Tạp chí Lịch sử Đảng
Hotline:
024.6282.7060
Trang chủ
Những vấn đề chung
Danh mục Những vấn đề chung 1
Nghiên cứu
Hồ Chí Minh
Danh mục nghiên cứu Hồ Chí Minh 1
Bảo vệ nền tảng tư tưởng
của Đảng
Danh mục Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng 1
Nhân vật
Sự kiện
Danh mục Nhân vật Sự kiện 1
Trao đổi
Danh mục trao đổi 1
Lịch sử Đảng bộ
địa phương
Danh mục Lịch sử Đảng 1
Giáo dục
Lịch sử Đảng
Văn kiện
Tư Liệu
Danh mục Văn kiện Tư liệu 1
Phong trào Cộng sản
Thế giới
Danh mục Phong trào Cộng sản 1
Công trình khoa học
Thông tin
Thư viện ảnh
Thư viện video
Tạp chí
Giới thiệu
Liên hệ
Menu
Trang chủ
Những vấn đề chung
Danh mục Những vấn đề chung 1
Vị trí, vị thế của Quốc dân đại hội Tân Trào trong Cách mạng Tháng Tám năm 1945 và thiết lập nền dân chủ cộng hòa
PGS, TS ĐOÀN MINH HUẤN
Bí thư Tỉnh uỷ Ninh Bình
16/08/2023 - 01:20 AM
- 2.542 lượt xem
Cỡ chữ
Có thể ví, trong những ngày chuẩn bị và phát lệnh tổng khởi nghĩa, Tuyên Quang trở thành “Thủ đô” cách mạng, Tân Trào là “trung tâm đầu não chính trị”; Quốc dân Đại hội là hình thức “tiền Quốc hội”, đình Tân Trào là “nhà Quốc hội”, lán Nà Nưa là “Phủ Chủ tịch”, Mười chính sách của Việt Minh do Quốc dân Đại hội thông qua là “Hiến pháp tạm thời”.
Đây là những hình thức, bước đi trung gian, quá độ cần thiết, thể hiện tư duy sáng tạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng trong lãnh đạo Cách mạng Tháng Tám năm 1945. Từ “trung tâm đầu não chính trị” Tân Trào, hiệu lệnh tổng khởi nghĩa giành chính quyền đã được phát ra và lan truyền rộng khắp; các biện pháp huy động, tập hợp toàn dân tổng khởi nghĩa được triển khai; các sách lược ứng phó và phân hóa với từng loại đối tượng cách mạng được minh định; công tác chuẩn bị về mặt tổ chức cho chính quyền cách mạng lâm thời khai sinh và dịch chuyển về trung tâm chính trị Ba Đình (Hà Nội) được tiến hành khẩn trương và tích cực.
Trên chiều kích ấy, tỉnh Tuyên Quang đóng một vai trò đặc biệt quan trọng trong Cách mạng Tháng Tám năm 1945. Kỷ niệm 70 năm Cách mạng Tháng Tám, nhờ độ lùi về thời gian, khi có dịp nghiền ngẫm sâu hơn, càng thấy rõ sức sáng tạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng trong lãnh đạo tổng khởi nghĩa giành chính quyền.
Đình Tân Trào (huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang) nơi diễn ra Quốc dân Đại hội do Việt Minh triệu tập tháng 8/1945, quyết định Tổng khởi nghĩa, bầu ra Ủy ban dân tộc giải phóng do Hồ Chí Minh làm Chủ tịch
1
. Quốc dân Đại hội là tên gọi tắt của Đại hội đại biểu quốc dân, diễn ra trong bối cảnh thời cơ cho tổng khởi nghĩa giành chính quyền trên cả nước đã chín muồi khi Nhật tuyên bố đầu hàng quân Đồng minh, cao trào kháng Nhật cứu nước phát triển mạnh mẽ trên cả nước làm lung lay chế độ thống trị của Nhật và tay sai. Nhạy bén nắm bắt tình thế cách mạng, chủ động với các tình huống chính trị, theo sáng kiến của Hồ Chí Minh, Tổng bộ Việt Minh đã triệu tập Quốc dân Đại hội để quyết định những vấn đề hệ trọng của quốc gia.
