Tóm tắt: Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1946 - 1954), các đại đoàn chủ lực đã nhanh chóng trưởng thành cả về số lượng, trình độ tác chiến. Đã phối hợp, hiệp đồng chặt chẽ với bộ đội địa phương, dân quân du kích và lực lượng chính trị của quần chúng thực hiện những đòn đánh quyết định trên chiến trường chính, làm chuyển biến lực lượng và cục diện có lợi cho ta. Chiến thắng vẻ vang của quân và dân ta đã chứng tỏ sức mạnh toàn diện của bộ đội chủ lực, đập tan âm mưu xâm lược của thực dân Pháp, kết thúc thắng lợi cuộc chiến tranh.
1. Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công chưa được bao lâu, chính quyền cách mạng non trẻ phải đối phó với nạn thù trong giặc ngoài. Các thế lực ngoại xâm cấu kết với bọn tay sai phản động trong nước âm mưu xâm lược nước ta một lần nữa. Vận mệnh của dân tộc như “ngàn cân treo trên sợi tóc”. Trước âm mưu và dã tâm của kẻ thù, Đảng đã phát động toàn dân tiến hành cuộc kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp theo đường lối chiến tranh nhân dân, kháng chiến toàn dân, toàn diện, lâu dài, dựa vào sức mình là chính. Đồng thời, ta chủ trương ra sức tranh thủ thời gian, củng cố chính quyền, xây dựng lực lượng, nhất là lực lượng vũ trang mà nòng cốt là bộ đội chủ lực. Trong quá trình lãnh đạo cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, Đảng ta luôn quan tâm đến việc xây dựng bộ đội chủ lực vững mạnh.
Ngày 22-5-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 71/SL về Quân đội quốc gia Việt Nam. Bản quy tắc kèm theo sắc lệnh quy định về tổ chức biên chế quân đội thống nhất từ tiểu đội, trung đội, đại đội, tiểu đoàn, trung đoàn, binh đoàn, tập đoàn của bộ binh, các đơn vị chuyên môn và hỏa lực trợ chiến... Về tổ chức đảng trong quân đội, Sắc lệnh nêu rõ: “Từ cấp trung đội trở lên, bên cạnh người chỉ huy quân sự, có chính trị viên, cấp quân khu có chính trị ủy viên”1. Đây là văn bản có tính nền tảng cho việc xây dựng bộ đội chủ lực của một quốc gia độc lập. Ngày 7-9-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh giao cho đồng chí Hoàng Văn Thái thành lập Bộ Tổng Tham mưu. Đầu năm 1946, Trung ương Quân ủy chính thức được thành lập. Ngày 1-5-1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra Sắc lệnh số 47/SL về tổ chức Bộ Tổng chỉ huy quân đội quốc gia, gồm Bộ Tổng tham mưu, Cục Chính trị, Cục tình báo, Văn Phòng. Hội nghị cán bộ toàn quốc của Đảng (2-1950) nêu rõ: “Làm cho quân đội quốc gia gồm đủ ba tính chất dân tộc, dân chủ và tối tân”2.
Dưới sự lãnh đạo của Đảng, bộ đội chủ lực phát triển mạnh cả về số lượng và tổ chức biên chế. Cuối năm 1946, Vệ quốc đoàn có khoảng 80.000 người, các chi đội Vệ quốc đoàn ở Bắc Bộ và Nam Trung Bộ được chấn chỉnh tổ chức thống nhất theo từng đơn vị cấp trung đoàn (gồm 32 trung đoàn) và 11 tiểu đoàn độc lập. Từ các trung đoàn, thành lập 2 đại đoàn (Đại đoàn 1 và Đại đoàn 2) ở Bắc Bộ và 3 đại đoàn (Đại đoàn 23, Đại đoàn 27 và Đại đoàn 31) ở Nam Trung Bộ3. Tuy niên tháng 11-1946, giải thể các đại đoàn. Riêng Nam Bộ chưa có điều kiện chấn chỉnh thành trung đoàn, vẫn tổ chức chi đội (gồm 25 chi đội)4.
