Ngày 14-1-1975, Thường vụ Trung ương Cục miền Nam Điện gửi các khu ủy, tỉnh ủy, Quân ủy miền và các Ban Công vận, Nông vận... yêu cầu công tác nội tuyến các cấp thực hiện ngay, chỗ nào làm binh biến khởi nghĩa ly khai được thì tiến hành ngay, vừa làm suy yếu, tan rã lực lượng địch vừa xây dựng, phát triển cơ sở của ta trong hàng ngũ địch.
Ngày 24-3-1975, Thường vụ Trung ương Cục miền Nam ban hành Thông tri số 07 về cuộc vận động chính trị binh vận, vận động quần chúng tiến công binh vận với quy mô lớn, yêu cầu qua cao trào tấn công binh vận của quần chúng mà tuyên truyền giáo dục làm thâm nhập sâu rộng 7 chính sách binh vận vào binh sĩ Việt Nam Cộng hòa với những hình thức mức độ khác nhau để dứt điểm đồn bốt, thúc đẩy binh biến khởi nghĩa từng đơn vị4.
Ngày 29-3-1975, Trung ương Cục miền Nam tổ chức Hội nghị lần thứ 15, ra Nghị quyết đặc biệt về cách mạng miền Nam, chủ trương tổ chức và lãnh đạo phong trào quần chúng rộng mạnh tiến công binh vận và thực hiện binh biến khởi nghĩa trong quân đội Việt Nam Cộng hòa thật kiên quyết, liên tục, táo bạo5.
 
2. Trong 7 tháng đầu năm 1973, có 144 phong trào phản chiến ở Trung Nam Bộ, tại sư đoàn 7 có cả hai tên thiếu tá chỉ huy tiểu đoàn tham gia, ở Bến Tre xây dựng 261 cơ sở trong đồn bốt, Mỹ Tho 80 cơ sở, Kiến Phong 59 cơ sở. Ở Tây Nam Bộ có 118 phong trào, cơ sở nội tuyến liên tục khởi nghĩa diệt 75 đồn bốt, vận động binh sĩ bỏ ngũ lẻ tẻ và tập thể6. Tại Sài Gòn-Gia Định, đêm 23-12-1973, nội tuyến kết hợp với đặc công phá nổ hoàn toàn 35 triệu galong xăng Shell, cuối năm 1973, tại Sài Gòn-Gia Định có 270/360 ấp xây dựng được cơ sở, huyện Thủ Đức xây dựng đựơc 500 cơ sở7.
Từ cuối năm 1974 và đầu năm 1975, Ban Binh vận Tây Nam Bộ cùng với Ban Binh vận Vĩnh Long, Trà Vinh sử dụng 60 cơ sở nội tuyến đánh chất nổ các cơ quan đầu não địch, kho tàng bến bãi, diệt ác, gỡ 40 đồn, diệt 1300 tên, thu 1000 súng. Trên toàn vùng Tây Nam Bộ hết năm 1974 ta xây dựng được 2.000 cơ sở nội tuyến kể cả trong các cơ quan đầu não của địch ở Cần Thơ, cơ sở nội tuyến đánh 483 trận và tổ chức 3 cuộc binh biến, diệt 205 đồn bốt, thu 1975 súng. Tại Sài Gòn-Gia Định đã mở thêm và củng cố trên 300 lõm chính trị, nắm các lực lượng phòng vệ dân sự, dân vệ, cảnh sát. Tháng 10-1974, đội P729 của Ban Binh vận Trung ương Cục chỉ đạo cơ sở nội tuyến tại sân bay Trà Nóc nổ mìn làm hỏng 2 máy bay Skyraider. Tỉnh Bến Tre xây dựng cơ sở nội tuyến trên 400 đồn bốt, cuối năm 1974 có 979 cơ sở nội tuyến trong toàn tỉnh8
Ở Sài Gòn-Gia Định, nửa đầu tháng 4-1975, các đội công tác nội tuyến đã phát triển, liên lạc được với các cơ sở trong Bộ Tổng Tham mưu, các sư đoàn chủ lực, trung tâm huấn luyện Quang Trung, sân bay Tân Sơn Nhất, cơ quan Bộ Tư lệnh Hải quân, Hải quân công xưởng, Ty cảnh sát Gia Định. Tại cực Nam Trung Bộ cơ sở nội tuyến được chỉ đạo kết hợp chặt chẽ với sự nổi dậy của quần chúng và tận dụng kết quả thắng lợi của mũi tiến công quân sự làm binh biến khởi nghĩa phá rã và giành được nhiều đồn bốt địch ở cơ sở. Ở Bình Thuận, thị xã Phan Thiết quần chúng nhân dân nổi dậy kết hợp với cơ sở bên trong và lực lượng bên ngoài giải phóng thị xã. Cơ sở nội tuyến trong 3 mũi góp phần làm tan rã 8 tiểu đoàn, 18 đại đội biệt động, 136 trung đội bảo an, dân vệ và toàn bộ hệ thống lìm kẹp, vận động 14.000 binh sĩ ra đầu hàng nộp vũ khí9.