Tại Đại hội, Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Đông Dương Trường - Chinh đã đọc báo cáo nhấn mạnh hai vấn đề lớn là Tổng khởi nghĩa giành chính quyền và bầu Ủy ban Dân tộc giải phóng Việt Nam. Đại hội tán thành chủ trương của Đảng (được thông qua tại Hội nghị toàn quốc của Đảng từ ngày 14 đến ngày 15-8-1945) lãnh đạo quần chúng nhân dân nổi dậy giành chính quyền từ tay Nhật, lật đổ chính quyền bù nhìn tay sai thân Nhật, chủ động đón tiếp quân Đồng minh vào giải giáp quân Nhật với vị thế, tư cách là lực lượng cầm quyền, làm chủ đất nước. Đại hội quyết định lấy Cờ đỏ sao vàng làm Quốc kỳ, bài Tiến quân ca làm Quốc ca, “Mười chính sách của Việt Minh” làm chính sách căn bản, bao gồm:
- Giành lấy chính quyền, xây dựng một nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trên nền tảng hoàn toàn độc lập.
- Võ trang nhân dân. Phát triển quân giải phóng Việt Nam.
- Tịch thu tài sản của giặc nước và Việt gian, tùy trường hợp sung công làm của quốc gia hay chia cho dân nghèo.
- Bỏ các thứ thuế do Pháp, Nhật đặt ra; đặt một thứ thuế công bằng và nhẹ.
- Ban bố những quyền của dân, cho dân.
+ Nhân quyền,
+ Tài quyền (quyền sở hữu),
+ Dân quyền: Quyền phổ thông đầu phiếu, quyền tự do dân chủ (tự do tín ngưỡng, tự do tư tưởng, ngôn luận, hội họp, đi lại), dân tộc bình quyền, nam nữ bình quyền.
- Chia lại ruộng công cho công bằng, giảm địa tô, giảm lợi tức, hoãn nợ, cứu tế nạn dân.
- Ban bố Luật lao động; ngày làm 8 giờ, định lương tối thiểu, đặt xã hội bảo hiểm.
- Xây dựng nền kinh tế quốc dân, phát triển nông nghiệp. Mở mang quốc gia ngân hàng.
- Xây dựng nền quốc dân giáo dục; chống nạn mù chữ, phổ thông và cưỡng bách giáo dục đến bậc sơ cấp. Kiến thiết nền văn hóa mới.
- Thân thiện và giao hảo với các nước Đồng minh và các nước nhược tiểu dân tộc để giành lấy sự đồng tình và sức ủng hộ của họ1.
Đại hội quyết định thành lập Ủy ban Dân tộc giải phóng Việt Nam do Hồ Chí Minh làm Chủ tịch, Trần Huy Liệu làm Phó Chủ tịch và các ủy viên: Nguyễn Lương Bằng, Đặng Xuân Khu (Trường - Chinh), Võ Nguyên Giáp, Phạm Văn Đồng, Dương Đức Hiền, Chu Văn Tấn, Nguyễn Văn Xuân, Cù Huy Cận, Nguyễn Đình Thi, Lê Văn Hiến, Nguyễn Chí Thanh, Phạm Ngọc Thạch, Nguyễn Hữu Đang. Thường trực của Ủy ban Dân tộc giải phóng gồm 5 người: Hồ Chí Minh, Trần Huy Liệu, Phạm Văn Đồng, Nguyễn Lương Bằng, Dương Đức Hiền.
Ngày 17-8-1945, Đại hội bế mạc trong không khí khẩn trương, sôi sục tổng khởi nghĩa. Thay mặt Ủy ban Dân tộc giải phóng Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc lời tuyên thệ: “Chúng tôi là những người được Quốc dân đại biểu bầu vào Ủy ban Dân tộc giải phóng để lãnh đạo cuộc cách mạng của nhân dân. Trước lá cờ thiêng liêng của Tổ quốc, chúng tôi nguyện kiên quyết lãnh đạo nhân dân tiến lên, ra sức chiến đấu chống quân thù, giành lại độc lập cho Tổ quốc. Dù phải hy sinh đến giọt máu cuối cùng, không lùi bước”. Thay mặt Ủy ban Dân tộc giải phóng, trong thời khắc quyết liệt và khẩn trương, Hồ Chí Minh đã gửi thư kêu gọi đồng bào cả nước, trong đó có đoạn viết:
“… Hỡi đồng bào yêu quý!
