1. Mở đầu
Vấn đề cơ bản của tất cả các cuộc cách mạng là vấn đề chính quyền. Trong bản Tuyên ngôn Độc lập đọc tại Vườn hoa Ba Đình (Hà Nội) ngày 2-9-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tóm lược quá trình giành chính quyền và những thành tựu cơ bản nhất của cuộc Cách mạng Tháng Tám như sau: “Pháp chạy, Nhật hàng, vua Bảo Đại thoái vị. Dân ta đã đánh đổ các xiềng xích thực dân gần 100 năm nay để gây nên nước Việt Nam độc lập. Dân ta lại đánh đổ chế độ quân chủ mấy mươi thế kỷ mà lập nên chế độ Dân chủ Cộng hòa”1. Như vậy, “nước Việt Nam độc lập” và “chế độ dân chủ cộng hòa” là hai thành tựu cơ bản, to lớn nhất của cuộc Cách mạng Tháng Tám.
Về vấn đề thứ nhất, tức là cuộc đấu tranh của nhân dân Việt Nam nhằm giành độc lập, củng cố và giữ gìn nền độc lập dân tộc, thống nhất đất nước và sự toàn vẹn của chủ quyền quốc gia, đã được giới nghiên cứu ở cả Việt Nam và nước ngoài dành cho sự quan tâm sâu sắc và mạnh mẽ. Hàng vạn công trình đã đi sâu nghiên cứu về cuộc đấu tranh này trong các giai đoạn lịch sử trước, trong và sau cuộc Cách mạng Tháng Tám. Tuy nhiên, về vấn đề thứ hai, tức là cuộc đấu tranh nhằm lật đổ chế độ quân chủ chuyên chế, xác lập và củng cố chế độ cộng hòa ở Việt Nam, thì cho tới nay vẫn còn là một khoảng trống lịch sử chưa được giới nghiên cứu dành cho sự quan tâm thỏa đáng. Đây thực sự là một điều rất đáng tiếc, bởi việc xác lập chế độ cộng hòa chắc chắn là một dấu mốc lớn, một bước ngoặt có ý nghĩa lớn lao trong lịch sử chính trị toàn thế giới cũng như trong lịch sử chính trị của nhiều quốc gia-dân tộc, trong đó có Việt Nam. Làm rõ vấn đề này chắc chắn sẽ góp phần quan trọng vào việc nhận thức đầy đủ, đúng đắn hơn về tầm vóc, tính chất và ý nghĩa lịch sử của cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945.
2. Khái lược về nền cộng hòa trong lịch sử chính trị thế giới
Trong lịch sử chính trị thế giới, cộng hòa là một loại chế độ chính trị được ghi nhận là xuất hiện khá sớm-khoảng 5 thế kỷ trước Công nguyên ở Hy Lạp và La Mã cổ đại. Trải qua hàng chục thế kỷ, đã có nhiều mô hình nền cộng hòa xuất hiện, tuy mang những sắc thái và đặc trưng khác nhau, nhưng hai đặc điểm phổ biến, có thể được xem như cốt lõi hay bản chất của chế độ cộng hòa là: quyền lực của nhà nước được ủy thác vào các cá nhân và các thiết chế chính trị hình thành thông qua bầu cử và các cá nhân và thiết chế chính trị đó thực thi quyền lực của mình dựa trên hệ thống luật pháp được xã hội thừa nhận. Như vậy, xét về bản chất, chế độ cộng hòa vừa là sản phẩm của nền dân chủ và pháp quyền, lại vừa là công cụ duy trì và thực thi nền dân chủ và pháp quyền. Do đó, chế độ cộng hòa được xem như mặt đối lập trực tiếp và tuyệt đối của các loại hình quyền lực chính trị thế tập (hereditary power-quyền lực do thừa kế mà có) và thần quyền (divine power), tức là đối lập hoàn toàn với chế độ quân chủ, nhất là chế độ quân chủ chuyên chế. Đây chính là lý do mà trong lịch sử chính trị thế giới cận đại và hiện đại, việc lật đổ chế độ quân chủ, xác lập nền cộng hòa luôn luôn được xác định là mục tiêu chiến lược quan trọng nhất của tất cả các cuộc vận động dân chủ, bao gồm cả các cuộc vận động cải cách và cách mạng.
Để có thêm cơ sở cho việc tìm hiểu và thảo luận về tư tưởng cộng hòa và cuộc đấu tranh xác lập chế độ cộng hòa dân chủ ở Việt Nam trong Cách mạng Tháng Tám năm 1945, cần phải điểm qua về một số mô hình nền cộng hòa đã từng xuất hiện trong lịch sử chính trị thế giới.
Thời cổ đại, chế độ cộng hòa đã từng tồn tại ở La Mã và Hy Lạp cổ đại (Athena và Sparta). Dù được tổ chức dưới các hình thức khác nhau, song, về bản chất, đây đều là những chế độ cộng hòa chủ nô, dựa trên nền dân chủ chủ nô và thực thi pháp luật của nhà nước chiếm hữu nô lệ.
Trong thời kỳ trung đại, lịch sử phương Tây chính là lịch sử của chế độ phong kiến với nền chính trị quân chủ chuyên chế, trong đó vương quyền câu kết chặt chẽ với thần quyền, cùng nhau thống trị xã hội theo những luật pháp hà khắc của nhà nước quân chủ và giáo hội Thiên chúa. Rõ ràng là ở phương Tây thời này không có chỗ cho sự tồn tại của bất kỳ nền cộng hòa dân chủ nào. Trong khoảng thời gian từ thế kỷ XI đến thế kỷ XV đã xuất hiện những thành thị dựa trên cơ sở phát triển của mầm mống kinh tế hàng hóa với các phường hội thủ công và buôn bán nhỏ-thường gọi là các thành thị trung đại. Về phương diện chính trị, có thể xem các thành thị này là một mô hình cộng hòa đặc biệt. Về cơ bản các thành thị là những ốc đảo tự do, có quyền tự trị, ở đó các “công dân” thành thị được tự do, không bị trói buộc bởi các luật lệ hà khắc của các lãnh chúa phong kiến. Tuy nhiên, cuộc sống của họ lại bị chế định bởi vô số quy ước không kém phần phức tạp và nghiêm khắc của các phường hội. Vì vậy, chế độ “cộng hòa phường hội” cũng không để lại nhiều dấu ấn trong thời đại của nó cũng như trong lịch sử chính trị thế giới.
Nền cộng hòa dân chủ chỉ thực sự bắt đầu với các cuộc cách mạng tư sản thời cận đại, đặc biệt là cuộc Đại Cách mạng Pháp (1789). Dưới hai hình thức chủ yếu-nền cộng hòa đại nghị (parliamentary republic) và cộng hòa tổng thống (presidential republic)-nền cộng hòa đã trở thành một trong những thành tựu chính trị vĩ đại của văn minh phương Tây và văn minh nhân loại, thực sự là phương thức tổ chức quyền lực cơ bản nhất của chế độ dân chủ. Đương nhiên, ở phương Tây và ngay tại chính nước Pháp, cuộc đấu tranh giữa thể chế cộng hòa và quân chủ đã diễn ra quyết liệt, ròng rã suốt từ cuối thế kỷ XVIII đến đầu thế kỷ XX, trong đó, không ít lần nền cộng hòa bị lật đổ và chế độ quân chủ chuyên chế lại được phục hồi toàn vẹn hoặc phục hồi một phần. Phải đến sau cuộc Thế chiến I dường như địa vị thống trị của nền cộng hòa mới được khẳng định vững chắc ở phương Tây. Kể từ đó, chế độ quân chủ dẫu còn tồn tại ở một số nước, như Anh, Tây Ban Nha, Bỉ, Hà Lan v.v. thì ngôi vị quân chủ cũng chủ yếu chỉ còn mang tính biểu tượng.
Trong cuộc hành trình chung của nhân loại đi tới nền cộng hòa dân chủ, việc xác lập chế độ Cộng hòa Xô viết ở nước Nga vào năm 1917 có một ý nghĩa lịch sử đặc biệt. Đây là thành tựu của cuộc cách mạng vô sản đầu tiên trên thế giới, và do đó, nền cộng hòa dân chủ được xác lập mang bản chất chính trị khác với nền cộng hòa tư sản: vừa là phương thức khẳng định quyền lực chính trị, quyền làm chủ của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, vừa là một công cụ chuyên chính để trấn áp sự nổi dậy của các thế lực phản cách mạng và xây dựng chế độ xã hội mới. Sau năm 1917, chế độ cộng hòa Xô viết còn được xác lập ở một số nước hoặc địa phương ở Tây Âu trong làn sóng cách mạng 1918-1923, song, đều chỉ tồn tại được trong một thời gian ngắn. Sự xuất hiện của chế độ cộng hòa Xô viết ở Liên Xô và một số nước Tây Âu trước năm 1945 chắc chắn có giá trị tham khảo cao cả về lý luận và thực tiễn đối với Đảng Cộng sản Việt Nam sau này, trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam.
3. Vấn đề nền cộng hòa trong lịch sử chính trị Việt Nam
Ở Việt Nam, với chiến công vĩ đại trên sông Bạch Đằng năm 938, nền độc lập dân tộc được khôi phục sau hơn 1.000 năm Bắc thuộc. Suốt 9 thế kỷ sau đó, mô hình nhà nước Việt Nam độc lập là nhà nước quân chủ chuyên chế. Dẫu rằng tư tưởng thân dân, coi việc “khoan thư sức dân để làm kế sâu rễ bền gốc” là “thượng sách giữ nước”2 hay công khai tuyên bố “việc nhân nghĩa cốt ở an dân”3 và cho dù đã ban hành nhiều bộ luật để “trị nước”, song, chế độ quân chủ chuyên chế ở Việt Nam cũng vẫn là mặt đối lập tuyệt đối với nền cộng hòa, bởi ở đó không có chỗ cho bất kỳ sự tham dự chính trị nào của người dân.
