Tóm tắt: Từ những ngày đầu mới thành lập Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nay là nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Hồ Chí Minh khẳng định: Nước ta là nước dân chủ. Bao nhiêu quyền hạn đều của dân. Tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân thể hiện sự nhất quán, tầm nhìn vượt thời đại và có giá trị vững bền, trở thành cơ sở lý luận cho việc xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam hiện nay.

Từ khóa: tư tưởng Hồ Chí Minh; Nhà nước của dân, do dân, vì dân; Hiến pháp năm 1946.


Chủ tịch Hồ Chí Minh ký sắc lệnh công bố Hiến pháp năm 1959

1. Hiến pháp năm 1946 - nền tảng xây dựng và hoàn thiện nhà nước của dân, do dân, vì dân
Hiến pháp là văn kiện chính trị - pháp lý quan trọng, là đạo luật gốc của mỗi quốc gia, thể hiện bản chất tiến bộ, dân chủ của chế độ đó. Việt Nam đã có 4 bản Hiến pháp: Hiến pháp năm 1946, Hiến pháp năm 1959, Hiến pháp năm 1980 và Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001, năm 2013). Trong các bản hiến pháp nói trên, Hiến pháp năm 1946 - bản Hiến pháp đầu tiên, do Chủ tịch Hồ Chí Minh là Trưởng Ban soạn thảo, đã đặt nền tảng quan trọng cho việc xây dựng và hoàn thiện một nhà nước thực sự của dân, do dân, vì dân.
Những tư tưởng về xây dựng cơ sở pháp lý cho một xã hội vì con người đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu ra từ năm 1919 trong bản “Yêu sách của nhân dân An Nam” gửi tới Hội nghị Versaille. Trong đó, Người yêu cầu phải cho nhân dân An Nam có các quyền tự do, cải cách nền pháp lý ở Đông Dương để người bản xứ được hưởng các quyền bảo đảm bằng pháp luật; thay thế chế độ ra sắc lệnh bằng chế độ ra các đạo luật. Năm 1922, Người đã khái quát nguyện vọng trên trong bài Việt Nam yêu cầu ca:
“Bảy xin Hiến pháp ban hành
Trăm điều phải có thần linh pháp quyền”1
Tư tưởng Hồ Chí Minh về việc xây dựng và ban hành một bản Hiến pháp dân chủ luôn gắn liền với đường lối, chủ trương của Đảng. Nghị quyết HNTƯ tháng 11-1940 nhấn mạnh yêu cầu và nhiệm vụ: “Ban bố hiến pháp dân chủ, ban bố những quyền tự do dân chủ cho nhân dân: tự do ngôn luận, tự do tư tưởng, tự do tín ngưỡng, tự do hội họp...”2. Tư tưởng này của Người tiếp tục được nêu ra tại phiên họp đầu tiên của Chính phủ lâm thời (ngày 3-9-1945): “Trước chúng ta đã bị chế độ quân chủ chuyên chế cai trị, rồi đến chế độ thực dân không kém phần chuyên chế, nên nước ta không có Hiến pháp. Nhân dân không được hưởng quyền tự do dân chủ. Chúng ta phải có một Hiến pháp dân chủ...”3.
Thực hiện chủ trương trên, ngày 20-9-1945, Chủ tịch Chính phủ lâm thời ra Sắc lệnh thành lập Ủy ban dự thảo Hiến pháp do Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng đầu. Ngày 9-11-1946, tại Kỳ họp thứ 2, Quốc hội Khóa I thông qua bản Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
Bản Hiến pháp năm 1946 có 7 chương 70 điều, là hiến pháp đầu tiên trong lịch sử dân tộc Việt Nam. Về tính chất, đó là hiến pháp của thời kỳ cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân. Tại phiên họp, Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu rõ: “Sau khi nước nhà mới tự do được 14 tháng đã làm thành được bản Hiến pháp đầu tiên trong lịch sử nước nhà. Bản Hiến pháp đó còn là một vết tích lịch sử Hiến pháp đầu tiên trong cõi Á Đông này nữa. Bản Hiến pháp đó chưa hoàn toàn nhưng nó đã làm lên theo một hoàn cảnh thực tế. Hiến pháp đó tuyên bố với thế giới, nước Việt Nam đã độc lập. Hiến pháp đó đã tuyên bố với thế giới biết dân tộc Việt Nam có đủ mọi quyền tự do. Hiến pháp đó đã tuyên bố với thế giới: Phụ nữ Việt Nam đã được đứng ngang hàng với đàn ông để hưởng chung mọi quyền tự do của một công dân. Hiến pháp đó đã nêu một tinh thần đoàn kết chặt chẽ giữa các dân tộc Việt Nam và một tinh thần liêm khiết, công bình của các giai cấp”4.
Để đảm bảo thực thi các quyền dân chủ, nhân quyền trong thực tiễn cuộc sống, Hiến pháp năm 1946 nhấn mạnh thực hiện chính quyền mạnh mẽ và sáng suốt của nhân dân thông qua việc xây dựng một nhà nước thực sự của dân, do dân, vì dân. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định:
“Nước ta là nước dân chủ.
Bao nhiêu lợi ích đều vì dân.
Bao nhiêu quyền hạn đều của dân.
Công việc đổi mới, xây dựng là trách nhiệm của dân.
Sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc là công việc của dân.
Chính quyền từ xã đến Chính phủ trung ương do dân cử ra.
Đoàn thể từ Trung ương đến xã do dân tổ chức nên.
Nói tóm lại, quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân”5.
Đó là điểm khác nhau về bản chất giữa nhà nước của nhân dân với các nhà nước của giai cấp bóc lột đã từng tồn tại trong lịch sử.
 