Giờ quyết định cho vận mệnh dân tộc ta đã đến. Toàn quốc đồng bào hãy đứng dậy đem sức ta mà tự giải phóng cho ta.
Nhiều dân tộc bị áp bức trên thế giới đang ganh nhau tiến bước giành quyền độc lập. Chúng ta không chậm trễ.
Tiến lên! Tiến lên! Dưới lá cờ Việt Minh, đồng bào hãy dũng cảm tiến lên!”2.
2
. Quốc dân Đại hội Tân Trào chiếm một vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng trong bước phát triển nhảy vọt của lịch sử, phát động và tiến hành tổng khởi nghĩa giành chính quyền, kiến tạo nền dân chủ cộng hòa trong buổi đầu “trứng nước”.
Trước hết, cần phải đặt Quốc dân Đại hội ở Tân Trào trong cả tiến trình cách mạng của thời kỳ tiền khởi nghĩa, nhất là sau khi Nhật đảo chính Pháp (9-3-1945), tình thế cho khởi nghĩa từng phần xuất hiện, Ban Thường vụ Trung ương Đảng ban hành Chỉ thị Nhật - Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta (12-3-1945); trực tiếp là sau khi Nhật tuyên bố đầu hàng Đồng minh, thời cơ tổng khởi nghĩa giành chính quyền trên cả nước chín muồi. Sự kiện Nhật đảo chính hất Pháp để độc chiếm Đông Dương đã báo hiệu mâu thuẫn trong hàng ngũ kẻ thù không thể dung hòa được. Đảng từ chỗ xác định kẻ thù chủ yếu là Pháp - Nhật sang xác định kẻ thù trước mắt là phát xít Nhật và phát động phong trào khởi nghĩa từng phần, tạo tiền đề đi tới tổng khởi nghĩa. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, thông qua hình thức Mặt trận Việt Minh, nhân dân ta ở nhiều nơi trên cả nước đã đứng lên giành chính quyền cục bộ, nhất là ở Việt Bắc đã hình thành các“xã hoàn toàn”, “tổng hoàn toàn”, rồi thành lập Khu giải phóng Việt Bắc (4-6-1945) gồm 6 tỉnh Cao - Bắc - Lạng - Hà - Tuyên - Thái và một số vùng ngoại vi của các tỉnh Bắc Giang, Phú Thọ, Vĩnh Yên, Yên Bái, góp phần làm suy yếu chính quyền địch. Khu giải phóng Việt Bắc lấy Tuyên Quang làm trung tâm, làm nơi ATK (An toàn khu) Trung ương và đặt các cơ quan đầu não lãnh đạo cuộc cách mạng. Trên đà thắng lợi, khi thời cơ cách mạng đang tới, Trung ương Đảng dần dịch chuyển bộ tham mưu lãnh đạo từ Cao Bằng về Tuyên Quang. Đứng chân ở Tân Trào vừa thuận lợi chỉ đạo toàn vùng Việt Bắc và cả nước; vừa đảm bảo khả năng di chuyển về Hà Nội cùng với mỗi bước thắng lợi của cuộc tổng khởi nghĩa; vừa thuận lợi giao thiệp, hợp tác với quân Đồng minh (Mỹ).
Quốc dân Đại hội được triệu tập tại Tân Trào vào thời khắc lịch sử phát triển nhảy vọt, có ý nghĩa như Hội nghị Diên Hồng thời đại mới, chuẩn bị thế và lực cho cuộc tổng khởi nghĩa giành chính quyền, phát đi một thông điệp, hiệu lệnh dẫn dắt toàn bộ cuộc tổng khởi nghĩa cũng như tạo nền tảng cho định hình thể chế dân chủ cộng hoà.
