Tóm tắt: Năm 1968, quân và dân miền Nam tiến hành cuộc Tổng tiến công và nổi dậy “long trời lở đất”. Gắn liền với Tổng tiến công và nổi dậy, một vấn đề có tầm quan trọng hàng đầu là đánh đổ chính quyền địch, xây dựng chính quyền cách mạng. Bởi vậy, chưa bao giờ, sự lãnh đạo, chỉ đạo của Trung ương Cục miền Nam đối với công tác này lại biểu hiện tập trung như trong năm 1968, thể hiện qua các nghị quyết, chỉ thị, thư, điện chỉ đạo Tổng tiến công và nổi dậy và công tác xây dựng chính quyền cách mạng tại miền Nam.

Từ khóa: Trung ương Cục miền Nam; xây dựng chính quyền; Tổng tiến công và nổi dậy; 1968


Các chiến sĩ giải phóng quân Trị Thiên, Huế nghiên cứu sa bàn
chuẩn bị đánh tiểu đoàn 7 thiết giáp Nguỵ ở Tam Thai, Huế ngày 31-1-1968. Ảnh: tư liệu TTXVN


1. Trong những năm 1958-1959, ở một số vùng căn cứ địa đã hình thành các “làng rừng”, một hình thức chính cách mạng quyền tự quản. Tiếp đó, phong trào đồng khởi nổ ra, nhân dân xã, ấp miền Nam đứng lên diệt ác, phá kìm, giành quyền làm chủ. Ngày 20-12-1960, Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam ra đời, trở thành trung tâm quy tụ, đoàn kết các lực lượng cách mạng và yêu nước. Hệ thống tổ chức của Mặt trận từ trên xuống dưới được thành lập ở nhiều nơi. Trải qua thời kỳ chống chiến lược “chiến tranh đặc biệt”, cùng với việc xây dựng và phát triển các căn cứ địa, vùng giải phóng miền Nam, chính quyền cách mạng với hình thức Ủy ban nhân dân tự quản đã phát triển rộng rãi. Đến đầu năm 1968, chính quyền xã chính thức được thành lập tại một số địa phương. Tuy nhiên, ở phần lớn xã, ấp giải phóng, ta chưa lập chính quyền cách mạng hoặc có lập được nhưng không chặt chẽ và hoạt động thiếu hiệu quả.
Chuẩn bị cho cuộc Tổng tiến công và nổi dậy năm 1968, Trung ương Cục miền Nam yêu cầu các địa phương chú ý công tác xây dựng chính quyền cách mạng. Trung ương Cục miền Nam xem đây là thành quả quan trọng đánh dấu thắng lợi của cuộc tổng công kích, tổng khởi nghĩa, đồng thời coi tổng công kích, tổng khởi nghĩa là điều kiện thuận lợi nhất cho sự thành lập chính quyền cách mạng các cấp. Khẩu hiệu được tuyên truyền sâu rộng trong quân và dân toàn Miền là “Tất cả cho tiền tuyến, tất cả để chiến thắng, giành toàn bộ chính quyền về tay nhân dân”1. Trong 10 nhiệm vụ cụ thể hướng dẫn các địa phương xây dựng kế hoạch tổng công kích, tổng khởi nghĩa, Trung ương Cục miền Nam nêu rõ: các cấp cần phải quán triệt nhiệm vụ đánh đổ chính quyền địch, xây dựng chính quyền cách mạng, động viên đông đảo các tầng lớp nhân dân tham gia xây dựng và bảo vệ chính quyền cách mạng2.
Ngày 15-1-1968, Thường vụ Trung ương Cục miền Nam ra Chỉ thị số 12/CTNT “Tích cực khẩn trương củng cố xây dựng và phát triển chánh quyền cách mạng, phát huy quyền làm chủ của nhân dân ở xã, ấp” gửi các cấp ủy Đảng nêu rõ: “Xây dựng c/q (chính quyền – TG) xã ấp ở những vùng được giải phóng (kể cả vùng nông thôn và một số khu phố, thị trấn) là vấn đề cấp thiết trước mắt cần phải ra sức tích cực khẩn trương thực hiện”3. Cụ thể là tiến hành “bầu cử hội đồng nhân dân giải phóng và ủy ban nhân dân giải phóng ở xã”. Ở ấp, Trung ương Cục miền Nam chủ trương thành lập “ban giải phóng ấp”4.
