Tóm tắt: Cách đây 50 năm, trước lúc đi xa, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã để lại cho toàn Đảng, toàn dân, toàn quân và các thế hệ người Việt Nam bản Di chúc lịch sử bất hủ, là văn kiện lịch sử vô giá. Những nội dung cơ bản, những quan điểm cốt yếu trong Di chúc của Người đã vạch ra phương hướng phát triển cho cách mạng Việt Nam, không chỉ hôm nay mà cả trong tương lai; trong đó, những quan điểm của Người về “Củng cố quốc phòng”1 là cơ sở, nền tảng để xây dựng đường lối quân sự, chiến lược quốc phòng của Đảng trong thời kỳ mới.

1. Sau năm 1975, đất nước bước sang giai đoạn mới-giai đoạn hòa bình, độc lập, thống nhất, cả nước đi lên CNXH. Một trong những nhiệm vụ đặt ra vừa cấp bách, vừa lâu dài cho toàn Đảng, toàn quân và nhân dân Việt Nam là thực hiện điều mong muốn cuối cùng của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong Di chúc: “Củng cố quốc phòng”. Nhưng không bao lâu, năm 1978-1979, chiến tranh xảy ra ở biên giới phía Bắc và Tây Nam của Tổ quốc. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, quân và dân Việt Nam tiếp tục bước vào cuộc chiến đấu mới vừa bảo vệ Tổ quốc, vừa đồng thời làm nghĩa vụ quốc tế cao cả, giúp nhân dân Campuchia thoát khỏi họa diệt chủng. Ra khỏi chiến tranh, việc củng cố quốc phòng, tăng cường sức mạnh Việt Nam theo Di chúc của Người càng trở nên cấp thiết. Đây cũng là trách nhiệm lớn, nhiệm vụ nặng nề của Đảng, quân và dân Việt Nam trong hoàn cảnh đất nước chồng chất khó khăn: vừa phải khắc phục hậu quả chiến tranh, vừa xây dựng đất nước đi lên CNXH trong khi đế quốc Mỹ thắt chặt bao vây, cấm vận kéo dài cùng nhiều hoạt động phá hoại của các thế lực thù địch, các tổ chức phản động trong và ngoài nước.
Tiếp tục thực hiện Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, từ Đại hội VI (1986) của Đảng, cùng với những tìm tòi đổi mới mang tính đột phá trong đường lối phát triển kinh tế-xã hội, Đảng chủ trương củng cố quốc phòng với phương châm “toàn dân xây dựng đất nước và bảo vệ Tổ quốc”, “toàn quân bảo vệ Tổ quốc và xây dựng đất nước”2, từng bước xây dựng nền quốc phòng toàn dân gắn với an ninh nhân dân. Trong thời kỳ đổi mới, công tác quân sự, quốc phòng có những điều chỉnh chiến lược lớn, bố trí lại lực lượng trên phạm vi toàn quốc, xây dựng thế trận phòng thủ hợp lý, tăng cường khả năng phòng thủ ở những khu vực trọng điểm; từng bước phát triển công nghiệp quốc phòng, trên cơ sở bảo đảm nhiệm vụ chiến đấu, sẵn sàng chiến đấu, tăng cường xây dựng lực lượng dự bị động viên, dân quân tự vệ ngày càng rộng khắp nhằm đáp ứng kịp thời yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đến Đại hội VIII (1996) của Đảng, quan điểm, chủ trương, mục tiêu, nội dung về nhiệm vụ củng cố quốc phòng đã được xác định, từng bước được bổ sung, phát triển, hoàn thiện, giải quyết đúng đắn hơn mối quan hệ giữa hai nhiệm vụ chiến lược.