Thứ hai, Quốc dân Đại hội là một thiết chế chính trị đặc biệt trong một giai đoạn phát triển nhảy vọt của lịch sử, thể hiện sự sáng tạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng, tạo lập tính chính đáng của chính quyền cách mạng lâm thời khi chưa thể tổ chức tổng tuyển cử. Trước một thời điểm bước ngoặt của lịch sử, một vấn đề đặt ra cho mọi thành phần dân cư không chỉ là đánh đổ chính quyền cũ mà còn phải hình dung được chính thể mới, nhất là các cơ cấu đại diện cho lợi ích, nguyện vọng của mọi tầng lớp nhân dân cũng như chính sách mới ban hành. Thông thường, một cơ cấu đại diện như thế chỉ hình thành nhờ tổng tuyển cử, nhưng rõ ràng trong điều kiện chưa giành được chính quyền cả nước thì tổng tuyển cử hoàn toàn bất khả thi. Công xã Pari đã cho một bài học quan trọng về tiến hành tổng tuyển cử khi chính quyền địch chưa bị đánh đổ hoàn toàn, không tranh thủ được thời cơ để tiến công liên tục và giành thắng lợi cuối cùng. Do đó, Quốc dân Đại hội là một hình thức trung gian, quá độ, có thể xem như một “Quốc hội lâm thời” khi chưa thể tiến hành tổng tuyển cử bầu Quốc hội, được hình thành bằng cơ cấu các thành phần đại diện cho các giai cấp, chính giới, thành phần xã hội trong một hình thức Đại hội đại biểu quốc dân. Ngay cái tên “Quốc dân” đã thể hiện dân tộc tính rất mãnh liệt, phản ánh đại biểu của Quốc dân Đại hội không chỉ giới hạn ở đại diện cho một giai cấp, tầng lớp, mà là đại diện cho toàn thể dân tộc Việt Nam. Nó mang ý nghĩa rộng hơn khái niệm nhân dân, công dân. Nó thể hiện ý chí, quyết tâm chính trị của toàn thể dân tộc trong cuộc cách mạng. Quốc dân Đại hội bầu ra Ủy ban Dân tộc giải phóng, do Hồ Chí Minh đứng đầu, được xem như chính phủ lâm thời. Ngày 25-8, khi về Hà Nội, Ủy ban Dân tộc giải phóng Việt Nam đã cải tổ thành Chính phủ lâm thời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, mà ở đó một số đảng viên cộng sản rút ra nhường chỗ cho các thành phần không đảng phái, càng làm cho tính đại diện, tính chính đáng của chính quyền cách mạng lâm thời được tăng lên. Điều này cắt nghĩa lý do vì sao sau Cách mạng Tháng Tám 1945, dù đối diện với hàng loạt thù trong, giặc ngoài, chính quyền cách mạng vẫn nhận được sự ủng hộ to lớn của mọi tầng lớp nhân dân, trụ vững và mạnh dần lên. Tổng tuyển cử bầu Quốc hội khóa I (6-1-1946) đã mở ra một bước ngoặt mới, chính thức bầu nên một cơ cấu đại diện thông qua phổ thông đầu phiếu, trực tiếp của toàn dân trên cả nước.
Thứ ba, Quốc dân Đại hội Tân Trào quyết định lấy Mười chính sách của Việt Minh thi hành, được xem như một “Hiến pháp tạm thời” đã thể hiện rõ tính linh hoạt, sáng tạo trong lãnh đạo cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản ở Việt Nam. Mười chính sách của Việt Minh rất cô đọng, ngắn gọn nhưng bao quát những quyền dân chủ cơ bản của con người, những phương hướng lớn của chính thể dân chủ cộng hòa mà bất cứ người dân Việt Nam nào cũng dễ chấp nhận được, dễ nhớ và dễ làm. Có thể xem đó chính là một thông điệp chính trị của thể chế mới để gây ảnh hưởng, tập hợp, đoàn kết quần chúng, không chỉ đứng lên giành chính quyền mà cả xây dựng chính quyền mới, tổ chức lại đời sống, kiến thức nền dân chủ cộng hòa. Vì vậy, sau khi Cách mạng Tháng Tám thành công, Mười chính sách của Việt Minh là phương hướng, phương châm chỉ đạo mọi mặt đời sống, được thể chế hóa trong các sắc lệnh điều hành của Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Phải đến ngày 9-11-1946, bản Hiến pháp dân chủ đầu tiên mới được thông qua, nhưng đất nước lại chuẩn bị bước vào cuộc kháng chiến toàn quốc, nên chưa được thực thi đầy đủ trên thực tế. Điều đó càng thấy vai trò, ý nghĩa lớn lao của Mười chính sách của Mặt trận Việt Minh mang ý nghĩa bản “Hiến pháp tạm thời” trong năm đầu sau Cách mạng Tháng Tám.