Trong làng xã, chốn hương thôn truyền thống, các nhà nghiên cứu đều ghi nhận có sự tồn tại của một loại hình “dân chủ làng xã” nào đó-một thứ dân chủ được biểu trưng bởi sự tồn tại của hội đồng kỳ mục, của tục lệ bầu lý trưởng, của phép chia cấp công điền… đã từng khiến cho Paul Doumer và một số quan chức thực dân Pháp ngỡ ngàng, gọi làng xã Việt Nam là những “nền tiểu cộng hòa” (le petit republique). Tuy nhiên, nghiên cứu sâu hơn về hiện tượng này từ tiếp cận văn hóa chính trị đã cho thấy rõ, cái gọi là “dân chủ làng xã” thực chất chỉ là một thứ dân chủ của một nhóm nhỏ những phần tử “bề trên” ở nông thôn (rural elite), và do đó, là một thứ đầu sỏ chính trị được tổ chức một cách khôn khéo (well-organized oligarchy). Ở đó, tuyệt đại đa số người dân vẫn bị gạt ra ngoài quá trình chính trị4. Cái gọi là “chúng chí thành thành” hay “anh em hòa mục, cả nước nhà góp sức”5 chỉ là biểu hiện nhất thời của đoàn kết dân tộc trong những thời khắc vận nước nguy nan, còn ngay sau đó, trật tự của chế độ quân chủ chuyên chế lại phải được khôi phục, ở đó, nói theo cách của Nhân Huệ Vương Trần Khánh Dư, thì: “Tướng là chim ưng, dân lính là vịt, dùng vịt để nuôi chim ưng thì có gì là lạ!”6.
Càng về sau, chế độ quân chủ chuyên chế càng trở nên tập quyền (centralized) hơn, thậm chí đạt đến mức cực quyền (totalitarian) dưới thời Nguyễn. Không chỉ ở cấp độ trung ương, nơi người dân không thể có bất kỳ tiếng nói nào, mà ngay cả ở chốn hương thôn, hương đảng đã trở thành “tiểu triều đình”, kéo bè kết cánh, hà lạm và ra sức áp bức dân lành. Chính chế độ quân chủ chuyên chế tập quyền cao đó đã bóp nghẹt mọi sáng kiến, làm hao mòn và triệt tiêu các nguồn xung lực phát triển của dân tộc, làm cho đất nước trở nên suy kiệt, lạc hậu, yếu hèn.
Theo phân tích của Phan Bội Châu và các nhà Nho yêu nước, cấp tiến đầu thế kỷ XX thì đó chính là nguyên nhân cội nguồn của việc nước ta mất vào tay giặc Pháp. Phan Bội Châu khẳng định: “Không phải người Pháp đến lấy nước ta mà nước ta bị mất. Chính người nước Nam ta đã làm mất nước Nam ta”7. Và Cụ lý giải điều này như sau: “Một là từ trước đến nay vua không biết đến có dân; Một nữa là từ trước đến nay quan lại không biết có dân; Lại một nữa là từ trước đến nay dân của nước không biết có nước”8. Gộp chung cả ba điều trên, Phan Bội Châu vạch rõ: “Cái nọc độc chuyên chế của bọn người hại dân ấp ủ đã hàng ngàn năm nay từ bên Trung Quốc lây sang nước ta, đến nỗi một tên độc phu (vua) và vài vạn kẻ dung nhân (quan) làm cá làm thịt trăm họ dân ta. Thế mà dân ta ngu ngốc khờ dại, không biết giành dân quyền, giữ quốc mệnh, chỉ ngày đêm lo hết lòng hết sức đem máu mỡ của mình cung đốn cho bọn độc phu, dung nhân uống nuốt!”9.
Vì vậy, muốn cứu nước, giải phóng dân tộc, Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh và thế hệ nhà Nho cấp tiến đầu thế kỷ XX đều nhất trí với nhau trong một định hướng chiến lược chung: phải thức tỉnh nhân dân, đoàn kết nhân dân, “khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh”, gắn sự nghiệp cứu quốc với sự nghiệp duy tân để mở đường đi tới một “nước Việt Nam mới”. Năm 1907, cụ Phan viết: “Sau khi đã duy tân rồi, thì dân trí sẽ mở mang, dân khí sẽ lớn mạnh, dân quyền sẽ phát đạt; vận mệnh nước ta do dân ta nắm giữ. Giữa đô thành nước ta đặt một tòa Nghị viện lớn. Bao nhiêu việc chính trị đều do công chúng quyết định. Thượng nghị viện phải đợi Trung nghị viện đồng ý, Trung nghị viện phải đợi Hạ nghị viện đồng ý mới được thi hành. Hạ nghị viện là nơi đa số công chúng có quyền tài phán việc của Trung nghị viện và Thượng nghị viện. Phàm nhân dân nước ta, không cứ là sang hèn, giầu nghèo, lớn bé đều có quyền bỏ phiếu bầu cử”10.
Như vậy là từ những năm đầu thế kỷ XX, chế độ cộng hòa dân chủ đã thực sự trở thành một mục tiêu chiến lược trong cương lĩnh của phong trào yêu nước và cách mạng Việt Nam11. Về sau, hầu hết tất cả các đảng phái chính trị, kể cả các đảng phái cải lương và các tổ chức yêu nước và cách mạng, cho dù khác biệt, thậm chí đối lập với nhau về lập trường và ý thức hệ chính trị, như Việt Nam Quang phục hội (1912), Đảng Lập hiến (1917), “Đảng Nguyễn An Ninh” (1923), Hội Việt Nam cách mạng Thanh niên (1925), Việt Nam Quốc dân Đảng (1927), Tân Việt (1927), Đảng Cộng sản Việt Nam (1930), Việt Nam cách mạng đảng (1940) v.v. đều tán thành xác lập chế độ cộng hòa sau khi nền độc lập dân tộc được khôi phục.
Điều đáng ngạc nhiên là: chính một số nhóm trí thức Tây học được coi là hạt nhân của giới “thượng lưu bản xứ” ở Việt Nam thời cận đại lại là những nhóm giữ lập trường quân chủ, không chủ trương thành lập chế độ cộng hòa dân chủ. Ba nhóm điển hình nhất nổi lên từ sau Thế chiến I, nhất là trong thời kỳ Thế chiến II là: nhóm Nam Phong, nhóm Phục Quốc và nhóm Nội các Trần Trọng Kim.
Nhóm Nam Phong vốn là một nhóm khá đông đảo, không thuần nhất về thành phần, trình độ và lập trường, quy tụ xung quanh tờ Nam Phong Tạp chí (7-1919 - 12-1934). Với vai trò là Chủ nhiệm kiêm Chủ bút và là cây bút có ảnh hưởng nhiều nhất, Phạm Quỳnh chính là thủ lĩnh của nhóm này. Là người học vấn quảng bác, lại để tâm khảo cứu và truyền bá tích cực cho các học thuyết và thể chế, luật pháp Đông, Tây, nhưng cho đến năm 1930 hầu như Phạm Quỳnh và nhóm Nam Phong còn chưa dám bộc lộ công khai chính kiến của mình về chính thể mà họ khao khát về “một tương lai huy hoàng và độc lập xứng đáng với hoài bão của giống nòi”12. Nhưng từ năm 1931, nhất là trong dịp Bộ trưởng Thuộc địa Paul Reynaud sang kinh lý Đông Dương thì nhóm này đã công khai tuyên bố về khát vọng cải cách, xác lập chế độ quân chủ lập hiến, chứ không phải chế độ cộng hòa dân chủ, coi đó như một chế độ chính trị tối ưu cho Bắc Kỳ và Trung Kỳ. Phạm Quỳnh biện luận về vấn đề này như sau:
“Cải cách theo phương pháp như vậy, thì vừa bảo toàn được quyền lợi của Bảo-hộ, của Quốc-vương và của quốc-dân, và có nhiều sự lợi ích về ba phương diện như sau nầy: 1) Về phương diện tinh thần, nước Nam vẫn còn là nước Nam, vẫn còn lưu tên tuổi trên lịch sử địa dư thế giới mãi mãi... 2) Về phương diện xã hội, nước ta vốn sinh trưởng trong cái chế độ gia-trưởng, gia-đình, xã-hội, quốc-gia đều như đúc trong cái khuôn thiên-cổ đó đã từ mấy nghìn năm đến giờ. Nay giữ cái chính thể quân chủ mà lại cải cách duy tân đi, đổi quân chủ chuyên-chế ra quân chủ lập-hiến thời nhất diện giữ được cái nguyên tắc lập quốc và nhân do duy-trì được trật-tự trong xã hội, nhất diện gây ra cái chính thể quân-dân cộng trị, khiến cho quốc-dân cũng được tham dự vào quyền nước, thuận cái phong trào bình dân ngày nay, có thể giữ cho xã-hội điều hòa... 3) Về phương diện chính trị, về phương diện này sự lợi ích lại càng nhiều lắm nữa. Có hiến-pháp phân minh thời tiện thị gây ra một cái đời chính trị chung, người có tài kẻ có chí có một cái trường sở để ra ganh đua mà mưu toan việc nước...”13. Phạm Quỳnh say sưa biện bác cho cái hiến pháp đó và khẩn khoản kêu nài với Paul Reynaud: “Chúng tôi là một dân tộc đương đi tìm tổ-quốc mà không thấy tổ-quốc đâu.... cái tổ-quốc đó nước Pháp có thể vì chúng tôi mà khôi phục lại được, là ban cho chúng tôi một hiến-pháp thế nào cho quan niệm quốc-gia của chúng tôi được phát-triển ra cho chúng tôi có một đời làm nước xứng đáng...”14.