Đây là lần đầu tiên Trung ương Cục miền Nam ban hành một chỉ thị khá toàn diện về nhiệm vụ xây dựng chính quyền cách mạng, kịp thời góp phần chỉ đạo cuộc Tổng tiến công và nổi dậy năm 1968. Trong quá trình đó, Trung ương Cục miền Nam đã cứ vào tình hình thực tiễn lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ trên một cách sâu sát và cụ thể hơn. Đó là: Điện của Thường vụ Trung ương Cục miền Nam gửi các cấp ủy Đảng ngày 29-02-1968 “Về xây dựng chính quyền cách mạng ở các địa phương”; Chỉ thị số 13/CTNT của Thường vụ Trung ương Cục miền Nam ngày 25-5-1968 “Ra sức xây dựng chính quyền cách mạng các cấp theo kịp sự phát triển của tình hình”; Chỉ thị số 37/CTNT ngày 6-11-1968 của Thường vụ Trung ương Cục miền Nam “Tiếp tục đẩy mạnh xây dựng chính quyền cách mạng các cấp”. Những nội dung lãnh đạo, chỉ đạo công tác xây dựng chính quyền cách mạng của Trung ương Cục miền Nam trong những chỉ thị, điện văn trên thể hiện tập trung ở một số điểm sau:
           
2. Những nội dung những chỉ thị lãnh đạo, chỉ đạo công tác xây dựng chính quyền cách mạng, vai trò lãnh đạo, chỉ đạo của Trung ương Cục miền Nam đối với công tác xây dựng chính quyền cách mạng thể hiện tập trung ở một số điểm sau:
Một là, Trung ương Cục quán triệt tầm quan trọng của vấn đề chính quyền cách mạng cho quân và dân miền Nam
Đến năm 1968, qua 14 năm đấu tranh, ở miền Nam ta chưa xây dựng được hệ thống chính quyền cách mạng chính thức nên Trung ương Cục miền Nam coi vấn đề xây dựng chính quyền cách mạng là một yêu cầu tất yếu, khách quan, xuất phát từ thực tế cuộc kháng chiến. Đây là nội dung cơ bản trong cuộc đấu tranh giữa ta và địch. Một bên là đế quốc Mỹ và chính quyền Sài Gòn đang cố gắng duy trì, củng cố hệ thống chính quyền thực dân mới từ trung ương xuống cơ sở phục vụ cuộc chiến tranh xâm lược, bên kia là nhân dân miền Nam với mục tiêu đánh bại ý chí xâm lược của đế quốc Mỹ, đánh đổ chính quyền tay sai Mỹ, giành chính quyền về tay nhân dân.
Hệ thống chính quyền cách mạng có nhiệm vụ tổ chức, lãnh đạo nhân dân miền Nam hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, thực hiện hòa bình, thống nhất đất nước, tiến lên chủ nghĩa xã hội. Với cuộc Tổng tiến công và nổi dậy, ta vừa phải thực hiện và vừa có điều kiện thực hiện nhiệm vụ đó. Trong tình huống cuộc Tổng tiến công và nổi dậy không giành được thắng lợi với mục tiêu cao nhất, cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước kéo dài và mở rộng, công tác xây dựng chính quyền cách mạng vẫn là một nội dung quan trọng đối với nhiệm vụ xây dựng và củng cố căn cứ địa, vùng giải phóng và xây dựng hậu phương tại chỗ.