3
. Từ những sự kiện lịch sử trên mảnh đất Tuyên Quang những ngày đầu phát lệnh tổng khởi nghĩa giành chính quyền, có thể rút ra một số nhận xét:
Một là: Vai trò của Đảng Cộng sản Đông Dương, đứng đầu là lãnh tụ Hồ Chí Minh trong các thiết kế chính trị, lựa chọn địa điểm đứng chân gắn với động thái lịch sử trong các bước chuyển biến của cách mạng từ thấp lên cao, nhất là từ khởi nghĩa địa phương tiến lên khởi nghĩa từng phần, từ khởi nghĩa từng phần tiến lên tổng khởi nghĩa. Nếu như Cao Bằng được chọn làm địa điểm đứng chân của trung tâm đầu não lãnh đạo cách mạng ở giai đoạn khi Hồ Chí Minh mới trở về Tổ quốc sau 30 năm bôn ba nước ngoài, khởi nghĩa địa phương diễn ra khắp cả nước, thì Tuyên Quang được chọn làm “Thủ đô cách mạng” vào thời điểm chuyển biến từ khởi nghĩa từng phần lên tổng khởi nghĩa. Sau ngày Toàn quốc kháng chiến (19-12-1946), khi buộc phải rời Hà Nội, nhiều địa điểm của Tuyên Quang tiếp tục trở thành nơi đứng chân của Trung ương Đảng, Chính phủ để lãnh đạo cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược.
Hai là: Lựa chọn đúng địa điểm có điều kiện “thiên thời, địa lợi, nhân hòa” để lập chỗ đứng chân, dựng lên “Thủ đô cách mạng” vào những thời khắc lịch sử mang tính quyết định thành bại của cách mạng. Tính chất “thiên thời, địa lợi, nhân hòa” của Tuyên Quang, của “trung tâm chính trị” Tân Trào, được tạo nên bởi chính vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên, tinh thần yêu nước và cách mạng của nhân dân. Đây là địa phương được Trung ương Đảng và lãnh tụ Hồ Chí Minh sớm lựa chọn và chỉ đạo xây dựng các cơ sở chính trị, lực lượng vũ trang, tổ chức thành ATK của Trung ương. Từ “trung tâm chính trị Tân Trào” (Tuyên Quang) dịch chuyển đến trung tâm chính trị Ba Đình (Hà Nội) trong Cách mạng Tháng Tám năm 1945 là một dòng chảy liên tục của cách mạng trong bước phát triển nhảy vọt.
Ba là: Coi trọng các hình thức, thiết chế trung gian, quá độ trong quá trình lãnh đạo cách mạng. Đặc biệt là các hình thức, thiết chế trung gian nhằm đoàn kết, tập hợp lực lượng dân tộc đấu tranh giành chính quyền, tăng tính chính đáng của chính thể mới khi ra mắt quốc dân và tổ chức quyền lực công trong điều kiện chưa thể tổ chức tổng tuyển cử theo hình thức phổ thông đầu phiếu và trực tiếp. Quốc dân Đại hội Tân Trào là một hình thức “tiền Quốc hội” trung gian, quá độ đầy ý nghĩa đó, có vai trò, vị trí to lớn đối với lịch sử cơ quan lập pháp Việt Nam.
Bài đăng trên Tạp chí Lịch sử Đảng số 8-2015
1. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập, Nxb CTQT, H, 2001, T.7, tr. 559-560