2. Hiến pháp năm 1946 và các đặc trưng cơ bản của Nhà nước của dân, do dân, vì dân
Nhà nước của dân
Hiến pháp năm 1946 ra đời, là dấu mốc khẳng định lần đầu tiên trong lịch sử dân tộc Việt Nam, các quyền tự do, dân chủ của con người được đạo luật cơ bản ghi nhận và bảo đảm; và cũng là lần đầu tiên, người lao động Việt Nam được xác nhận có tư cách công dân của một nước độc lập.
Nhà nước của dân là nhà nước trong đó mọi quyền lực đều thuộc về Nhân dân. Điều 1 Hiến pháp năm 1946 khẳng định: “Nước Việt Nam là một nước dân chủ cộng hòa. Tất cả quyền bính trong nước là của toàn thể nhân dân Việt Nam, không phân biệt nòi giống, gái trai, giàu nghèo, giai cấp, tôn giáo”6. Điều 32 quy định: “Những việc quan hệ đến vận mệnh quốc gia sẽ đưa ra nhân dân phúc quyết...”7. Thực chất đây là chế độ trưng cầu dân ý, một hình thức dân chủ trực tiếp đã được ghi nhận khá sớm ở Việt Nam.
Trong nhà nước của dân thì người dân là chủ, được hưởng mọi quyền dân chủ, nghĩa là người dân có quyền làm bất cứ việc gì mà pháp luật không cấm và có nghĩa vụ tuân theo pháp luật. Trong Hiến pháp 1946, những quyền cơ bản của công dân Việt Nam được quy định ở Mục B, từ Điều 6 đến Điều 15. Cụ thể như: Tất cả công dân Việt Nam đều ngang quyền về mọi phương diện: chính trị, kinh tế, văn hóa (Điều 6); Tất cả công dân Việt Nam đều bình đẳng trước pháp luật, đều được tham gia chính quyền và công cuộc kiến quốc tuỳ theo tài năng và đức hạnh của mình (Điều 7); Đàn bà ngang quyền với đàn ông về mọi phương diện (Điều 9); Công dân Việt Nam có quyền: Tự do ngôn luận; Tự do xuất bản; Tự do tổ chức và hội họp; Tự do tín ngưỡng; Tự do cư trú, đi lại trong nước và ra nước ngoài (Điều 10); Quyền tư hữu tài sản (Điều 12);... Đặc biệt, điều 16 còn quy định: Những người ngoại quốc tranh đấu cho dân chủ và tự do mà phải trốn tránh thì được trú ngụ trên đất Việt Nam. Bên cạnh đó, mỗi công dân Việt Nam đều phải có nghĩa vụ: Bảo vệ Tổ quốc; Tôn trọng Hiến pháp; Tuân theo pháp luật (Điều 4); nghĩa vụ phải đi lính (Điều 5)8.
Nhà nước của dân là nhà nước phải bằng mọi nỗ lực, hình thành các thiết chế dân chủ để thực thi quyền làm chủ của người dân. Các đại biểu đại diện của dân, do dân bầu cử ra, chỉ là thừa ủy quyền của dân, chỉ là công bộc của dân.
Nhà nước do dân
Đó là nhà nước do dân lựa chọn, bầu ra những đại biểu của mình: Hiến pháp năm 1946 quy định: Nghị viện nhân dân là cơ quan có quyền cao nhất của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà (Điều 22); Nghị viện nhân dân do công dân Việt Nam bầu ra. Ba năm bầu một lần (Điều 24)9. Nghị viện nhân dân họp mỗi năm hai lần, họp công khai, công chúng được vào nghe. Nhà nước do dân ủng hộ, giúp đỡ, đóng thuế để nhà nước chi tiêu, hoạt động. Nhà nước đó lại do dân phê bình, xây dựng, giúp đỡ. Hiến pháp năm 1946 cũng quy định: Nhân dân có quyền phúc quyết về Hiến pháp và những việc quan hệ đến vận mệnh quốc gia. Điểm c) Điều thứ 70 ghi: “Những điều thay đổi khi đã được Nghị viện ưng chuẩn thì phải đưa ra toàn dân phúc quyết”10
Nhà nước vì dân
Nhà nước vì dân là nhà nước phục vụ lợi ích và nguyện vọng chính đáng của nhân dân. Chỉ có một nhà nước thực sự của dân, do dân tổ chức, xây dựng và kiểm soát trên thực tế mới có thể là nhà nước vì dân. Nhà nước không có đặc quyền đặc lợi, Nhà nước cần thực sự trong sạch, cần, kiệm, liêm, chính. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: Cả đời tôi chỉ có một mục đích, là phấn đấu cho quyền lợi Tổ quốc và hạnh phúc của quốc dân. Những khi tôi phải ẩn nấp nơi núi non, hoặc ra vào chốn tù tội, xông pha sự hiểm nghèo - là vì mục đích đó. Đến lúc nhờ quốc dân đồng bào đoàn kết, tranh được chính quyền, ủy thác cho tôi gánh việc Chính phủ, tôi lo lắng đêm ngày, nhẫn nhục cố gắng - cũng vì mục đích đó11. Đó là vị Chủ tịch nước đứng đầu một chính quyền vì dân.
Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng: Chế độ ta là chế độ dân chủ, nghĩa là nhân dân làm chủ. Đảng ta là Đảng lãnh đạo, nghĩa là tất cả các cán bộ, từ trung ương đến khu, đến tỉnh, đến huyện, đến xã, bất kỳ ở cấp nào và ngành nào - đều phải là người đày tớ trung thành của nhân dân. Trong nhà nước đó, cán bộ từ Chủ tịch trở xuống đều là công bộc của dân. Vì vậy: Việc gì lợi cho dân, ta phải hết sức làm. Việc gì hại đến dân, ta phải hết sức tránh12.
Về mối quan hệ giữa người chủ nhà nước là nhân dân với người cán bộ nhà nước là công bộc của dân, do dân bầu ra, được nhân dân ủy quyền, Người nói: “Dân làm chủ thì Chủ tịch, Bộ trưởng, Thứ trưởng, Ủy viên này khác là làm cái gì? Làm đày tớ. Làm đày tớ cho nhân dân, chứ không phải là làm quan cách mạng”13.
 