Xây dựng chính quyền cách mạng là sự thể hiện rõ nét nhất thành quả cách mạng đạt được, chỉ rõ mối quan hệ biện chứng giữa “tiến công địch” và “xây dựng ta”. Việc xây dựng chính quyền cách mạng giải quyết một mặt trong nội dung “xây dựng ta”, đồng thời là mặt cơ bản nhất trong “xây dựng ta”, thúc đẩy xây dựng trên các mặt khác. Trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy, các đòn công kích quân sự cùng với khởi nghĩa của nhân dân là điều kiện thuận lợi nhất để thành lập chính quyền cách mạng. Chính quyền đó sẽ tổ chức nhân dân bảo vệ và phát huy hơn nữa thắng lợi đã giành được. Nhận thức trên của Trung ương Cục miền Nam phù hợp với quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin là vấn đề chính quyền là vấn đề quan trọng nhất, cơ bản nhất của mọi cuộc cách mạng. Chính vì vậy, Trung ương Cục đã nhấn mạnh “Vấn đề chính quyền cách mạng ở thành phố, thị xã và thị trấn cũng như chính quyền xã ở nông thôn mới giải phóng đặt ra rất cấp bách”5.
Hai là, Trung ương Cục nêu rõ tính chất, nhiệm vụ, phương hướng và yêu cầu xây dựng chính quyền cách mạng.
Đối lập với chính quyền miền Nam tay sai của Mỹ, chính quyền cách mạng có tính chất dân chủ nhân dân, đem lại quyền dân sinh, dân chủ và các quyền lợi khác cho nhân dân miền Nam. Chính quyền cách mạng có tính chất liên hiệp rộng rãi, càng lên cấp cao càng thể hiện sự liên hiệp rộng rãi các giai cấp, tầng lớp, tôn giáo, dân tộc, giới… nhưng phải bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng. Trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy, phương hướng và yêu cầu của việc xây dựng chính quyền cách mạng là đánh đổ địch tới đâu, lập chính quyền cách mạng tới đó, nhanh chóng củng cố chính quyền, lập chính quyền trước hết ở xã, ấp khu phố, thị trấn, tiến lên lập chính quyền ở cấp cao hơn khi có điều kiện. Nhiệm vụ cụ thể trước mắt của chính quyền cách mạng là đoàn kết, động viên quần chúng đấu tranh chống Mỹ và tay sai, trước hết là chiến đấu, phục vụ chiến đấu, xây dựng và phát triển lực lượng vũ trang, xây dựng các đoàn thể quần chúng, thực hiện tốt các chủ trương, chính sách của Đảng về tôn giáo, dân tộc, chính sách khoan hồng với ngụy quân, ngụy quyền, lãnh đạo phong trào thi đua yêu nước, chăm lo đời sống nhân dân về mọi mặt, xây dựng cuộc sống mới…
Thực tế trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy cho thấy địa phương nào quan tâm đến công tác xây dựng chính quyền cách mạng, phát huy được hiệu quả của chính quyền thì ở đó động viên được sức mạnh to lớn của quần chúng nhân dân trong chiến đấu, phục vụ chiến đấu, bảo vệ xã ấp. Nơi nào mà chính quyền chưa được các cấp ủy Đảng chú ý thì gặp khó khăn khi địch phản kích, bình định lấn chiếm, mất đất, mất dân nhanh chóng. Trong những quyền lợi mà chính quyền cách mạng mang lại cho nhân dân thì quyền lợi ruộng đất có ý nghĩa quan trọng nhất. Đến thời điểm này, hầu hết ruộng đất đã được chính quyền cách mạng chia cho nông dân. Điều đó động viên được sức mạnh kháng chiến và đóng góp cho kháng chiến của hàng triệu nông dân miền Nam.
Ba là, Trung ương Cục hướng dẫn một số nguyên tắc tổ chức và hoạt động của chính quyền cách mạng.
Trong hoàn cảnh cuộc chiến đấu đang diễn ra ác liệt, việc xây dựng chính quyền cách mạng phải tuân thủ một số nguyên tắc nhất định.