2. Hồ Chí Minh Toàn tập, Nxb CTQG, H, 2011, T.3, tr. 554.
Về trang trước
Gửi email
In trang
Các bài viết khác
Hội Liên hiệp quốc dân Việt Nam - Biểu tượng của khối đoàn kết toàn dân tộc
18/06/2026 - 502 lượt xem
Đảng bộ Liên khu V lãnh đạo phát triển chiến tranh du kích chống càn quét, bình định của thực dân Pháp (1951-1952)
17/06/2026 - 296 lượt xem
Trung ương Cục miền Nam lãnh đạo công tác dân vận (1969-1975)
12/06/2026 - 310 lượt xem
Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng (5-1941) nhận định thời cuộc, nắm bắt thời cơ, chuẩn bị lực lượng cho cách mạng giải phóng dân tộc
29/05/2026 - 887 lượt xem
Giới thiệu tạp chí in
Năm tìm kiếm
Tạp chí Lịch sử Đảng 2023
Tạp chí Lịch sử Đảng 1983
Tạp chí Lịch sử Đảng 1984
Tạp chí Lịch sử Đảng 1985
Tạp chí Lịch sử Đảng 1986
Tạp chí Lịch sử Đảng 1987
Tạp chí Lịch sử Đảng 1988
Tạp chí Lịch sử Đảng 1989
Tạp chí Lịch sử Đảng 1990
Tạp chí Lịch sử Đảng 1991
Tạp chí Lịch sử Đảng 1992
Tạp chí Lịch sử Đảng 1993
Tạp chí Lịch sử Đảng 1994
Tạp chí Lịch sử Đảng 1995
Tạp chí Lịch sử Đảng 1996
Tạp chí Lịch sử Đảng 1997
Tạp chí Lịch sử Đảng 1998
Tạp chí Lịch sử Đảng 1999
Tạp chí Lịch sử Đảng 2000
Tạp chí Lịch sử Đảng 2001
Tạp chí Lịch sử Đảng 2002
Tạp chí Lịch sử Đảng 2003
Tạp chí Lịch sử Đảng 2004
Tạp chí Lịch sử Đảng 2005
Tạp chí Lịch sử Đảng 2006
Tạp chí Lịch sử Đảng 2007
Tạp chí Lịch sử Đảng 2008
Tạp chí Lịch sử Đảng 2009
Tạp chí Lịch sử Đảng 2010
Tạp chí Lịch sử Đảng 2011
Tạp chí Lịch sử Đảng 2012
Tạp chí Lịch sử Đảng 2013
Tạp chí Lịch sử Đảng 2014
Tạp chí Lịch sử Đảng 2015
Tạp chí Lịch sử Đảng 2017
Tạp chí Lịch sử Đảng 2021
Tạp chí Lịch sử Đảng 2022
Nội san Nghiên cứu Lịch sử Đảng 1969
Nội san nghiên cứu Lịch sử Đảng 1970
Nội san nghiên cứu Lịch sử Đảng 1971
Nội san nghiên cứu Lịch sử Đảng 1972
Nội san nghiên cứu Lịch sử Đảng 1973
Nội san nghiên cứu Lịch sử Đảng 1974
Nội san nghiên cứu Lịch sử Đảng 1975
Nội san nghiên cứu Lịch sử Đảng 1976
Nội san nghiên cứu Lịch sử Đảng 1977
Nội san nghiên cứu Lịch sử Đảng 1978
Nội san nghiên cứu Lịch sử Đảng 1979
Nội san nghiên cứu Lịch sử Đảng 1980
Nội san nghiên cứu Lịch sử Đảng 1981
Nội san nghiên cứu Lịch sử Đảng 1982
Tạp chí Lịch sử Đảng 2024
Tạp chí Lịch sử Đảng 2025
Tạp chí Lịch sử Đảng 2026
Tạp chí lịch sử Đảng 2016
Tạp Chí lịch sử đảng 2018
Tạp Chí lịch sử đảng 2019
Tạp Chí lịch sử đảng 2020
Mục lục Tạp chí Lịch sử Đảng số 6/2026
Mục lục Tạp chí Lịch sử Đảng số 5/2026
Xem thêm
Đọc nhiều
Phát triển kinh tế ở Việt Nam (1986-2021) - Chủ trương và một số thành tựu
Chiến tranh Việt Nam trong cục diện tam giác Mỹ - Trung - Xô (1954- 1975)
Dân tộc Việt Nam buộc phải chiến đấu chống đế quốc Mỹ xâm lược, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước
Phong trào bình dân học vụ (1945 –1946)
Cuộc đấu tranh thống nhất đất nước Việt Nam (1954-1975) tiếp cận từ một số phương diện quốc tế
hỌC VIỆN chính trị quốc gia hồ chí minh
HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ KHU VỰC I
HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ KHU VỰC II
HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ KHU VỰC III
HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ KHU VỰC IV
Học viện báo chí và tuyên truyền