Không phải ngẫu nhiên mà Phạm Quỳnh và nhóm Nam Phong lại công khai phơi bày bộ mặt “chủ nghĩa quốc gia ăn xin” ra ở vào thời điểm này. Những năm 1930-1931 là thời gian diễn ra cuộc khởi nghĩa vũ trang do Việt Nam Quốc dân đảng phát động. Tiếp đó là cao trào cách mạng sục sôi của hàng triệu quần chúng nhân dân do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, đạt tới đỉnh cao ở hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh với sự ra đời của chính quyền Xô viết. Lúc đầu, thực dân Pháp cũng định dập tắt cao trào cách mạng này bằng vũ lực, song, người Pháp đã sớm nhận ra rằng càng đàn áp, ngọn lửa đấu tranh càng bùng lên dữ dội. Vì vậy, từ đầu năm 1931, thực dân Pháp đã quyết định lợi dụng tối “uy tín” chính trị của Nam triều kết hợp với bạo lực để đàn áp cách mạng. Sau khi cao trào cách mạng suy yếu và bị dập tắt, lập tức thực dân Pháp cho tiến hành một chương trình cải cách gồm 19 điểm vốn được Toàn quyền Pierre Pasquier ấp ủ từ mấy năm trước, trong đó có nội dung cốt yếu là lập ra một “nghị viện Đông Dương” và cùng với đó là cải tổ các “viện dân biểu”, “hội đồng quản hạt” ở các xứ, khoác cho những thiết chế này cái vỏ bọc của “cơ quan đại diện dân cử” nhằm lôi kéo sự ủng hộ của các tầng lớp “thượng lưu bản xứ”. Đặc biệt, thực dân Pháp chủ trương khôi phục vai trò của Nam triều, biến triều đình Huế thành một công cụ mị dân đắc lực. Pierre Pasquier công khai nói rõ: “Phải khôi phục lại quyền quan trường…, khôi phục lại nền nếp của nước Nam. Nước Nam đã có cái lịch sử quân chủ bấy lâu, nay không thể là nước không quân chủ được. Dù đối với người An Nam đã có tư tưởng mới, ngôi quốc trưởng vẫn phải là một đấng đặc biệt để nối dõi phụng thờ quốc tổ, tiêu biểu cho quốc hồn và đối với thần dân như cha mẹ đối với con cái vậy”15.
Thực hiện mưu đồ trên, tháng 8-1932 thực dân Pháp đưa Bảo Đại về nước và ngày 10-9-1932 Hoàng đế Bảo Đại chính thức tuyên bố chấp chính, trực tiếp nắm quyền điều hành Nam triều. Tháng 5-1933, Bảo Đại ban Dụ số 29 cải tổ Cơ mật viện, thay thế các đại thần già, cũ bằng các thượng thư trẻ, là các trí thức Tây học có danh vọng. Phạm Quỳnh, vị thủ lĩnh nhóm Nam Phong nổi tiếng được vời tiến cung, nhậm chức Thượng thư Bộ Học kiêm Ngự tiền Văn phòng Tổng lý đại thần. Mấy năm sau, ông ta được nhà vua bổ nhiệm giữ chức Thượng thư Bộ Lại. Thế là cuối cùng, nhà trí thức nổi danh Phạm Quỳnh đã trở thành “Cụ Thượng” trong triều đình Huế, và tại đó ông ta đã tìm thấy cái “tổ quốc” của riêng mình để tôn thờ: Mảnh vỡ tàn dư của nhà nước quân chủ chuyên chế triều Nguyễn.
Nhóm thứ hai là tổ chức Việt Nam Phục quốc Đồng minh hội, thường gọi tắt là Phục Quốc. Tổ chức này do Hoàng thân Cường Để lập ra tại Hồng Kông vào tháng 9-193916. Các yếu nhân của Phục Quốc nguyên đều là những người đã tham gia phong trào Đông Du hồi đầu thế kỷ XX, như Hoàng Nam Hùng, Trần Hy Thánh, Trương Anh Mẫn… Dù đã chịu ảnh hưởng sâu sắc tư tưởng cộng hòa dân chủ của Phan Bội Châu, nhưng họ vẫn một lòng tôn phò Hoàng thân Cường Để làm “minh chủ”. Sau khi phát triển về trong nước, nhóm người này bắt liên lạc được với một số thủ lĩnh của đạo Cao Đài và nhóm Việt Nam Ái quốc đoàn do Vũ Đình Dy đứng đầu. Khoảng giữa năm 1943, nhóm Đại Việt do Ngô Đình Diệm tổ chức ở Huế cũng cử người bắt liên lạc với Phục Quốc và sang Nhật Bản tìm gặp Cường Để. Thực tế là nhóm Phục Quốc và Cường Để chưa bao giờ chính thức công bố cương lĩnh chính trị của họ. Tuy nhiên, một số hoạt động tuyên truyền của họ ở Nam Kỳ cho thấy rõ họ rắp tâm cộng tác với quân Nhật, chờ đợi quân Nhật sẽ lật đổ thực dân Pháp. Khi đó, Cường Để sẽ được đưa về làm “minh quân” theo mô hình quân chủ lập hiến của Nhật Bản. Tuyệt nhiên, không bao giờ Phục Quốc hay Cường Để tuyên truyền cho tư tưởng cộng hòa dân chủ.
Thế nhưng, lịch sử đã không diễn ra như Phục Quốc trông đợi. Sau khi đảo chính, lật đổ thực dân Pháp vào đêm 9-3-1945, quân Nhật đã dứt khoát gạt bỏ Phục Quốc và các “quân bài” như Cường Để và Ngô Đình Diệm. Trái lại, người Nhật quyết định giữ yên ngôi vị cho Hoàng đế Bảo Đại, đưa nhà trí thức Trần Trọng Kim về Huế lập Nội các mới. Giấc mộng về thể chế quân chủ lập hiến với Cường Để làm “minh quân”, Ngô Đình Diệm làm thủ tướng tan thành mây khói.
Nhóm thứ ba ủng hộ chế độ quân chủ chính là nhóm trí thức Tây học “cao cấp” do Trần Trọng Kim đứng đầu trong Nội các được vua Bảo Đại lập ra ngày 17-4-1945 ở Huế17. Bên cạnh Trần Trọng Kim, tất cả 10 vị bộ trưởng trong Nội các đều là các trí thức Tây học nổi tiếng, còn khá trẻ. Tuy họ đều chưa từng tham gia và bộc lộ chính kiến trong các hoạt động chính trị, nhưng có thể đoán định rằng họ, nhất là những người như Hoàng Xuân Hãn, Phan Anh, Trịnh Đình Thảo, Vũ Văn Hiền, có hiểu biết sâu sắc về chính trị thế giới và không xa lạ gì với tư tưởng cộng hòa dân chủ. Thế nhưng, nghịch lý là, một khi đã nhận lời tham gia Nội các, họ không có lựa chọn nào khác là chấp nhận và tôn sùng chế độ quân chủ chuyên chế mạt kỳ. Điều này thể hiện chính thức thông qua việc Nội các chọn lựa các biểu tượng của chính thể: Quốc ca là bài “Đăng đàn cung” ca ngợi Hoàng đế; quốc kỳ là lá cờ “quẻ Ly” và lời Tuyên cáo của Nội các “không thể quên ơn nước Đại Nhật Bản đã giải phóng cho ta, không quên ơn Đức Kim Thượng đã quả quyết dắt dân ta lên đường độc lập …”18. Thái độ tôn quân của nhóm trí thức trong Nội các còn bộc lộ rõ tại buổi lễ “bái mạng” ngày 8-5-1945 tại Hoàng cung. Phạm Khắc Hòe mô tả: “Giữa sân điện Cần Chánh rất rộng, đôi bên có những tượng đình thần bằng đá đứng cúi đầu dưới bóng những cây đại, da xù xì, cành cong queo, hoa lác đác, hình ảnh 10 vị trí thức cỡ lớn, trên khăn ta, áo ta, dưới quần Tây, giày Tây, cúi lom khom có vẻ kính cẩn hơn các vị quan bằng đá làm cho tôi cảm thấy như mình đang xem một màn hài kịch câm”19. Đương nhiên, không thể đòi hỏi ở Nội các Trần Trọng Kim một thái độ nào khác hơn là tôn phò Hoàng đế Bảo Đại và chính thể quân chủ chuyên chế, bởi chính Bảo Đại đã cho mời họ đến và lập ra Nội các này, và bản thân Nội các cũng là một bộ phận của cấu trúc quyền lực quân chủ chuyên chế dưới sự che chở, bảo hộ của quân Nhật. Đây chính là một nguyên nhân khiến cho Nội các Trần Tọng Kim cho dù được cấu thành bởi nhiều trí thức Tây học yêu nước, tiến bộ, nhưng không thể làm được gì nhiều cho dân tộc, cho đất nước. Hơn nữa, bằng việc công khai cộng tác với quân Nhật và tự mình trở thành một bộ phận hợp thành của nhà nước quân chủ chuyên chế, Nội các này đã tự mình tước bỏ tính chính đáng chính trị (political legitimacy) và tính tiến bộ mà nó được kỳ vọng và trở thành đối tượng cần phải bị lật nhào, xóa bỏ trên hành trình đi tới nền độc lập đích thực và nền cộng hòa dân chủ của dân tộc Việt Nam.