Ngày 29-6-1946, đơn vị pháo binh đầu tiên được thành lập. Tháng 3-1948, Bộ Tổng Tham mưu ra chỉ thị cho các quân khu khẩn trương kiện toàn bộ đội chủ lực, thống nhất chương trình huấn luyện, kết hợp tác chiến với xây dựng. Mỗi Liên khu xây dựng một trung đoàn chủ lực gồm ba tiểu đoàn, mỗi tiểu đoàn thành lập ba đại đội và một đại đội trợ chiến. Giữa năm 1948, quân số bộ đội chủ lực tăng 17% so với năm 1947. Ngày 28-8-1949, Đại đoàn bộ binh 308 được thành lập được tại Đồn Đu, huyện Đồng Hỷ (nay là huyện Phú Lương), tỉnh Thái Nguyên, đồng chí Vương Thừa Vũ được bổ nhiệm làm Đại đoàn trưởng kiêm Chính ủy. Đây là đại đoàn bộ binh chủ lực cơ động đầu tiên của quân đội ta. Tháng 1-1950, Đại đoàn bộ binh 304 chính thức được thành lập, gồm các Trung đoàn 9, Trung đoàn 57 và Trung đoàn 66. Sau chiến dịch Biên giới năm 1950, Trung ương Đảng và Tổng Quân ủy quyết định thành lập Đại đoàn bộ binh 312. Biên chế gồm 3 trung đoàn bộ binh: Trung đoàn 209, Trung đoàn 141 và Trung đoàn 165 và các đơn vị trợ chiến, bảo đảm trực thuộc. Đồng chí Lê Trọng Tấn được cử làm Đại đoàn trưởng kiêm Chính ủy. Mỗi đại đoàn có khoảng 9.500 người5.
Hội nghị cán bộ Trung ương lần thứ tư (miền Bắc Đông Dương) chủ trương: “Bổ sung bộ đội bằng các đội du kích đã trưởng thành và bằng cách tuyển lựa ở địa phương. Tǎng cường các đội chủ lực, tập trung thêm hoả lực”6. Để tiếp tục đẩy mạnh cuộc kháng chiến sang giai đoạn mới, tháng 1-1949, Trung ương Đảng đã triệu tập Hội nghị cán bộ Trung ương lần thứ sáu. Hội nghị nhấn mạnh: “Trọng tâm của công tác lúc này là tiếp tục xây dựng các bộ đội chủ lực”7.
Ngày 21-5-1949, Thường vụ Trung ương Đảng ra Chỉ thị mở Cuộc vận động Rèn luyện cán bộ, chấn chỉnh Quân đội (Rèn cán, chỉnh quân). Đây là Cuộc vận động lớn, được các đơn vị trong toàn quân hưởng ứng sôi nổi, rộng khắp, tạo bước chuyển biến quan trọng trong xây dựng quân đội. Bộ Tổng Tham mưu tổ chức hội nghị rèn cán, chỉnh quẩn ở Sói Mít (Đại Từ, Thái Nguyên), triệu tập hơn 200 cán bộ trung, cao cấp của các liên khu, các cơ quan và các trường của Bộ để nghiên cứu học tập về tình hình, nhiệm vụ kháng chiến; phương pháp tổ chức chỉ huy, quản lý bộ đội và một số vấn đề về chiến thuật. Trong đó, vấn đề quan trọng được Hội nghị tập trung làm rõ là tiến lên chiến tranh chính quy, vận động chiến và sự phối hợp binh chủng trong tác chiến tập trung quy mô lớn.
Tổng Chính ủy mở nhiều lớp bồi dưỡng chỉnh đốn tác phong, rèn luyện tính đảng, tính giai cấp, đạo đức cách mạng, phương pháp lãnh đạo trong sinh hoạt ở chi bộ và tổ đảng. Các học viên được học tập các tài liệu: “Cộng sản sơ giải”, “Đảng là gì”, “Điều lệ Đảng”, “Công tác chi bộ”, “Sửa đổi lối làm việc”, “Vệ quốc quân người công dân tiên phong”,… qua đó đã tạo chuyển biến quan trọng về xây dựng bản lĩnh chính trị, lập trường giai cấp và năng lực lãnh đạo của đội ngũ cán bộ.
Hệ thống tổ chức Đảng trong quân đội được kiện toàn từ Trung ương Quân ủy đến chi bộ ở các đơn vị cơ sở. Hệ thống cơ quan chính trị được xây dựng ở các cấp. Năm 1947, toàn quân có 10.000 đảng viên; năm 1950, mỗi chi bộ đại đội có từ 60 đến 70 đảng viên, chiếm 1/3 tổng quân số; số lượng đảng viên trong toàn quân là 50.000 người, chiếm 34% tổng quân số cán bộ quân đội từ cấp trung đội đến cấp trung đoàn và tương đương8.