3. Vận dụng Tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước của dân, do dân, vì dân trong xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa hiện nay
Kế thừa tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước của dân, do dân, vì dân, thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển năm 2011), Đảng và Nhà nước đang tích cực đẩy mạnh xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN. Văn kiện Đại hội XII (2016) của Đảng nhấn mạnh: “Tiếp tục xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa do Đảng lãnh đạo là nhiệm vụ trọng tâm của đổi mới hệ thống chính trị...”14.
Khái niệm “nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa” lần đầu tiên được nêu ra tại HNTƯ 2 khóa VII (ngày 29-11-1991). Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam là phương thức tổ chức và vận hành quyền lực của nhân dân dưới hai hình thức chủ yếu là nhà nước và pháp luật theo nguyên tắc dân chủ nhằm bảo đảm các quyền và tự do của công dân.
Thứ nhất, Nhà nước pháp quyền XHCN là Nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức. Đây là một nguyên tắc hiến định (Điều 2 Hiến pháp năm 1992) thể hiện rõ nét và sâu sắc bản chất của nền dân chủ XHCN chân chính, triệt để, đảm bảo thực hiện quyền lực thực sự của nhân dân trong chế độ XHCN. Dân chủ và phát huy dân chủ luôn được xác định là mục tiêu trọng tâm của nhà nước pháp quyền XHCN, chính vì vậy, nguyên tắc tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân đã trở thành nguyên tắc cơ bản trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước từ Trung ương đến địa phương, cũng như của các cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp.
Thứ hai, quyền lực Nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp. Quyền lực nhà nước là thống nhất chính là sự khẳng định tất cả quyền lực nhà nước là thuộc về nhân dân, trong đó, yêu cầu phân công, phối hợp quyền lực nhà nước và kiểm soát quyền lực nhà nước bảo đảm cho quyền lực nhà nước thống nhất, loại bỏ sự chồng chéo, đảm bảo cho tổ chức lao động quyền lực nhà nước khoa học, hiệu quả, góp phần ngăn chặn một cách có hiệu quả sự lạm quyền từ phía các cơ quan nhà nước.
Thứ ba, Nhà nước ban hành pháp luật; tổ chức, quản lý xã hội bằng pháp luật và không ngừng tăng cường pháp chế XHCN; Hiến pháp và các đạo luật có vị trí tối cao trong việc điều chỉnh các quan hệ thuộc tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. Đặc trưng nổi bật này thể hiện sự thay đổi căn bản mối quan hệ giữa nhà nước và pháp luật, theo đó, tuy pháp luật do nhà nước ban hành nhưng pháp luật lại có vai trò thống trị đối với chính nhà nước đã ban hành ra nó.
Thứ tư, Nhà nước phục vụ nhân dân, gắn bó mật thiết với nhân dân, thực hiện đầy đủ quyền dân chủ của nhân dân, tôn trọng, lắng nghe ý kiến của nhân dân và chịu sự giám sát của nhân dân. Đồng thời, Nhà nước có cơ chế và biện pháp kiểm tra, ngăn ngừa và trừng trị tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí, vô trách nhiệm, lạm quyền, xâm phạm quyền dân chủ của công dân; giữ nghiêm kỷ cương xã hội, nghiêm trị mọi hành động xâm phạm lợi ích của Tổ quốc và nhân dân.