4. Vấn đề nền cộng hòa trong chủ trương, đường lối của Đảng trước Cách mạng Tháng Tám
Trong số các đảng phái chính trị tán thành tư tưởng cộng hòa xuất hiện ở Việt Nam trước Cách mạng Tháng Tám, ngoài Đảng Cộng sản Việt Nam (từ tháng 10-1930 đổi tên thành Đảng Cộng sản Đông Dương - ĐCSĐD), thì hầu như không có tổ chức nào có bất kỳ sự chuẩn bị gì về lý luận hay thực tiễn cho việc hiện thực hóa tư tưởng đó. Trong số đó, Việt Nam Quốc dân đảng là có tổ chức, có lực lượng và uy tín đáng kể nhất và chịu ảnh hưởng rõ nhất của tư tưởng dân chủ cách mạng và học thuyết Tam dân của Tôn Trung Sơn. Tuy nhiên, đảng này cũng không một lần tuyên bố rõ về chính thể mà nó đang hướng tới và mong muốn hiện thực hóa ở Việt Nam như thế nào. Ngay cả khi đảng này, vào đầu năm 1930, quyết định lao mình vào một trận chiến sinh tử thì các thủ lĩnh cao cấp nhất cũng còn rất mơ hồ về cương lĩnh chính trị và mục tiêu tối hậu của đảng.
Trong khi đó, Đảng Lập hiến với thủ lĩnh là Bùi Quang Chiêu lại là một trường hợp ngoại lệ đặc biệt. Là một tập hợp của tầng lớp “thượng lưu bản xứ” ở Nam Kỳ, đảng này kiên trì lập trường cải lương, “Pháp-Việt đề huề” và không bao giờ đặt mục tiêu lật đổ chế độ thực dân. Đảng này rất tích cực tham gia hoạt động nghị trường và có những lần đã đạt được một số thành công nhất định. Tuy nhiên, phạm vi ảnh hưởng của đảng chỉ giới hạn ở Nam Kỳ và đảng cũng không có chủ trương đi xa hơn khuôn khổ luật pháp mà chính quyền thực dân cho phép.
Thực tế là trong tất cả các tổ chức chính trị ở Việt Nam, chỉ có Đảng Cộng sản Việt Nam là có sự chuẩn bị khá chu đáo, bài bản cả về lý luận và thực tiễn cho việc tiến tới xác lập nền cộng hòa dân chủ ở Việt Nam. Quá trình chuẩn bị này thực sự bắt đầu với lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc và tổ chức Hội Việt Nam Cách mạng thanh niên do Người thành lập từ tháng 6-1925.
Là người đã có thời gian dài bôn ba ở nhiều châu lục, khảo sát thực tiễn và học tập, nghiên cứu lý luận ở nhiều trung tâm lớn nhất của nhân loại, như London, New York, Boston, Paris, Matxcơva, Thượng Hải, Quảng Châu… Nguyễn Ái Quốc đã tự trang bị cho mình kho tàng tri thức lý luận và kinh nghiệm thực tiễn phong phú về các nền chính trị thế giới. Tại các lớp huấn luyện ở Quảng Châu, Người đã trao truyền kho tàng tri thức và kinh nghiệm quý báu ấy cho đội ngũ cán bộ đầu tiên của cách mạng Việt Nam, trong đó có tư tưởng về nền cộng hòa dân chủ. Điều này được phản ánh rõ nét trong cuốn Đường Kách mệnh-tập sách giáo khoa đầu tiên của cách mạng Việt Nam do Nguyễn Ái Quốc biên soạn. Tại đó, Người đã trình bày súc tích kết quả nghiên cứu của mình về các cuộc cách mạng Mỹ và Pháp với việc xác lập nền cộng hòa ở hai nước này, và nêu nhận định: “Cách mệnh Pháp cũng như cách mệnh Mỹ, nghĩa là cách mệnh tư bản, cách mệnh không đến nơi, tiếng là cộng hòa và dân chủ, kỳ thực trong thì nó tước lục công nông, ngoài thì nó áp bức thuộc địa… Cách mệnh An Nam nên nhớ những điều ấy”20. Nguyễn Ái Quốc đã tập trung trình bày khá cặn kẽ lịch sử và bài học kinh nghiệm rút ra được từ việc nghiên cứu lịch sử cách mạng Nga, nhất là cuộc Cách mạng Tháng Mười. Người viết: “Trong thế giới bây giờ chỉ có cách mệnh Nga là đã thành công, và thành công đến nơi, nghĩa là dân chúng được hưởng cái hạnh phúc tự do, bình đẳng thật, không phải tự do và bình đẳng giả dối như đế quốc chủ nghĩa Pháp khoe khoang bên An Nam. Cách mệnh Nga đã đuổi được vua, tư bản, địa chủ rồi, lại ra sức cho công nông các nước và các dân bị áp bức các thuộc địa làm cách mệnh để đập đổ tất cả các đế quốc chủ nghĩa và tư bản trong thế giới”21.
Tư tưởng của Nguyễn Ái Quốc về nền cộng hòa dân chủ theo mô hình của cách mạng Nga đã in đậm dấu ấn vào cương lĩnh chính trị của cả hai tổ chức tiền thân của Đảng là Thanh Niên và Tân Việt. Trong bản “Tuyên ngôn” của mình, Thanh Niên nói rõ “chính cương đại yếu” của mình là: “Lò máy về thợ thuyền! Ruộng đất về dân cày! Tất cả quyền lợi về đại đa số nhân dân! Nhất thiết quyền lực về hội nghị đại biểu của thợ thuyền, dân cày và lính”22. Trong bản “Chính cương tối đê hạn độ” của mình, Thanh Niên cũng nói rõ thiết chế chính trị sẽ được xác lập một khi cách mạng thành công là: “Lập ra chính quyền độc tài của thợ thuyền, dân cày và binh lính. Từ làng đến trung ương đều do quần chúng dân cày thợ thuyền và binh lính trực tiếp cử ra”23. Rõ hơn là tuyên ngôn của Tân Việt. Trong bản “Đảng chương” của mình, Tân Việt tuyên bố cùng với việc tiến hành cách mạng phản đế, “Đồng thời phải cử hành chính trị cách mệnh để đánh đổ chính phủ và quân chủ, dựng lên chính phủ cộng hòa và xã hội, cử xã hội cách mệnh để phá bỏ các giai cấp, và kinh tế cách mệnh để duy trì quyền sinh hoạt của mọi người”24.
Do tác động của nhiều yếu tố, trong quá trình các tổ chức tiền thân của Đảng vận động tiến tới thành lập một Đảng Cộng sản để lãnh đạo cách mạng Việt Nam, xu hướng tả khuynh đã xuất hiện và ngày càng chiếm ưu thế. Tuyên ngôn của ĐCSĐD xác định một trong những mục tiêu chiến lược của Đảng là: “Lập chính phủ Xô viết (Sô viết) công nông binh” và hô hào quần chúng: “Đánh đổ đế quốc chủ nghĩa! Đánh đổ đại địa chủ, chế độ phong kiến và các cách bóc lột tiền tư bản! Công nông chuyên chính! Vô sản giai cấp chuyên chính! Tiêu diệt giai cấp! Thực hiện xã hội cộng sản!”25.
Là nhà cách mạng chuyên nghiệp dày dạn kinh nghiệm và có trình độ lý luận cao, tầm nhìn chiến lược xa rộng, Nguyễn Ái Quốc đã nhận ra hạn chế của xu hướng khuynh tả này. Vì vậy, trong khi chủ trì Hội nghị thống nhất các tổ chức cộng sản ở Việt Nam và soạn thảo các văn kiện đầu tiên cho Đảng vào đầu năm 1930, Người đã chú ý đưa ra một cương lĩnh chính trị cách mạng khoa học, đúng đắn, phù hợp với thực tiễn cách mạng Việt Nam. Chánh cương vắn tắt của Đảng, mục “Về phương diện chính trị” như sau: “a) Đánh đổ đế quốc chủ nghĩa Pháp và bọn phong kiến. b) Làm cho nước Nam được hoàn toàn độc lập. c) Dựng ra chính phủ công nông binh. d) Tổ chức ra quân đội công nông”26.
Tuy nhiên, xu hướng khuynh tả được thôi thúc mạnh mẽ bởi tinh thần của Đại hội Quốc tế Cộng sản lần thứ 6 (1928) đã bao trùm phong trào cộng sản quốc tế, kể cả Đảng Cộng sản Việt Nam. Tháng 10-1930, tại HNTƯ lần thứ nhất đã quyết định thủ tiêu các văn kiện của Hội nghị thành lập Đảng, phê bình gay gắt và phủ nhận tư tưởng và chiến lược cách mạng của Nguyễn Ái Quốc27.