Công tác đào tạo cán bộ cho quân đội cũng được Đảng quan tâm. Trường Quân chính kháng Nhật được đổi tên thành Trường Cán bộ Việt Nam, mở nhiều lớp đào tạo cán bộ quân sự. Tiếp đó, các trường đào tạo cán bộ quân sự, chính trị phục vụ kháng chiến lần lượt ra đời như: Trường Quân chính Bắc Sơn, Trường Quân chính Xứ ủy Trung Kỳ, Trường Quân chính Nam Bộ. Tổng số cán bộ các cấp được đào tạo trong năm 1949 là 3.046 người, tăng 16% so với năm 1948 (trong đó cấp tiểu đoàn tăng 47, cấp đại đội tăng 143, cấp trung đội tăng 128). Cán bộ các binh chủng được đào tạo 766 người tăng 37% so vối năm 1948, bổ túc được 258 cán bộ, trong đó các binh chủng tăng 7% so với năm 19489.
Đến cuối năm 1950, quân đội Việt Nam đã xây dựng được 3 đại đoàn và 14 trung đoàn chủ lực. Các binh chủng bảo đảm chiến đấu, như: Pháo binh, công binh, thông tin được biên chế trong Đại đoàn 308; Trung đoàn 174, 209 tiếp tục được kiện toàn và nâng cao khả năng chiến đấu hợp đồng quân binh chủng.
2. Sau chiến thắng Biên giới (1950), Đảng chủ trương chấn chỉnh bộ đội, tiếp tục đẩy mạnh xây dựng bộ đội chủ lực lên cấp đại đoàn. Đại hội II (2-1951) của Đảng xác định: “Phải tích cực xây dựng bộ đội chính quy, củng cố bộ đội địa phương và phát triển dân quân du kích, xây dựng Đảng và công tác chính trị trong quân đội”10. Chú trọng xây dựng về chính trị, quân sự, hậu cần bảo đảm, lấy xây dựng chính trị làm cơ sở. “Phải củng cố sự lãnh đạo của Đảng trong quân đội, nắm vững sự lãnh đạo tư tưởng trong toàn quân”11; “tích cực nâng cao chất lượng của bộ đội chủ lực tức là phải thực hiện biên chế, tiến hành chỉnh huấn (chú trọng về chính trị) thực hiện từng bước tiêu chuẩn cung cấp, thi hành chế độ cấp ủy”12.
Quán triệt chủ trương của Đảng, quân đội tiếp tục tổ chức thêm một số đại đoàn chủ lực cơ động trực thuộc Bộ Tổng tư lệnh. Ngày 16-1-1951, tại Đình Móng Lá, huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình, Đại đoàn bộ binh 320 được thành lập, biên chế gồm 3 trung đoàn bộ binh: 48, 64, 52 cùng các cơ quan và một số đơn vị trợ chiến, bảo đảm khác. Đồng chí Văn Tiến Dũng được cử làm Đại đoàn trưởng kiêm Chính ủy. Ngày 27-3-1951, Bộ Tổng tư lệnh quyết định thành lập Đại đoàn công pháo 351, gồm: Trung đoàn công binh 151, Trung đoàn 675 sơn pháo 75mm và Trung đoàn 45 pháo xe kéo 105mm, xưởng sửa chữa xe, pháo, khí tài và các cơ quan đại đoàn. Đây là đại đoàn binh chủng (gồm công binh, pháo binh) đầu tiên của quân đội ta. Tiếp đó, ngày 1-5-1951, Đại đoàn bộ binh 316 được thành lập tại làng Cốc Lùng, huyện Thoát Lãng (nay là huyện Văn Lãng), tỉnh Lạng Sơn. Biên chế gồm 3 trung đoàn bộ binh: 174, 98, 176, một số đơn vị binh chủng và các cơ quan. Đồng chí Lê Quảng Ba được cử làm Đại đoàn trưởng và đồng chí Chu Huy Mân làm Chính ủy. Ngày 23-6-1951, Bộ Tổng tham mưu chỉ thị cho Mặt trận Bình-Trị-Thiên: Gấp rút củng cố bộ đội địa phương, phát triển dân quân du kích, sẵn sàng thay thế lực lượng chủ lực, tiến tới xây dựng đại đoàn chủ lực ở Bình-Trị-Thiên. Đến ngày 5-12-1952, Đại đoàn bộ binh 325 được thành lập. Biên chế gồm 3 trung đoàn bộ binh: 101, 18, 95 và một số đơn vị trợ chiến, bảo đảm khác. Đồng chí Trần Quý Hai được cử làm Đại đoàn trưởng kiêm Chính ủy đại đoàn. Việc thành lập Đại đoàn đánh dấu bước trưởng thành mới của quân đội ta trong quá trình xây dựng và phát triển các binh chủng, góp phần nâng cao sức mạnh chiến đấu hiệp đồng binh chủng trong các chiến dịch, nhất là giai đoạn cuối cuộc kháng chiến.