Thứ năm, Nhà nước tôn trọng và bảo vệ quyền con người, quyền công dân; chăm lo hạnh phúc, sự phát triển tự do của mỗi người. Các quyền và nghĩa vụ công dân do Hiến pháp và pháp luật quy định. Hiến pháp năm 1992 - Hiến pháp của đất nước giai đoạn đầu thời kỳ đổi mới, đã dành 34 trong tổng số 147 điều quy định về quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân. Tiêu chí về quyền con người, quyền công dân đã được ghi nhận như một nguyên tắc cơ bản trong quá trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam, trong đó, Nhà nước pháp quyền XHCN giữ vai trò góp phần tạo dựng một không gian chính trị - pháp lý nhằm đảm bảo và phát huy các quyền cơ bản của con người. 
Thứ sáu, Nhà nước tôn trọng và thực hiện đầy đủ các điều ước quốc tế mà nước Cộng hoà XHCN Việt Nam là thành viên. Thực hiện chính sách đối ngoại rộng mở, đa phương hóa, đa dạng hóa các quan hệ quốc tế, Việt Nam đã ký kết và gia nhập nhiều điều ước quốc tế và trở thành thành viên của nhiều tổ chức trong khu vực và quốc tế. Chính vì vậy, trong quá trình hội nhập và hợp tác, Nhà nước Việt Nam có trách nhiệm thực hiện đầy đủ, có thiện chí và tận tâm các cam kết quốc tế của mình.
Thứ bảy, bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Nhà nước pháp quyền XHCN, sự giám sát và phản biện xã hội của nhân dân, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị-xã hội. Đây cũng là một nguyên tắc Hiến định (Điều 4, Điều 9 Hiến pháp năm 1992) nhằm khẳng định vai trò là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội của Đảng Cộng sản Việt Nam, vai trò giám sát xã hội của nhân dân, chức năng phát huy truyền thống đoàn kết toàn dân, tăng cường sự nhất trí về chính trị và tinh thần trong nhân nhân dân của Mặt trận Tổ quốc cũng như các tổ chức chính trị-xã hội.
Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng nhà nước của dân, do dân, vì dân trong Hiến pháp năm 1946 có giá trị vô cùng to lớn trong cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc, tự do của Tổ quốc; trong xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, phấn đấu vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, công bằng, dân chủ, văn minh”.
 
 
 
Bài đăng trên Tạp chí Lịch sử Đảng số 8-2020
1. Hồ Chí Minh Toàn tập, Nxb CTQG, H, 2011, T.1, tr. 473
2. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập, Nxb CTQG, H, 2000, T.7, tr. 69
3, 4, 11, 12. Hồ Chí Minh Toàn tập, Nxb CTQG, H, 2011, T. 4, tr. 7, 491, 272, 65
5. Sđd, T. 6, tr. 232
6, 7, 8, 9, 10. Theo Bộ Tư Pháp: Cơ sở dữ liệu văn bản quy phạm pháp luật, nguồn: https://moj.gov.vn/vbpq/lists/vn%20bn%20php%20lut/view_detail.aspx?itemid=536
13. Hồ Chí Minh Toàn tập, Nxb CTQG, H, 2011, T. 10, tr. 572
14. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Văn phòng Trung ương Đảng, H, 2016, tr.175.