Đồng thời, cũng trong thời gian này, một cao trào cách mạng do Đảng lãnh đạo dâng lên mạnh mẽ trên phạm vi toàn quốc và đạt tới đỉnh cao nhất ở hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh. Tại đây, trong suốt thời gian từ cuối năm 1929 đến khoảng đầu năm 1931, Ban Chấp ủy Trung Kỳ (Xứ ủy Trung Kỳ) liên tục kêu gọi quần chúng công nông: “Đánh đổ đế quốc chủ nghĩa và tư bản chủ nghĩa! Đánh đổ Nam triều phong kiến chế độ! Lập chính phủ Xô viết công nông binh Đông Dương! Giao lò máy cho thợ thuyền, giao ruộng đất cho dân cày! Thực hành chuyên chính vô sản và chủ nghĩa cộng sản!”28. Vì vậy, khi hệ thống chính quyền địa phương (cấp xã, huyện) của nhiều vùng nông thôn Nghệ An và Hà Tĩnh tan rã trước sức ép dữ dội từ hàng trăm cuộc biểu tình khổng lồ của quần chúng nhân dân, các cán bộ Đảng địa phương, chủ yếu hoạt động trong các Xã bộ nông của Nông hội đỏ, đã phải đứng lên nắm lấy chính quyền ở các làng xã. Hơn 170 “làng đỏ” đã ra đời ở Nghệ An và Hà Tĩnh dưới sự lãnh đạo và tổ chức, quản lý, điều hành theo mô hình của các Xô viết.
Với sự ra đời và hoạt động của các Xô viết ở Nghệ An và Hà Tĩnh, lần đầu tiên một mô hình của chế độ cộng hòa dân chủ được hiện thực hóa ở Việt Nam. Tuy chỉ tồn tại trong phạm vi một địa phương, chỉ ở cấp làng xã, và chỉ trong một thời gian tương đối ngắn, nhưng Xô viết Nghệ-Tĩnh đã thực sự là một chế độ chính trị mới, đối lập tuyệt đối và toàn diện với chế độ chính trị thực dân của người Pháp và chế độ quân chủ chuyên chế đã tồn tại nhiều thế kỷ ở Việt Nam. Ở các “làng đỏ”, vai trò tích cực của quần chúng nhân dân được phát huy cao độ, nhiều biện pháp kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa, giáo dục... đã được triển khai và đã đưa lại một đời sống và không khí chính trị hoàn toàn mới. Trần Huy Liệu ghi nhận: “Một danh từ thông dụng bấy giờ là hai tiếng “xã hội”. Nhiều người quên cả làm ăn, tin tưởng rằng cách mạng sắp thành công, cái gì cũng là của xã hội cả”29. Đó là ưu điểm nhưng cũng chính là điểm bất cập lớn nhất của nền cộng hòa Xô viết tại các “làng đỏ” ở Nghệ An và Hà Tĩnh: tính chất không phù hợp về thời cơ và điều kiện lịch sử. Điều này dường như đã được Trung ương của Đảng nhận ra ngay sau khi được thông tin về những gì diễn ra ở Nghệ - Tĩnh. Từ cuối năm 1930, Ban Trung ương Lâm thời của Đảng đã nhận định: “Chấp ủy [Trung Kỳ] thế là đã chủ trương bạo động rồi (lập Xô viết, chia đất...). Chủ trương như thế thì chưa đúng hoàn cảnh vì trình độ dự bị của Đảng và quần chúng trong nước chưa đủ, vũ trang bạo động cũng chưa có-bạo động riêng lẻ trong vài địa phương trong lúc bây giờ là quá sớm, là manh động (putschisme)”30. Trung ương Đảng cũng đã nhìn thấy trước thất bại không tránh khỏi của xu hướng khuynh tả này, do đó đã chỉ đạo: “Song việc đã như vậy rồi, thì bây giờ phải làm cách nào để duy trì kiên cố ảnh hưởng của Đảng, của Xô viết trong quần chúng để đến khi thất bại thì ý nghĩa Xô viết ăn sâu vào trong óc quần chúng và lực lượng của Đảng và nông hội vẫn duy trì”31.
Quả đúng như sự tiên liệu của Trung ương Đảng, các cơ sở đảng, tổ chức quần chúng và các Xô viết ngày càng phạm phải nhiều hơn các sai lầm tả khuynh, do vậy, cao trào cách mạng bị suy yếu dần, không đủ sức chống chọi với các thủ đoạn đàn áp quyết liệt và thâm độc của thực dân Pháp và Nam triều. Đến khoảng tháng 3-1931, các Xô viết bị tan rã và xóa sổ ở Nghệ An và Hà Tĩnh. Cao trào cách mạng 1930-1931 đã in đậm dấu ấn của mình trong lịch sử chính trị Việt Nam cận đại với những bài học kinh nghiệm của việc lần đầu tiên hiện thực hóa chế độ cộng hòa dân chủ theo mô hình Xô viết.
Từ sau cao trào cách mạng 1930-1931 cho đến HNTƯ 8 tháng 5-1941, ĐCSĐD dường như không có bước tiến nào trong việc chuẩn bị về lý luận cho vai trò cầm quyền của Đảng cũng như về chính thể tương lai của đất nước sau khi cách mạng thành công. Tuy nhiên, về phương diện thực tiễn, Đảng lại được tôi rèn và rút ra được bài học có giá trị qua việc lãnh đạo các cuộc vận động dân chủ trong giai đoạn 1936-1939, trong đó có các cuộc “đấu tranh nghị trường” rất sôi nổi và khá hiệu quả.
Trước đó, trong những năm 1933-1935, lợi dụng điều kiện đặc thù của xứ Nam Kỳ, một số cán bộ của Đảng đã phối hợp với Nguyễn An Ninh và nhóm La Lutte tham gia vào các cuộc tranh cử và Hội đồng Quản hạt Nam Kỳ, thông qua đó mà tuyên truyền mạnh mẽ cho chủ trương của Đảng. Đến thời kỳ 1936-1939, tận dụng thời cơ thuận lợi do tình hình khách quan mang lại, tháng 3-1937, Trung ương Đảng đã chỉ thị cho các cấp bộ đảng: “Vô luận là cuộc tuyển cử gì, Đảng ta có thể tham gia được, là nên tham gia. Chúng ta cần lợi dụng các thời kỳ tranh cử mà tuyên truyền khẩu hiệu của ta, phải lợi dụng vào các cơ quan lập hiến mà bênh vực quyền lợi cho quần chúng lao động và các lớp dân chúng bị áp bức”32.
Thực hiện chủ trương nói trên của Trung ương, các cấp bộ đảng đã lãnh đạo các tổ chức quần chúng dưới danh nghĩa “phe Dân chủ” hoặc “phe Bình dân”, tổ chức cho hàng triệu quần chúng nhân dân tham gia tích cực vào nhiều cuộc vận động tranh cử ở Bắc Kỳ, Trung Kỳ và Nam Kỳ. Thông qua các cuộc vận động này, đông đảo quần chúng đã có cơ hội được rèn luyện trong các “chiến dịch tranh cử”, bắt đầu ý thức được về sức mạnh của sự đoàn kết để biểu đạt ý chí của mình thông qua các hoạt động chính trị, như vận động ứng cử, tranh cử và bầu cử hợp pháp. Quan trọng nhất là thông qua đó, Đảng đã có điều kiện tuyên truyền sâu rộng chính sách, chủ trương của mình tới hàng triệu quần chúng. Đây thực sự là lần đầu tiên Đảng và quần chúng lao động được tập dượt thông qua một loại hoạt động không thể thiếu được trong thể chế cộng hòa dân chủ, một khi trở thành chủ nhân của đất nước33.
5. Cách mạng Tháng Tám và sự kiến lập nền cộng hòa dân chủ ở Việt Nam
Bước sang giai đoạn cách mạng mới, ĐCSĐD và lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc-Hồ Chí Minh đã có những bước chuẩn bị rất cơ bản cả về lý luận và thực tiễn cho việc giải phóng dân tộc, giành độc lập và xác lập chế độ cộng hòa dân chủ ở Việt Nam.
Trong bối cảnh của cuộc Thế chiến II, Việt Nam nằm dưới ách thống trị kép của thực dân Pháp và phát xít Nhật Bản, trong khi bộ máy thống trị quân chủ chuyên chế của Nam triều vẫn tiếp tục được cả Pháp và Nhật dung dưỡng và lợi dụng như một công cụ cai trị của chúng. Trước tình hình đó, ĐCSĐD đã từng bước chuyển hướng chiến lược cách mạng. Sau 30 năm hoạt động ở nước ngoài, đầu năm 1941, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã trở về trực tiếp lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Tháng 5-1941, dưới sự chủ trì của Người, HNTƯ 8 đã xác định: “…cuộc cách mạng Đông Dương trong giai đoạn hiện tại là một cuộc cách mạng dân tộc giải phóng”, do đó, “quyền lợi của bộ phận, của giai cấp phải đặt dưới sự sinh tử tồn vong của quốc gia, dân tộc”34. Theo tinh thần đó, Đảng đã xác định lại phương thức tiến hành cách mạng trong phạm vi từng dân tộc trên bán đảo Đông Dương. “…đã nói đến vấn đề dân tộc tức là nói đến sự tự do độc lập của mỗi dân tộc tùy theo ý muốn của mỗi dân tộc. Nói như thế nghĩa là sau lúc đánh đuổi Pháp-Nhật, ta phải thi hành đúng chính sách “dân tộc tự quyết” cho dân tộc Đông Dương. Các dân tộc sống trên cõi Đông Dương sẽ tùy theo ý muốn, tổ chức thành liên bang cộng hòa dân chủ hay đứng riêng thành một dân tộc quốc gia tùy ý. Một chính phủ cộng hòa mạnh hơn không có quyền bắt các dân tộc nhỏ yếu tuân theo chính sách mình và tham gia chính phủ mình và các dân tộc thiểu số cũng không phải bắt buộc theo các dân tộc đa số và mạnh”35. “Riêng dân tộc Việt Nam… sau lúc đánh đuổi được Nhật-Pháp sẽ thành lập một nước Việt Nam dân chủ mới theo tinh thần tân dân chủ. Chính quyền cách mạng của nước dân chủ mới ấy không phải thuộc quyền riêng của một giai cấp nào mà là của chung cả toàn dân tộc, chỉ trừ có bọn tay sai của đế quốc Pháp-Nhật và những bọn phản quốc, những bọn thù, không được giữ chính quyền, còn lại ai là người dân sống trên dải đất Việt Nam thảy đều được một phần tham gia giữ chính quyền, phải có một phần nhiệm vụ giữ lấy và bảo vệ chính quyền”36.