Nắm bắt kịp thời biến động của thế giới, khu vực và trong nước, những âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch đối với cách mạng Việt Nam, Đảng chủ trương thực hiện mạnh mẽ nhiệm vụ củng cố quốc phòng theo Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh với một tầm nhìn chiến lược mới. HNTƯ 8 khóa IX (7-2003) của Đảng về “Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới” khẳng định những mục tiêu, nhiệm vụ, các quan điểm cơ bản trong thực hiện nhiệm vụ quân sự, quốc phòng. Đường lối quân sự, quốc phòng bảo vệ Tổ quốc của Đảng trong thời kỳ đổi mới tiếp tục được các Đại hội X, XI, XII của Đảng khẳng định, bổ sung và phát triển. Đại hội X (2006) của Đảng chỉ rõ: khẩn trương chỉ đạo xây dựng và ban hành các chiến lược quốc gia: Chiến lược quốc phòng, Chiến lược an ninh và các chiến lược chuyên ngành khác3… Đại hội XII (2016) của Đảng tiếp tục chỉ rõ mục tiêu trọng yếu của quốc phòng, an ninh là “Phát huy mạnh mẽ sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc”4 và nhấn mạnh: “tranh thủ tối đa sự đồng tình, ủng hộ của cộng đồng quốc tế, kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc”5. Những quan điểm đó đã thể hiện tư duy, nhận thức mới của Đảng về phương thức, mục tiêu, yêu cầu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, thể hiện tầm nhìn chiến lược về quốc phòng trong thời kỳ mới.
 
2. Hiện tại và trong thời gian tới, hòa bình, hợp tác và phát triển vẫn là xu thế chủ đạo trên thế giới. Toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế, cách mạng khoa học công nghệ, kinh tế tri thức tiếp tục được đẩy mạnh, chi phối mạnh mẽ sự phát triển của mối quốc gia. Châu Á-Thái Bình Dương, trong đó khu vực Đông Nam Á, đã trở thành một “cộng đồng”, tiếp tục là trung tâm phát triển năng động, có vị trí địa-kinh tế-chính trị chiến lược ngày càng quan trọng. Bên cạnh những thời cơ, thuận lợi, còn tiềm ẩn nhiều nhân tố bất ổn, khó lường. Tranh chấp chủ quyền, lãnh thổ, xung đột sắc tộc, tôn giáo, ly khai, khủng bố, tiến công an ninh mạng… có chiều hướng gia tăng. Một số nước lớn luôn cạnh tranh chiến lược và sẽ thực thi nhiều biện pháp cứng rắn hơn trong quan hệ quốc tế cả về chính trị, quân sự, kinh tế, sẵn sàng vì lợi ích quốc gia-dân tộc của họ. Đặc biệt, vấn đề tranh chấp chủ quyền biển, đảo trong khu vực và trên Biển Đông còn diễn ra gay gắt, tiềm ẩn nguy cơ xảy ra xung đột, đe dọa đến sự ổn định, phát triển, an ninh khu vực và thế giới6. Điều đó đặt ra cho mỗi quốc gia, trong đó, Việt Nam ở vị trí chiến lược đặc biệt, phải hết sức chú trọng củng cố quốc phòng, xây dựng an ninh quốc phòng vững mạnh, hiện đại, gắn liền với phát huy thế và lực, sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc, sự hợp tác cùng phát triển với các nước trong khu vực và thế giới trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền mỗi quốc gia, thực hiện đúng công ước quốc tế và các quy tắc ứng xử trên Biển Đông. Bên cạnh những tác động đa chiều từ tình hình thế giới, Việt Nam cũng gặp nhiều khó khăn, thách thức về phát triển kinh tế-xã hội, củng cố quốc phòng, an ninh trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Các thế lực thù địch, phản động tăng cường các hoạt động chống phá cách mạng về mọi mặt, thực hiện âm mưu “diễn biến hòa bình”, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, đòi “phi chính trị hóa” quân đội… tạo cớ can thiệp, để gây bạo loạn, lật đổ.