Trước hết, phải bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng bộ các cấp đối với chính quyền cấp mình. Chính quyền cách mạng phải thật gọn, nhẹ, phù hợp với cuộc chiến đấu và lấy nhiệm vụ tổ chức nhân dân kháng chiến làm chính. Trong hoạt động, phải thể hiện rõ nội dung dân chủ nhân dân, là chính quyền của dân, do dân, vì dân, chuyên chính với kẻ thù. Những người được bầu hoặc chỉ định vào chính quyền cách mạng phải bảo đảm ba tiêu chuẩn: Chiến đấu giỏi, được quần chúng tín nhiệm và hết lòng phục vụ nhân dân. Thành phần của chính quyền cách mạng bao gồm đầy đủ các giai cấp, tầng lớp, dân tộc, tôn giáo… những nguyên tắc trên bảo đảm đoàn kết và phát huy được sức mạnh quần chúng, tất cả tập trung cho nhiệm vụ kháng chiến.
Cách thức thành lập chính quyền cách mạng tùy theo tình hình cụ thể ở từng vùng, từng nơi. Ở các xã, ấp giải phóng, Trung ương Cục miền Nam chủ trương bầu cử tự do trực tiếp theo đơn vị xã, ấp. Xã có 3.000 dân trở xuống bầu 15 đại     biểu. Xã có từ 3.000 đến 5.000 dân bầu 20-25 đại biểu. Xã có từ 5.000 dân trở lên bầu 30-35 đại biểu6. Đối với vùng địch, nhất là đô thị, ta phải chuẩn bị kế hoạch để công bố ngay chính quyền cách mạng lâm thời khi giải phóng. Tại các xã, ấp chưa có điều kiện bầu cử, chính quyền cách mạng xã, ấp được thành lập theo hình thức chỉ định. Ở cấp quận, tỉnh, tổ chức đại hội quân dân hoặc đại hội Mặt trận mở rộng để bầu chính quyền. Cấp khu và phân khu thành lập Ban Chỉ đạo chính quyền. Ở vùng yếu, đô thị, ta phải chuẩn bị kế hoạch để khi giải phóng, công bố ngay chính quyền cách mạng lâm thời.
Trung ương Cục quy định cách thức làm việc của chính quyền cách mạng các cấp là tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách, hoạt động có kế hoạch cụ thể, cấp dưới tuân thủ cấp trên. Đồng thời với việc xây dựng cơ cấu chính quyền cách mạng, Trung ương Cục miền Nam cũng chỉ rõ mối quan hệ giữa chính quyền với các đoàn thể quần chúng và các tổ chức khác của cách mạng.
Thực hiện chủ trương trên, đến cuối năm 1968, cuộc vận động xây dựng chính quyền cách mạng đã phát triển nhanh. Chính quyền cách mạng từ hình thức Ủy ban tự quản xã đã nhanh chóng chuyển thành Hội đồng nhân dân giải phóng xã, Ủy ban nhân dân giải phóng xã (sau đổi thành Hội đồng nhân dân cách mạng và Ủy ban nhân dân cách mạng) do nhân dân bầu cử trên diện rộng. Nhiều quận và tỉnh đã thành lập được chính quyền cách mạng, nhiều xã, ấp có từ 90 đến 100 % cử tri tham gia bầu cử, tạo nên khí thế cách mạng rất cao, gây ảnh hưởng chính trị rất lớn. Tuyệt đại đa số những người được bầu vào chính quyền đủ tiêu chuẩn. Số lượng đảng viên trong chính quyền vừa bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng, vừa là điều kiện xây dựng chi bộ, rèn luyện đảng viên.