Rõ ràng, so với tư duy và nhận thức của Đảng ở thời kỳ trước thì tư duy chiến lược và nhận thức của Đảng về chính thể và mô hình nhà nước sau khi giành được chính quyền đã có những bước tiến vượt bậc. Nền cộng hòa dân chủ mà Đảng dự định xác lập ở Việt Nam đã khác rất xa so với mô hình nền cộng hòa Xô viết công-nông-binh của thời kỳ 1930-1931. Trong nghị quyết của HNTƯ này, thậm chí, Đảng còn nói rõ, trong tuyên truyền, vận động quần chúng, “không nên nói công nông liên hiệp và lập chính quyền Xô viết mà phải nói toàn thể nhân dân liên hợp và lập chính phủ dân chủ cộng hoà”37.
Với những tư tưởng chắc chắn, rõ ràng như trên, HNTƯ 8 của Đảng chính là sự chuẩn bị cơ bản nhất về phương diện lý luận cho sự xác lập của nền cộng hòa dân chủ ở Việt Nam. Tiếp theo hội nghị này, ĐCSĐD còn tiếp tục khẳng định và phát triển thêm tư tưởng về nền cộng hòa dân chủ sẽ được kiến lập với tính cách là một mục tiêu cơ bản nhất của cách mạng Việt Nam. Tại bản Chỉ thị của Ban Thường vụ Trung ương Đảng, ngày 12-3-1945, chủ trương thành lập chính quyền cách mạng đã được chỉ dẫn khá cụ thể với ba hình thức, phù hợp với điều kiện cụ thể của từng địa phương. Đó là “Ủy ban dân tộc giải phóng”, “Ủy ban nhân dân cách mạng” và đặc biệt là “Ủy ban nhân dân cách mạng Việt Nam” theo hình thức một Chính phủ lâm thời cách mạng Việt Nam”38.
Tiếp đó, tháng 4-1945, tại Hội nghị quân sự Bắc Kỳ, vấn đề này tiếp tục được thảo luận và đi tới những chỉ dẫn cụ thể hơn, nhất là với việc tổ chức chính quyền ở các khu căn cứ địa: “Tổ chức ra Ủy ban nhân dân cách mạng do dân dùng phổ thông đầu phiếu mà bầu lên hay do đại biểu hội nghị các giới (công, nông, thương, phú, thanh, binh, viên chức, hành chính, các dân tộc thiểu số, cán bộ chuyên nghiệp Việt Minh,.v.v.) bầu lên39. Đặc biệt, tại hội nghị này, lần đầu tiên đã chính thức ghi nhận chủ trương vô cùng quan trọng: “Hội nghị đề nghị triệu tập một cuộc đại biểu đại hội gồm có các giới, các đảng phái, các thân sĩ toàn quốc để thành lập một Ủy ban Dân tộc giải phóng Việt Nam và tiến tới thành lập Chính phủ lâm thời Việt Nam”40.
Rõ ràng là càng về sau, càng gần đến ngày tổng khởi nghĩa, tư tưởng về nền cộng hòa dân chủ của Đảng càng mạch lạc, rõ ràng hơn, tiệm cận gần hơn với mô hình cộng hòa đại nghị, đại diện cho ý chí của toàn thể dân tộc Việt Nam. Hai điểm mấu chốt nhất trong toàn bộ quá trình thực tiễn chuẩn bị cho sự kiến lập chế độ cộng hòa dân chủ ở Việt Nam là việc tổ chức thành công Quốc dân Đại hội và sự thành lập của Ủy ban Dân tộc giải phóng Việt Nam.
Chủ trương triệu tập Quốc dân Đại hội được ghi nhận tại Hội nghị quân sự Bắc Kỳ của Trung ương Đảng thực chất bắt nguồn từ chỉ dẫn mang tầm chiến lược của lãnh tụ Hồ Chí Minh41. Trước đó, từ tháng 10-1944, Hồ Chí Minh đã gửi thư cho đồng bào toàn quốc. Trong thư, Người cho biết cuộc đấu tranh vì độc lập, tự do của dân tộc ta đang nhận được sự ủng hộ quốc tế mạnh mẽ, nhất là của phe Đồng minh chống phát xít đang giành thế ưu thắng trong cuộc chiến tranh thế giới. Người viết: “Song muốn tiếp thu lòng đồng tình và sự giúp đỡ đó, chúng ta trước phải có một cái cơ cấu đại biểu cho sự chân thành đoàn kết và hành động nhất trí của toàn thể quốc dân ta. Mà cơ cấu ấy thì phải do một cuộc toàn quốc đại biểu đại hội gồm tất cả các đảng phái cách mệnh và các đoàn thể ái quốc trong nước bầu cử ra. Một cơ cấu như thế mới đủ lực lượng và oai tín, trong thì lãnh đạo công việc cứu quốc, kiến quốc, ngoài thì giao thiệp với các hữu bang”42. Người còn nhấn mạnh: “Thời gian rất gấp. Ta phải làm nhanh! Tôi mong rằng các đảng phái và các đoàn thể đều ra sức chuẩn bị, cùng nhau thảo luận, để khai cuộc toàn quốc đại biểu đại hội trong năm nay”43.
Phải đặt cuộc vận động giải phóng dân tộc Việt Nam vào bối cảnh thế giới khi đó mới thấy được đầy đủ hơn tầm vóc và ý nghĩa của việc Hồ Chí Minh đề nghị khẩn trương tổ chức Quốc dân Đại hội. Thứ nhất, trước thời khắc toàn dân tộc vùng lên quyết liệt để “đem sức ta mà tự giải phóng cho ta” thì việc củng cố khối đại đoàn kết dân tộc, xiết chặt đội ngũ, thống nhất ý chí và phương châm hành động là điều vô cùng cần thiết. Thứ hai, sau gần 4 năm liên tục tiến hành đấu tranh ngoại giao kiên trì và khôn khéo, cuộc vận động giải phóng dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng, lãnh tụ Hồ Chí Minh và Mặt trận Việt Minh đã giành được một số thắng lợi quan trọng, nhất là đã thiết lập được mối quan hệ cộng tác hiệu quả giữa Việt Minh với OSS (Office of Strategic Services) của Mỹ ở Hoa Nam, “nhưng cách mạng Việt Nam vẫn chưa giành được một địa vị trên trường quốc tế”44. Tình hình như vậy là rất nghiêm trọng, tiềm ẩn nguy cơ là: cách mạng có thể giành được chính quyền nhưng không được quốc tế, nhất là phe Đồng minh thắng trận công nhận. Thậm chí, thành quả cách mạng có thể bị một số thế lực xuyên tạc, phủ nhận tính chính đáng chính trị (political legitimacy), phủ nhận giá trị pháp lý quốc tế, tiến tới không công nhận và lật đổ chính quyền cách mạng. Điều này hoàn toàn có thể xảy ra theo nhiều kịch bản khác nhau, bởi lúc đó De Gaulle và các thế lực thực dân Pháp đang ráo riết vận động để quay lại tái chiếm Đông Dương. Trong khi đó, một số đảng phái, như Việt Quốc, Việt Cách .v.v. núp bóng quân đội Trung Hoa Quốc dân đảng đang tìm cách về nước giành chính quyền. Ở trong nước, nhiều đảng phái, nhiều lực lượng, kể cả nội các thân Nhật do Trần Trọng Kim đứng đầu, cũng ra sức vận động để có tư cách đứng ra “nói chuyện” với quân Đồng minh. Vì vậy, sự nghiệp cách mạng của dân tộc nói chung và chủ trương tổng khởi nghĩa giành chính quyền nói riêng cần có một hậu thuẫn chính trị vững chắc. Hơn nữa, bản thân sự hậu thuẫn đó, cả về nội dung và thể thức, phải phù hợp với truyền thống dân tộc và với thông lệ chính trị quốc tế. Đó chính là cái cơ cấu “đủ lực lượng và oai tín, trong thì lãnh đạo công việc cứu quốc, kiến quốc, ngoài thì giao thiệp với các hữu bang” như Hồ Chí Minh đã trù liệu. Theo nguyên tắc của chế độ cộng hòa dân chủ thì “cơ cấu” đó không thể là cái gì khác hơn một đại hội đại biểu quốc dân-một hình thức của quốc hội lập pháp có đủ thẩm quyền tiêu biểu cho ý chí của toàn dân tộc, nguyện vọng của toàn dân để quyết nghị về những vấn đề quan trọng nhất của quốc gia-dân tộc. Việc tổ chức Quốc dân Đại hội, vì vậy, có ý nghĩa và tầm vóc rất đặc biệt.