Trước tình hình trên, trong xây dựng và thực hiện chiến lược quốc phòng, phải quán triệt sâu sắc và vận dụng sát hợp thực tiễn những quan điểm trong Di chúc của Hồ Chí Minh: “phải có kế hoạch sẵn sàng, rõ ràng, chu đáo, để tránh khỏi bị động, thiếu sót và sai lầm”7. Để thực hiện thắng lợi sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, thường xuyên “Củng cố quốc phòng” theo Di chúc của Người, trong giai đoạn hiện nay, trước hết cần tập trung thực hiện tốt một số các yêu cầu, nhiệm vụ sau:
Một là, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với nhiệm vụ củng cố quốc phòng. Đây là quan điểm nhất quán, xác định nguyên tắc lãnh đạo của Đảng đối với sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc, Đảng phải lãnh đạo quân đội tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt. Đây cũng là nhân tố bên trong quyết định sự thành công của cách mạng Việt Nam. Để giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc, củng cố quốc phòng, nhất thiết phải quan tâm xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh. NQTƯ 8 khóa XI (2013) của Đảng khi xác định mục tiêu bảo vệ Tổ quốc, trong đó, mục tiêu đầu tiên là tạo được chuyển biến rõ rệt trong công tác xây dựng Đảng, xây dựng Nhà nước; ngăn chặn, từng bước đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Cùng với đó, phải tiếp tục hoàn thiện cơ chế lãnh đạo của Đảng đối với sự nghiệp quốc phòng an ninh và lực lượng vũ trang nhân dân ở các cấp, các ngành. Bảo đảm vai trò lãnh đạo thống nhất của Ðảng đối với sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới là vấn đề có tính nguyên tắc. Tuy nhiên, mỗi giai đoạn phải xác định đúng yêu cầu, nội dung và phương thức lãnh đạo; đổi mới đồng bộ, toàn diện, gắn với củng cố hệ thống chính trị, phát huy dân chủ ở cơ sở; đồng thời phải cụ thể hóa, thể chế hóa thành luật, điều lệ, như: Luật Quốc phòng, Sách trắng về quốc phòng Việt Nam…
Hai là, thường xuyên nắm chắc tình hình, nâng cao chất lượng nghiên cứu dự báo chiến lược, “để tránh khỏi bị động, thiếu sót và sai lầm”, xây dựng và phát triển đường lối quân sự, quốc phòng đúng đắn trong tình hình mới. Đây là nội dung quan trọng, khi Đảng, Nhà nước mở rộng quan hệ đối ngoại cả song phương lẫn đa phương. Trước diễn biến phức tạp, khó lường của tình hình thế giới và khu vực, đối tượng và đối tác đan xen như hiện nay, tiếp tục quán triệt, thực hiện nghiêm túc Nghị quyết số 347-NQ/QUTW, ngày 23-5-2015, của Quân ủy Trung ương “Về nâng cao chất lượng tham mưu và dự báo chiến lược quốc phòng đến năm 2020 và những năm tiếp theo”; nắm vững nội dung cơ bản của các chiến lược về quốc phòng-an ninh, đánh giá đúng tình hình, phân tích khách quan, khoa học, toàn diện, có trọng điểm; đề xuất chủ trương, giải pháp có tính hệ thống, khả thi, xử lý kịp thời các tình huống; đặc biệt là đối tượng, đối tác của cách mạng Việt Nam, dự báo xu hướng phát triển. Chủ động phối hợp chặt chẽ giữa các bộ, ban, ngành, các lực lượng có liên quan để có dự báo, tham mưu kịp thời, giải quyết tốt các mối quan hệ quốc tế nhằm bảo vệ lợi ích quốc gia-dân tộc, giữ vững độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc. Trên cơ sở đó, có kế hoạch, phương án ngăn ngừa các nguy cơ chiến tranh, xung đột từ sớm, từ xa; chủ động phát hiện và triệt tiêu các nhân tố bất lợi, nhất là các nhân tố bất lợi bên trong có thể gây ra đột biến8, bảo đảm chủ động trong mọi tình huống, sẵn sàng chuẩn bị các điều kiện để bảo vệ Tổ quốc ngay trong thời bình, khi đất nước chưa nguy, “để tránh khỏi bị động, thiếu sót và sai lầm”, như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhắc nhở trong Di chúc.