Để góp phần thúc đẩy thời cơ chiến lược, Ban Binh vận Trung ương Cục phối hợp với quân sự, chỉ đạo cơ sở nội tuyến chiến lược Nguyễn Thành Chung trong phi đoàn 540, sư đoàn 3 không quân Việt Nam Cộng hoà, sáng 8-4-1975 lái máy bay F5E xuất kích từ sân bay Biên Hòa bay đến ném bom dinh tổng thống Nguyễn Văn Thiệu, sau đó bắn phá kho xăng Nhà Bè. Sáng 28-4-1975, Ban Binh vận Trung ương Cục chỉ đạo cơ sở nội tuyến thiếu tá Lê Quang Ninh tiểu đoàn trưởng thuộc trung đoàn 50 sư đoàn 25 ngụy, đưa cả tiểu đoàn 270 người khởi nghĩa về với cách mạng. Cơ sở nội tuyến chiến lược Nguyễn Hữu Hạnh, chiều 29-4-1975, với danh nghĩa phụ tá Tổng Tham mưu trưởng, ra lệnh cho quân đội Việt Nam Cộng hoà án binh bất động ở nguyên vị trí. Sáng 30-4-1975, Nguyễn Hữu Hạnh vận động Đại tướng, Tổng thống Dương Văn Minh và Thủ tướng Vũ Văn Mẫu đầu hàng nhanh chóng vào lúc 9 giờ 30 phút. Cơ sở Triệu Quốc Mạnh, Giám đốc cảnh sát Sài Gòn-Gia Định, lệnh cho cảnh sát không được nổ súng, giải tán 16.000 cảnh sát. Tướng Lâm Văn Phát, Tư lệnh Biệt khu Thủ Đô, đầu hàng và nộp nguyên vẹn căn cứ, biệt khu, vũ khí, phương tiện chiến tranh cho cách mạng. Cơ sở nội tuyến Nguyễn Văn Huấn, Chỉ huy phó trung tâm huấn luyện Quang Trung lệnh cho các trại không được nổ súng, làm tan rã 20.000 khóa sinh, binh lính, sĩ quan ngày 30-4-1975. Chi bộ nội tuyến viễn thông bưu điện do đồng chí Tư Chí, Ủy viên Ban Binh vận Trung ương Cục, trực tiếp chỉ đạo, đã bảo vệ an toàn những nơi trọng yếu như đài Viba, đài diện báo và các xưởng quan trọng sau ngày 30-4-1975. Đội công tác F650 của Ban Binh vận Trung ương Cục chỉ đạo cơ sở nội tuyến vận động binh sĩ các đơn vị tan rã trước ngày 30-4-1975. Cơ sở trong bộ chỉ huy biệt động quân vận động tan rã 2 chiến đoàn, giữ căn cứ giao cho cách mạng. Cơ sở trong bộ chỉ huy sư đoàn thủy quân lục chiến cho tan rã một bộ phận lực lượng. Cơ sở Trung úy hải quân Hứa Chiến Thắng giữ một tàu hải quân không cho chạy sang Philippins, giao lại cho hải quân của ta. Số cơ sở nội tuyến ở rải rác các nơi đều hướng dẫn binh sĩ trong đơn vị địch tan rã hoặc đầu hàng, giúp bộ đội ta tiếp quản nhanh chóng10.
Trong những ngày cuối của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy, tại đồng bằng sông Cửu Long từ Khu ủy đến xã ấp đã liên tục chỉ đạo cơ sở nội tuyến kết hợp chặt chẽ với sự nổi dậy của quần chúng nhân dân và lực lượng vũ trang địa phương nổi dậy làm binh biến khởi nghĩa, hướng dẫn binh sĩ trong đơn vị địch tan rã hoặc đầu hàng, giúp bộ đội ta tiếp quản nhanh chóng và giành chính quyền ở nhiều nơi. Tại trọng điểm thành phố Mỹ Tho, sáng 30-4-1975, sau khi Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng, 8 thanh niên kết hợp với cơ sở nội tuyến chiếm kho súng của phòng vệ dân sự trong trường Nguyễn Đình Chiểu. Tại tỉnh Bến Tre, thiếu tá Bửu cơ sở nội tuyến của ta ra lệnh thiết quân luật, họp sĩ quan còn lại thúc ép chúng đầu hàng vào 20 giờ ngày 30-4-1975, làm tan rã 20.000 binh sĩ Việt Nam Cộng hòa. Tại Cần Thơ, ngày 30-4-1975, cơ sở nội tuyến trong trại nhập ngũ số 4 mở cửa giải phóng 4.000 thanh niên bị bắt lính, mở cửa 2 trại giam giải phóng 6.000 tù chính trị. Đến 10 giờ 30 phút, cơ sở nội tuyến khởi nghĩa chiếm cầu Trà Nóc, kêu gọi toàn bộ binh sĩ Trà Nóc đầu hàng. Tại Kiên Giang, cơ sở nội tuyến Tám Sương, thiếu úy chỉ huy đội xe 433 cùng lực lượng nội tuyến trong đội xe 433 nã súng quật thẳng vào bọn chỉ huy sân bay Rạch Sỏi, đến 15 giờ ngày 29-4-1975 địch đầu hàng11. Tại Long Xuyên và Châu Đốc, binh vận đã chỉ đạo cơ sở nội tuyến phối hợp với sự nổi dậy của quần chúng nhân dân và lực lượng quân sự tại chỗ chiếm đài viễn thông, bãi pháo, sân bay, ty giáo dục, ty ngân khố góp phần làm tan rã 2 vạn quân Hòa Hảo có ý định tử thủ đến cùng. Hành động của Dương Văn Minh ra tuyên bố đầu hàng sáng ngày 30-4-1975 là một phần kết quả của quá trình vận động của cơ sở nội tuyến chiến lược có ý nghĩa to lớn cho cách mạng, được Ban Bí thư Trung ương Đảng ghi nhận “tuyên bố của Dương Văn Minh và nhật lệnh của Nguyễn Hữu Hạnh có tác động nhất định làm giảm ý chí đề kháng của đại bộ phận quân ngụy vào những giờ chót của cuộc chiến tranh, đó là thành công của công tác binh vận chọn đúng đối tượng, tác động đúng thời điểm”12.