Ngay sau khi về đến Tân Trào-Thủ đô của Khu Giải phóng (đầu tháng 5-1945), nhận thấy thời cơ ngàn năm có một cho cuộc tổng khởi nghĩa đang đến rất gần, mặc dù bị ốm rất nặng, Hồ Chí Minh vẫn cố gắng trực tiếp chỉ đạo công tác này. Người “đã chỉ thị viết nhiều thư hỏa tốc, tung giao thông đặc biệt đi các hướng để thúc giục các đại biểu”45. Công việc này cũng được các cấp bộ đảng và các cơ sở Việt Minh đặc biệt quan tâm. Các đại biểu đại diện cho các tầng lớp nhân dân, các tôn giáo, vùng miền được giới thiệu, lựa chọn và được cơ sở Việt Minh cử giao liên đặc biệt dẫn đường về Khu Giải phóng. Mỗi nhóm đều có lộ trình riêng, vừa khẩn trương, đảm bảo bí mật, nhưng cũng rất phấn chấn, mang đến cho Đại hội hào khí dân tộc và ý chí kiên quyết vùng lên giải phóng dân tộc46. Trước những biến chuyển vô cùng mau lẹ của tình hình trong nước và trên thế giới, Hồ Chí Minh dự định khai mạc đại hội từ tháng 7-1945, tuy vậy, “vì đường sá trắc trở, liên lạc khó khăn, nhiều đại biểu đã cố gắng đi cho chóng, mà mãi tới 13, 14-8 mới lên tới Tân Trào. Có những đoàn đại biểu 16, 17 mới đến kịp. Trung ương và Tổng bộ Việt Minh quyết định không thể đợi lâu hơn nữa”47. Hồ Chí Minh cũng cho ý kiến: “Có thể còn thiếu một số đại biểu chưa về kịp cũng họp, nếu không thì không kịp được với tình hình chung”48.
Chiều ngày 16-8-1945, Quốc dân đại biểu Đại hội đã khai mạc tại đình Kim Long, Tân Trào, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang. Hơn 60 đại biểu đại diện cho các giới, các tầng lớp nhân dân yêu nước từ Bắc Kỳ, Trung Kỳ, Nam Kỳ và kiều bào ở nước ngoài, tượng trưng cho khối đại đoàn kết dân tộc đã về dự đại hội. Trong không khí sôi nổi, khẩn trương và nghiêm túc, đại hội đã nhất trí ủng hộ và thông qua đề nghị của ĐCSĐD về việc phát động cuộc tổng khởi nghĩa giành chính quyền trên phạm vi toàn quốc và thông qua 10 chính sách lớn của Mặt trận Việt Minh. Đại hội cũng nhất trí cử ra Ủy ban Dân tộc giải phóng Việt Nam do Hồ Chí Minh làm Chủ tịch, Trần Huy Liệu làm Phó Chủ tịch49. Ủy ban này có nhiệm vụ chỉ huy cuộc tổng khởi nghĩa giành chính quyền và khi điều kiện cho phép thì chuyển thành chính phủ lâm thời, “... thay mặt quốc dân mà giao thiệp với các nước ngoài và chủ trì mọi công việc trong nước”50. Đại hội cũng nhất trí công nhận lá cờ đỏ với ngôi sao vàng năm cánh ở giữa của Việt Minh sẽ trở thành Quốc kỳ và bài hát Tiến quân ca do Văn Cao sáng tác sẽ trở thành Quốc ca của nước Việt Nam sau khi giành được độc lập. Ngày 17-8-1945, Ủy ban Dân tộc giải phóng Việt Nam chính thức ra mắt và tuyên thệ trước Quốc dân Đại hội, thề kiên quyết lãnh đạo nhân dân cả nước đấu tranh đến cùng để giành độc lập hoàn toàn cho dân tộc.
Như vậy, tại Quốc dân Đại hội Tân Trào, những vấn đề tối quan trọng mở đường cho việc kiến lập chế độ cộng hòa dân chủ của một quốc gia Việt Nam độc lập, thống nhất, có chủ quyền toàn vẹn, đã được quyết định theo đúng nghi thức và thông lệ chính trị quốc tế.
Ngay sau đó, Quốc dân Đại hội bế mạc, các đại biểu hối hả trở về các địa phương trong khi làn sóng khởi nghĩa đã dâng lên sục sôi khắp các vùng nông thôn và thành thị, suốt từ Bắc đến Trung và Nam Kỳ. Chỉ trong vòng khoảng hai tuần lễ, dựa chắc vào sự ủng hộ vô cùng mạnh mẽ cả về chính trị và quân sự của hàng triệu quần chúng nhân dân, với trí tuệ và bản lĩnh vô song, các cấp bộ đảng và Việt Minh ở các địa phương, nhất là ở Hà Nội, Huế, Sài Gòn-Gia Định đã tiến hành thắng lợi cuộc đấu tranh ngoại giao đầy khôn khéo, mưu lược và dũng cảm, trung lập hóa thành công gần 100 nghìn tướng lĩnh, quan chức và binh lính Nhật, đồng thời tổ chức thành công việc lật đổ chính quyền quân chủ chuyên chế do Bảo Đại và Trần Trọng Kim đứng đầu ở tất cả các cấp. Rất nhanh chóng, chính quyền cách mạng cũng được thiết lập ở tất cả các cấp, từ làng xã tới cấp tỉnh, kỳ.
Trong diễn trình của cuộc Tổng khởi nghĩa giành chính quyền, tiến tới xác lập nền cộng hòa dân chủ, sự kiện thoái vị của Hoàng đế Bảo Đại có một ý nghĩa rất đặc biệt. Trước áp lực vô cùng to lớn của phong trào cách mạng, trước sự tan rã của Nội các Trần Trọng Kim, lại được một số nhân sĩ, quan lại vận động, thuyết phục, Bảo Đại đã có những chuyển biến to lớn về tư duy, tình cảm và thái độ51. Ngày 18-8, nhà vua đã tuyên bố: “Muốn củng cố nền độc lập của nước nhà và bảo vệ quyền lợi dân tộc, Trẫm sẵn sàng hy sinh về tất cả các phương diện. Trẫm để hạnh phúc của dân Việt Nam lên trên ngai vàng của Trẫm. Trẫm ưng làm dân một nước độc lập hơn làm vua một nước nô lệ. Trẫm chắc rằng toàn thể quốc dân cùng một lòng hy sinh như Trẫm”52. Ngày 23-8, Hoàng đế tuyên Chiếu thoái vị. Ngày 30-8-1945, lễ thoái vị được tổ chức chính thức tại Ngọ Môn, kinh thành Huế trước sự chứng kiến của hàng nghìn người dân và hoàng tộc, quan lại. Hoàng đế Bảo Đại trao ấn và kiếm-hai vật biểu trưng cho quyền lực của nhà vua-cho các đại diện của Lâm thời Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Mặt trận Việt Minh53, trở thành công dân Nguyễn Phước Vĩnh Thụy và nhận lời ra Hà Nội làm Cố vấn tối cao cho Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Sự kiện trên đây không chỉ là nghi lễ từ chức của một ông Vua, sự kết thúc chính thức của Vương triều Nguyễn, mà còn đánh dấu sự cáo chung của chế độ quân chủ đã tồn tại liên tục suốt 9 thế kỷ ở Việt Nam kể từ sau thời kỳ Bắc thuộc. Việc quyền lực được bàn giao chính thức cho đại diện của Lâm thời chính phủ và Mặt trận Việt Minh cũng góp phần mở đường cho việc xác lập nền cộng hòa dân chủ với vị thế pháp lý và tính chính đáng chính trị rõ ràng, vững chắc.
Chiều ngày 2-9-1945, Lâm thời Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa chính thức ra mắt tại buổi Lễ Độc lập, sau khi Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn Độc lập lịch sử, công bố với quốc dân đồng bào và toàn thế giới về nền độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia thống nhất và sự ra đời của chế độ cộng hòa dân chủ.
Một điểm cần đặc biệt chú ý là: tên gọi của chính phủ cách mạng được thành lập và chính thức ra mắt sau thắng lợi của cuộc Tổng khởi nghĩa là Lâm thời Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Vấn đề đặt ra là: tại sao lại gọi là “Lâm thời Chính phủ” (Provisional Government), chứ không phải là một chính phủ chính thức?
Trước hết, thể theo đúng quyết nghị của Quốc dân Đại hội thì sau khi giành được chính quyền, Ủy ban Dân tộc giải phóng Việt Nam sẽ chuyển thành Lâm thời Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa54. Ngày 28-8-1945, để củng cố thêm khối đại đoàn kết dân tộc và nâng cao tính chất đại diện cho toàn dân của Chính phủ, Trung ương Đảng và Hồ Chí Minh đã quyết định cải tổ thành phần Chính phủ, theo đó, nhiều cán bộ lãnh đạo của Đảng đã tự nguyện rút lui để nhường chỗ cho một số nhân sĩ ngoài Đảng55. Mặc dù vậy, Hồ Chí Minh vẫn gọi đó là Lâm thời Chính phủ.
Theo nguyên tắc kiến lập của nền cộng hòa dân chủ thì các chính phủ đều phải được chính thức được phê chuẩn bởi một thiết chế dân cử (quốc hội hoặc nghị viện). Thiết chế đó sẽ định ra hiến pháp và hệ thống luật, coi đó là căn cứ để thực thi chế độ dân chủ pháp quyền. Chỉ có như vậy thì chính phủ mới có đầy đủ tính chính đáng chính trị (political legitimacy), mới có thể được quốc tế công nhận và các quyết định của nó mới có giá trị pháp lý. Đây chính là lý do mà ngay sau Lễ Độc lập, tại phiên họp đầu tiên của Chính phủ (ngày 3-9-1945), Hồ Chí Minh đã nêu đề nghị: “Chúng ta phải có một hiến pháp dân chủ. Tôi đề nghị Chính phủ tổ chức càng sớm càng hay cuộc TỔNG TUYỂN CỬ với chế độ phổ thông đầu phiếu. Tất cả công dân trai gái mười tám tuổi đều có quyền ứng cử và bầu cử, không phân biệt giàu nghèo, tôn giáo, dòng giống…”56.