Ba là, không ngừng xây dựng và phát huy sức mạnh của Quân đội nhân dân, của cả hệ thống chính trị, của toàn dân tộc, đồng thời tranh thủ tối đa sự đồng tình, ủng hộ quốc tế nhằm tăng cường sức mạnh bảo vệ Tổ quốc. Sức mạnh bảo vệ Tổ quốc là sức mạnh tổng hợp của dân tộc Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý, điều hành của Nhà nước. Lịch sử dân tộc Việt Nam đã chứng minh, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc là nền tảng vững chắc để xây dựng nền quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân, là sức mạnh nguồn cội để từ đó phát huy cao độ ý chí tự lực, tự cường, mọi tiềm năng sáng tạo của nhân dân tạo thành một khối vững chắc, với niềm tin, sự quyết tâm không gì lay chuyển nổi để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Tập trung nâng cao sức mạnh chiến đấu, xây dựng Quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, ưu tiên hiện đại một số lực lượng. Để tăng cường sức mạnh bảo vệ Tổ quốc, củng cố quốc phòng, quân đội phải tập trung rà soát, sắp xếp lại tổ chức, biên chế theo hướng “tinh, gọn, mạnh”, có cơ cấu hợp lý theo Kết luận số 16-KL/TW, ngày 7-7-2017, của Bộ Chính trị về “Tổ chức Quân đội nhân dân Việt Nam đến năm 2021”; cùng với đó là bảo đảm vũ khí trang bị đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ.
Do đó, củng cố quốc phòng theo Di chúc của Hồ Chí Minh giai đoạn hiện nay là phát huy cao độ yếu tố nội lực, phải kết hợp với yếu tố ngoại lực, tranh thủ tối đa sự đồng tình, ủng hộ của cộng đồng quốc tế. Đây là một chủ trương, chiến lược, sách lược đúng đắn nhằm củng cố nền quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân bảo vệ Tổ quốc; kết hợp được sức mạnh bên trong với sức mạnh bên ngoài tạo tiền đề thuận lợi cho việc giữ gìn môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước.
Bốn là, xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh, đáp ứng yêu cầu sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc. Đây là trách nhiệm của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân, của cả hệ thống chính trị, trong đó Quân đội nhân dân làm nòng cốt. Xây dựng nền quốc phòng toàn dân, toàn diện, độc lập, tự chủ, từng bước hiện đại vừa đáp ứng yêu cầu đấu tranh trong thời bình, tạo sức mạnh ngăn ngừa, đẩy lùi nguy cơ chiến tranh, xung đột; vừa đáp ứng yêu cầu sẵn sàng đánh thắng chiến tranh xâm lược ở mọi quy mô, có sử dụng vũ khí công nghệ cao, nhằm bảo vệ vững chắc Tổ quốc trong điều kiện mới; coi trọng xây dựng lực lượng, xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân vững chắc.
Xây dựng nền quốc phòng toàn dân tạo nên sức mạnh tổng hợp không chỉ đơn thuần và chủ yếu là sức mạnh quân sự, mà phải vững mạnh cả về tiềm lực, lực lượng và thế trận, với nhiều giải pháp đồng bộ, phù hợp với thực tiễn, đặc điểm, thế mạnh của từng vùng. Quy hoạch quốc gia, từng địa phương chú trọng theo hướng kết hợp giữa quốc phòng an ninh với phát triển kinh tế, hình thành các khu vực chiến lược vững mạnh về chính trị, giàu về kinh tế, mạnh về quốc phòng an ninh. Gắn xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân với thế trận an ninh nhân dân; kết hợp thế trận tại chỗ với cơ động, rộng khắp với trọng điểm, tập trung cho hướng, khu vực, mục tiêu chủ yếu, địa bàn chiến lược. Đặc biệt, thực hiện củng cố quốc phòng, xây dựng Quân đội nhân dân theo Di chúc Hồ Chí Minh là xây dựng “thế trận lòng dân” vững chắc làm nền tảng phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc.
Hiện tại và trong thời gian tới, tập trung thực hiện có hiệu quả Nghị định số 152/2007/NĐ-CP, ngày 10-10-2007, của Chính phủ về “Khu vực phòng thủ”; Nghị quyết số 28-NQ/TW, ngày 22-9-2008, của Bộ Chính trị “Về tiếp tục xây dựng các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thành khu vực phòng thủ vững chắc trong tình hình mới”; Nghị định số 02/2016/NĐ-CP, ngày 5-1-2016, của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 152 về xây dựng khu vực phòng thủ. Trong đó, xây dựng nền quốc phòng toàn dân theo hướng hiện đại là một nội dung rất quan trọng, vừa thể hiện yêu cầu của nền quốc phòng, thể hiện lộ trình hiện đại hóa nền quốc phòng toàn dân vừa phù hợp kinh tế đất nước và yêu cầu mới của sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc.