Theo thống kê, đến cuối năm 1968, toàn miền Nam có 516 /1.800 xã đã xây dựng được chính quyền cách mạng, trong đó Nam Bộ và Khu 6 có 300 xã/1.200 xã; Khu 5 có 225/600 xã. Về xây dựng chính quyền huyện, toàn miền Nam có  21/170  huyện đã xây dựng được chính quyền cách mạng, trong đó Nam Bộ và Khu 6 có 7/121 huyện, Khu 5 có 14/50 huyện. Về xây dựng chính quyền cấp tỉnh, toàn miền có 3/44 tỉnh thành lập được chính quyền cách mạng là Cà Mau, Mỹ Tho, Gia Lai7. Đến giữa năm 1969, mặc dù gặp nhiều khó khăn, trên toàn miền Nam, chính quyền cách mạng đã thành lập ở 1.269 xã, 124 huyện, 20 khu, tỉnh và 3 thành phố8. Chính quyền cách mạng đã tích cực chăm lo phát triển văn hóa, giáo dục, y tế, cấp ruộng đất cho nông dân…
Trong quá trình lãnh đạo, chỉ đạo cách mạng  miền Nam năm 1968, việc Trung ương Cục miền Nam chủ trương gắn chặt tiến công và nổi dậy với công tác xây dựng chính quyền cách mạng là đúng đắn, sự chỉ đạo khá cụ thể và sát sao. Nhưng kết quả đạt được không như ý muốn. Chính Trung ương Cục miền Nam cũng nhận rõ những hạn chế đó. Kiểm điểm công tác lãnh đạo xây dựng chính quyền cách mạng, Trung ương Cục miền Nam nhận thấy: 2/3 số xã có điều kiện nhưng chưa thành lập được chính quyền cách mạng. Ở cấp quận, tỉnh, phân khu, khu, công tác này cũng chưa được chú ý đúng mức. Việc vi phạm nguyên tắc tổ chức, cách thức làm việc còn phổ biến và chưa phát huy được hiệu quả của chính quyền cách mạng. Chính quyền cách mạng chủ yếu mới được xây dựng và củng cố ở vùng giải phóng cũ, vùng căn cứ địa - vùng sâu, vùng xa, ít dân.
Nguyên nhân khách quan của kết quả đó là do cuộc chiến đấu diễn ra vô cùng ác liệt, diễn biến tình hình thực tế không đúng như dự định. Các đòn công kích chưa đủ mạnh, tổng khởi nghĩa đã không diễn ra trên diện rộng như kế hoạch. Càng về sau Tổng tiến công và nổi dậy thực chất chỉ còn là những đòn tiến công quân sự, mũi nổi dậy và đấu tranh chính trị rất yếu. Trong khi đó, địch ra sức phản kích, tái chiếm các vùng ta mới giải phóng và lấn chiếm các vùng giải phóng cũ. Quần chúng nhân dân nổi dậy đấu tranh chính trị, kéo vào các đô thị đều bị đàn áp dã man. Trong lúc đó, các vấn đề cụ thể về xây dựng và hoạt động điều hành chính quyền của ta còn chưa quen, cán bộ chuyển sang làm công tác chính quyền còn nhiều lúng túng. Đồng thời, Trung ương Cục miền Nam cũng đã nhận thức rõ, về chủ quan các cấp ủy Đảng chưa thực sự coi trọng vấn đề chính quyền là vấn đề cơ bản của cách mạng, chưa thấy rõ ý nghĩa, vai trò, chức năng, nhiệm vụ của chính quyền cách mạng nên kết quả còn hạn chế.
Tuy nhiên, gắn với Tổng tiến công và  nổi dậy, những kết quả đạt được về  xây dựng chính quyền cách mạng ở các địa phương là thắng lợi có ý nghĩa chính trị rất to lớn của ta, góp phần đánh bại ý chí xâm lược của đế quốc Mỹ, đập tan âm mưu củng cố ngụy quyền tay sai và đó là cơ sở tiến lên thành lập Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam vào tháng 6-1969. 
 



Ngày nhận bài 16-2-2024; Ngày thẩm định, đánh giá 25-2-2024; Ngày duyệt đăng 20-3-2024
1, 2.Văn phòng Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Trung ương Cục miền Nam giai đoạn 1946-1975, Nxb CTQGST, H, 2020, T.11, tr. 1014, 1019-1021.
3, 4, 5, 6. Xem: Văn phòng Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Trung ương Cục miền Nam giai đoạn 1946-1975, Nxb CTQGST, H, 2020, T. 12, tr. 31, 32, 81, 33.
7. Theo Chung một bóng cờ, Nxb. CTGQ, H, 1993, trang 412
8. Theo báo Nhân Dân, ngày 13-6-1969