Tại các Liên khu, bộ đội chủ lực cũng được củng cố và phát triển thích hợp với điều kiện chiến trường ở các địa phương. Ở Nam Bộ, mỗi Phân liên khu có một tiểu đoàn chủ lực (Tiểu đoàn 302 ở Phân liên khu miền Đông, Tiểu đoàn 307 Phân liên khu miền Tây); Ở cực Nam Trung Bộ có Trung Đoàn 812; Liên khu V có Trung Đoàn 108 và Trung Đoàn 803; Liên khu III có Trung Đoàn 42 và Trung Đoàn 46. Ở Liên khu Việt Bắc có Trung đoàn 238.
Cùng với xây dựng tổ chức, Tổng Quân ủy và Bộ Tổng tư lệnh đã tiến hành các biện pháp nâng cao chất lượng bộ đội chủ lực về chính trị, quân sự, hậu cần. Tháng 4-1952, thực hiện Nghị quyết HNTƯ 3 khoá II của Đảng và Kế hoạch của Tổng cục Chính trị, các Đảng bộ trong bộ đội chủ lực tiến hành chỉnh huấn chính trị. Từ tháng 5-1952, tất cả các đơn vị chủ lực từ liên khu 5 trở ra. Đây là cuộc vận động học tập chính trị sâu, rộng nhất kể từ khi thành lập quân đội. Cán bộ từ cấp đại đội trở lên được học tập tài liệu “Mấy vấn đề cách mạng Việt Nam”, cán bộ trung đội, tiểu đội được học tập các tài liệu “Quân đội nhân dân Việt Nam”, “Kháng chiến trường kỳ nhất định thắng lợi”.
Tháng 5-1953, Tổng Quân ủy ra nghị quyết về chỉnh quân chính trị năm 1953 trong quân đội. Từ tháng 6-1953, các Đại đoàn chủ lực lần lượt triển khai chỉnh huấn chính trị. Đợt chỉnh huấn chính trị bộ đội nâng cao một bước về giác ngộ giai cấp, hiểu biết về chủ nghĩa Mác-Lênin, đường lối cách mạng của Đảng, góp phần nâng cao bản lĩnh chính trị, quyết tâm thực hiện thắng lợi nhiệm vụ kháng chiến.
Về tổ chức đảng và cơ chế lãnh đạo trong quân đội, ngày 20-5-1952, Trung ương Đảng ra Nghị quyết số 07/NQ-TW “Về chế độ cấp ủy đảng trong bộ đội chủ lực”, quyết định bỏ chế độ “Chính ủy tối hậu quyết định”, thành lập chế độ cấp ủy Đảng trong bộ đội chủ lực, quy định rõ tổ chức đảng ở các cấp, nhiệm vụ, quyền hạn, các mối quan hệ... Việc thưc hiện chế độ Đảng ủy đã tránh được những hạn chế lãnh đạo của Đảng, đảm bảo sự lãnh đạo của Đảng về chủ trương và đường lối lớn, đi đôi với chế độ Thủ trưởng; thực hiện nguyên tắc dân chủ tập trung trong lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng bộ đội chủ lực.
Trải qua 9 năm kháng chiến (1945-1954), Đảng luôn quan tâm xây dựng bộ đội chủ lực về số lượng và chất lượng. Sự trưởng thành của bộ đội chủ lực đã trở thành lực lượng nòng cốt cùng toàn dân, toàn quân tiến hành cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp đi đến thắng lợi. Thắng lợi đó đã khẳng định sự đúng đắn, sáng tạo của Đảng trong hoạch định đường lối kháng chiến nói chung, xây dựng bộ đội chủ lực nói riêng.
1. Tổng cục Chính trị: Tổ chức lãnh đạo của Đảng trong quân đội nhân dân Việt Nam, Biên niên, T. 1 (1930-1954), Nxb QĐND, H, tr. 104
2. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập, Nxb CTQG, H, 2001, T.11, tr. 207
3, 4. Phan Ánh Tuyết: “Quá trình hình thành các đại đoàn chủ lực theo tư tưởng Hồ Chí Minh”, Tạp chí Lịch sử quân sự Việt Nam, số 5-2014
5. Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam: Lịch sử cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1945-1954), Nxb QĐND, H, 2017, T. 7, tr. 237-238
6. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập, Nxb CTQG, H, T. 9, tr. 96
7. Sđd, T.10, tr. 87
8. Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam: Lịch sử cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1945 - 1954), Nxb QĐND, H, 2011, T. 4, tr. 93
9. Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam: Lịch sử Tổ chức quân sự Việt Nam (1930-1954), Nxb QĐND, H, 2015, T. 3, tr. 374-375
10, 11, 12. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập, Sđd, T. 12, tr. 423, 590, 588.
ThS Hồ Mậu Dũng
Trường Sĩ quan Lục quân 1