Năm là, đẩy mạnh đối ngoại quốc phòng, tạo thế và lực để bảo vệ vững chắc Tổ quốc. Đối ngoại quốc phòng có vai trò rất quan trọng đối với sự nghiệp củng cố quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc. Vì vậy, quân đội phải luôn quán triệt sâu sắc và tổ chức thực hiện nghiêm túc, đúng đắn vận dụng sáng tạo đường lối đối ngoại của Đảng, coi hội nhập quốc tế và đối ngoại quốc phòng là định hướng chiến lược và kế sách để bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa.
Tiếp tục thực hiện có hiệu quả Nghị quyết số 22-NQ/TW, ngày 10-4-2013, của Bộ Chính trị về “Hội nhập quốc tế”; Nghị quyết số 806-NQ/QUTW, ngày 31-12-2013, của Quân ủy Trung ương về “Hội nhập quốc tế và đối ngoại về quốc phòng đến năm 2020 và những năm tiếp theo”. Trên cơ sở đó, đẩy mạnh hội nhập quốc tế và đưa công tác đối ngoại quốc phòng đi vào chiều sâu, giải quyết các vấn đề trên cơ sở luật pháp quốc tế. Tăng cường hợp tác với các nước trên mọi lĩnh vực, bình diện; ưu tiên quan hệ hợp tác, hữu nghị, truyền thống với các nước láng giềng, coi trọng hợp tác với các nước trong khu vực Đông Nam Á (ASEAN), củng cố phát triển mối quan hệ với các đối tác lớn, quan trọng. Mục tiêu nhất quán và xuyên suốt của hội nhập quốc tế và đối ngoại về quốc phòng là duy trì môi trường hòa bình, ổn định để xây dựng và phát triển đất nước. Quân đội nhân dân Việt Nam phát huy vai trò của một thành viên tích cực, có trách nhiệm, chủ động tham gia các cơ chế hợp tác quốc phòng đa phương, song phương ở khu vực và toàn cầu; nhất là cơ chế về hoạt động giữ gìn hòa bình của Liên hợp quốc, các cuộc diễn tập đa phương trong tìm kiếm cứu nạn, cứu trợ nhân đạo, thảm họa thiên tai; tuần tra chung, thiết lập đường dây nóng, giao lưu giữa các lực lượng…; triển khai sâu rộng các hoạt động hội nhập quốc tế và đối ngoại quốc phòng, đẩy mạnh công tác tuyên truyền nhằm đưa hình ảnh đất nước, con người Việt Nam anh hùng, yêu chuộng hòa bình đến với bạn bè quốc tế; xây dựng lòng tin chiến lược, chia sẻ thông tin, góp phần tạo sự hiểu biết lẫn nhau, nâng cao vị thế, uy tín của quân đội và đất nước Việt Nam trên trường quốc tế.
Những lời căn dặn về “Củng cố quốc phòng” trong Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn định hướng cho toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta thực hiện đường lối quân sự, xây dựng chiến lược quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc. Trong quá trình đó, Đảng không ngừng phát triển tư duy lý luận, tổng kết thực tiễn, kiên định mục tiêu cách mạng và những vấn đề có tính nguyên tắc về củng cố quốc phòng, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.      
 
 
 
__________________
1, 7. Hồ Chí Minh Toàn tập, Nxb CTQG, H, 2011, T. 15, tr. 617, 616
2. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội Đảng thời kỳ đổi mới (Đại hội VI, VII, VIII, IX), Nxb CTQG, H, 2005, tr. 38
3. Xem Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb CTQG, H, 2006, tr. 111
4, 5, 6, 8. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Văn phòng Trung ương Đảng, H, 2016, tr. 147, 147, 73, 149.
 
ThS CHU VĂN LỘC
Viện Chiến lược Quốc phòng
ThS PHÙNG THỊ HOAN
Viện Lịch sử quân sự Việt Nam