Cuộc Tổng tuyển cử đó sẽ là một bước cơ bản tiếp theo để củng cố vững chắc hơn nền cộng hòa dân chủ. Dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhân dân Việt Nam đã tổ chức thành công cuộc Tổng tuyển cử dân chủ đầu tiên vào ngày 6-1-1946, trong những điều kiện vô cùng khó khăn, trước cả họng súng quân thù.
Quốc hội khóa I của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa gồm có 403 đại biểu, trong đó có 333 đại biểu được bầu thông qua Tổng tuyển cử, 70 đại biểu không qua bầu cử là đại diện của Việt Nam Quốc dân đảng và Việt Nam Cách mệnh Đồng minh hội. Tại phiên họp đầu tiên, ngày 2-3-1946, Quốc hội đã công nhận Chính phủ liên hiệp kháng chiến do Hồ Chí Minh làm Chủ tịch, Kháng chiến ủy viên hội do Võ Nguyên Giáp làm Chủ tịch, Vĩnh Thụy làm Cố vấn tối cao và lập ra Ban dự thảo Hiến pháp gồm 11 thành viên do Hồ Chí Minh đứng đầu.
Sau một thời gian chuẩn bị tích cực, Ban dự thảo Hiến pháp đã trình Quốc hội khóa I thông qua bản Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa vào ngày 9-11-1946. Với sự kiện này, quá trình kiến lập chế độ cộng hòa dân chủ ở Việt Nam căn bản hoàn thành, đặt nền tảng cho toàn bộ nền chính trị của nước Việt Nam hiện đại.
6. Kết luận
Thứ nhất, tư tưởng cộng hòa và chính thể cộng hòa là những thành tựu vĩ đại trong lịch sử chính trị của nhân loại. Với hai thiết chế trụ cột là cơ cấu quyền lực do bầu cử và hệ thống pháp luật, chế độ cộng hòa, dù tồn tại trong các hình thức khác nhau, luôn được xem là cơ sở nền tảng của nhà nước dân chủ và pháp quyền, là mặt đối lập trực tiếp và toàn diện với chế độ quân chủ chuyên chế.
Thứ hai, trong lịch sử chính trị Việt Nam, Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh và thế hệ các nhà Nho cấp tiến, lãnh tụ của phong trào yêu nước Việt Nam đầu thế kỷ XX chính là những người đầu tiên truyền bá tư tưởng về nền cộng hòa dân chủ và đặt ra mục tiêu kiến lập nền cộng hòa dân chủ như là một mục đích chiến lược của phong trào duy tân - cứu quốc, đồng thời coi chế độ cộng hòa dân chủ như một phương tiện, một giải pháp giúp cho Việt Nam trở thành nước phú cường, văn minh. Kế tục lý tưởng và con đường của thế hệ Phan Bội Châu và Phan Châu Trinh, hầu hết các tổ chức yêu nước và cách mạng xuất hiện ở Việt Nam từ sau Thế chiến I đến năm 1945 đều coi nền cộng hòa dân chủ là mục đích của cuộc vận động cứu nước, giải phóng xã hội. Tuy nhiên, mỗi tổ chức lại có cách hình dung riêng về nền cộng hòa dân chủ và về con đường đi tới nền cộng hòa ấy.
Điều đáng ngạc nhiên là: cũng trong thời gian nói trên đã xuất hiện một số nhóm của giới trí thức Tây học “thượng lưu bản xứ” không chủ trương kiến lập nền cộng hòa dân chủ ở Việt Nam. Với việc tôn phò chế độ quân chủ và thậm chí trở thành một bộ phận của Nam triều, các nhóm trí thức Tây học nói trên đã tự đặt mình vào vị trí là đối tượng cần bị loại bỏ trên con đường khai phóng (emancipation) của dân tộc, và thực tế, cả ba nhóm trên đã bị bão táp cách mạng lần lượt gạt ra bên lề của lịch sử.
Thứ ba, trong tất cả các tổ chức yêu nước và cách mạng ở Việt Nam cận đại, Đảng Cộng sản Việt Nam là tổ chức luôn trung thành với tư tưởng cộng hòa và luôn coi việc kiến lập một nền cộng hòa dân chủ là một mục tiêu chiến lược của cách mạng Việt Nam. Xét về bản chất, đây chính là mục tiêu chung của cả cuộc vận động dân tộc và dân chủ, phản đế và phản phong. Bởi lẽ, không thể xác lập được nền cộng hòa nếu không giải phóng được dân tộc, đồng thời, chỉ có thể giải phóng dân tộc khi đặt cuộc đấu tranh đó trên nền tảng của cuộc đấu tranh giải phóng con người giải phóng xã hội. Tuy nhiên, trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, tư tưởng về nền cộng hòa của Đảng đã có những bước chuyển biến quan trọng: từ mẫu hình cộng hòa Xô viết của xu hướng khuynh tả cuối những năm 20, đầu những năm 30 của thế kỷ trước, tư tưởng của Đảng ngày càng hướng mạnh về một nền cộng hòa dân chủ, pháp quyền, tiêu biểu cho ý chí và khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Đó chính là chế độ đã được Đảng, Mặt trận Việt Minh và nhân dân Việt Nam hiện thực hóa thông qua cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945 và công cuộc đấu tranh xây dựng và bảo vệ chính quyền cách mạng trong thời gian sau đó.
Thứ tư, tác giả và là vị tổng công trình sư vĩ đại của nền cộng hòa dân chủ, pháp quyền Việt Nam chính là lãnh tụ Hồ Chí Minh. Chính người đã truyền bá tư tưởng về nền cộng hòa hiện đại vào cách mạng Việt Nam, là người trực tiếp phát triển tư tưởng đó thành những nguyên tắc chính trị để kiến lập chế độ cộng hòa dân chủ và pháp quyền ở Việt Nam. Hồ Chí Minh cũng là người trực tiếp lãnh đạo và chỉ đạo công cuộc kiến tạo nền cộng hòa đó trong thực tiễn, ghi dấu ấn sâu đậm với những sáng kiến mang tầm vóc chiến lược, như triệu tập Quốc dân Đại hội, thành lập Ủy ban Dân tộc giải phóng, thành lập và cải tổ Lâm thời Chính phủ, tổ chức Tổng tuyển cử để tạo ra Quốc hội lập pháp và xây dựng bản Hiến pháp đầu tiên… Những đóng góp vô cùng to lớn đó của Hồ Chí Minh thực sự đã góp phần quyết định tạo dựng nên nền tảng cho chế độ chính trị Việt Nam hiện đại.
Thứ năm, nghiên cứu về lịch sử kiến lập chế độ cộng hòa dân chủ và pháp quyền ở Việt Nam hơn 70 về trước không chỉ giúp chúng ta nhận thức sâu sắc hơn, đầy đủ hơn về thành tựu, tính chất và ý nghĩa lịch sử của cuộc Cách mạng Tháng Tám mà còn rút ra được bài học có ý nghĩa thực tiễn cao cho công cuộc đổi mới hệ thống chính trị hiện nay. Đó là: phải đảm bảo nguyên tắc nền tảng của chế độ cộng hòa, đó là dân chủ và pháp quyền; phải đặt lợi ích quốc gia-dân tộc lên trên hết, đồng thời phải tuân thủ những nguyên tắc, thể thức và thông lệ quốc tế. Có như vậy nền cộng hòa dân chủ, pháp quyền mới thực sự phát huy được công năng của nó trong sự nghiệp phát triển bền vững của đất nước.
Bài đăng trên Tạp chí Lịch sử Đảng số 8-2016
1. Hồ Chí Minh Toàn tập, Nxb CTQG, H, 2011, T. 4, tr. 3. Những chữ in nghiêng do TG nhấn mạnh
2, 3, 5, 6. Đại Việt sử ký toàn thư, Nxb KHXH, H, 1998, T. II, tr. 79, 282, 79, 74
4. Xem Phạm Hồng Tung: “Different Perspectives on the Mobilization of the Masses in the Revolutionary High Tide of 1930-31”, South East Asia Research, London, 2011, tr. 761-764
7. Phan Bội Châu Toàn tập, Nxb Thuận Hóa, Huế, 1990, T. 2, tr. 87
8, 9, 10. Phan Bội Châu Toàn tập, Nxb Thuận Hóa, Huế, 2001, T. 3, tr. 129, 179, 179
11. Trong tư duy của Phan Bội Châu và thế hệ nhà Nho cấp tiến lãnh đạo phong trào yêu nước, duy tân khi đó, việc lựa chọn chế độ cộng hòa dân chủ làm hình mẫu lý tưởng cho “nước Việt Nam mới” là hoàn toàn nhất quán. Tuy về sách lược, Phan Bội Châu vẫn tôn hoàng thân Cường Để làm “minh chủ” và tán đồng chế độ quân chủ lập hiến, song cụ lại viết rõ: “Trên là vua nên để hay nên truất; dưới là quan nên thăng hay nên giáng, dân ta đều có quyền quyết đoán cả”. Phan Bội Châu Toàn tập, Nxb Thuận Hóa, Huế, 2001, T. 3, tr. 179