Hoạt động nội tuyến trong lòng địch giai đoạn 1973-1975 trên chiến trường B2 được Trung ương Cục và Ban Binh vận Trung ương Cục quan tâm lãnh đạo kịp thời sáng tạo phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ cách mạng. Đã xây dựng được hệ thống cơ sở nội tuyến rộng khắp trong các đơn vị địch, vừa đáp ứng yêu cầu trước mắt vừa có tính chất chiến lược lâu dài. Chỉ đạo hoạt động của cơ sở nội tuyến diễn ra với nhiều hình thức, cơ sở nội tuyến nổi dậy làm binh biến từ cá nhân đến tập thể, cơ sở nội tuyến kết hợp với tiến công quân sự và sự nổi dậy của quần chúng từ bên ngoài nhanh chóng làm tan rã hàng ngũ binh sĩ Việt Nam Cộng hòa, cơ sở nội tuyến tận dụng mâu thuẫn trong hàng ngũ địch để làm binh biến khởi nghĩa. Hoạt động nội tuyến trong lòng địch được chỉ đạo và diễn ra nhịp nhàng, đúng lúc, đúng thời điểm, tác động lớn đến tinh thần binh sĩ Việt Nam Cộng hòa làm cho chúng nhanh chóng suy sụp đi đến tan rã và sụp đổ hoàn toàn. Thắng lợi của hoạt động nội tuyến giai đoạn 1973-1975 đánh dấu sự phát triển cao về xây dựng và sử dụng lực lượng cách mạng trong lòng địch của Đảng, thắng lợi của hoạt động nội tuyến trong lòng địch để lại kinh nghiệm lớn trong việc xây dựng lực lượng cách mạng trong đấu tranh với các thế lực thù địch hiện nay.
 
__________________
1. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập, Nxb CTQG, H, 2011, T. 34, tr. 507-508
2. Xem Ban Binh vận Trung ương Cục: “Đề án công tác binh vận trong tình hình mới”, tài liệu lưu tại Cục Dân vận, Tổng cục Chính trị, Bộ Quốc phòng, H, 1973
3. Xem Thường vụ Trung ương Cục: “Nghị quyết về công tác binh vận trên chiến trường B2”, 1974, Lưu tại Cục Dân vận, Bộ Quốc phòng, tr. 3
4. Xem Thường vụ Trung ương Cục: “Thông tri số 07 về cuộc vận động chính trị binh vận, vận động quần chúng tiến công binh vận với quy mô lớn”, ngày 24-3-1975, P42, ĐVBQ 308, Cục Lưu trữ Trung ương Đảng
5. Xem Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập, Nxb CTQG, H, 2004, T. 36, tr. 506
6. Xem Ban Binh vận Trung ương Cục: “Số liệu công tác binh vận từ sau ký Hiệp định Pari đến tháng 7 năm 1973”, tài liệu lưu Cục Dân vận, Tổng Cục Chính trị, Bộ Quốc Phòng
7, 8, 10, 11. Xem Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh-Tổ Biên tập công tác binh vận: “Tổng kết công tác binh vận trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975) trên chiến trường B2 cũ”, tài liệu lưu tại Cục Dân vận, Tổng cục Chính trị, Bộ Quốc phòng, H, 2000, tr. 129, 129-131, 141-151, 152-162
9. Xem Thường vụ Đảng ủy Bộ Tư lệnh Quân khu 5: Lịch sử Khu 6 (Cực Nam Trung Bộ) trong kháng chiến chống Mỹ (1954-1975), Nxb QĐND, H, 1995, tr. 416
12. Hội đồng chỉ đạo biên soạn Lịch sử Nam Bộ kháng chiến: Lịch sử Nam Bộ kháng chiến, tập II, 1954-1975, Nxb CTQG, H, 2012, tr. 1028.
 
NGUYỄN KHẮC TRAI
Trường Sĩ quan Lục quân 1