Tóm tắt: Đến giữa năm 1971, thế và lực của cách mạng miền Nam đã được phục hồi và lớn mạnh không ngừng. Trước tình hình đó, Trung ương Đảng chủ trương mở cuộc tiến công chiến lược giành thắng lợi quyết định trong năm 1972 trên nhiều địa bàn ở miền Nam, trong đó Đông Nam Bộ (trong kháng chiến chống Mỹ, các tỉnh thuộc địa bàn Đông Nam Bộ có một số thay đổi, đến tháng 8-1972, Đông Nam Bộ gồm: Đặc khu Sài Gòn-Chợ Lớn-Gia Định và các tỉnh Biên Hòa, Bà Rịa, Long Khánh, Phước Long-Bình Long, Tây Ninh, Bình Dương, Long An) được lựa chọn là một trong những trọng điểm quan trọng. Thực hiện chủ trương của Trung ương Đảng, Trung ương Cục miền Nam đã tập trung lãnh đạo mở chiến dịch quân sự trên toàn địa bàn, giành được nhiều thắng lợi, góp phần vào thắng lợi chung của toàn dân tộc.

Từ khóa: Trung ương Cục; tiến công chiến lược; Đông Nam Bộ; năm 1972.


Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam khắc phục địa hình,
đưa xe tăng tham gia Chiến dịch Nguyễn Huệ năm 1972. Ảnh tư liệu

1. Trước những chuyển biến mau lẹ trên chiến trường miền Nam, nhất là sau  chiến thắng Đường 9-Nam Lào, Xuân 1971, đã tạo nên thế và lực mới cho cách mạng miền Nam.  Tháng 5-1971, Bộ Chính trị họp bàn chủ trương mở cuộc tiến công chiến lược năm 1972. Bộ Chính trị đặt ra yêu cầu phải nắm vững thời cơ, đẩy mạnh tiến công địch trên tất cả các lĩnh vực: chính trị, quân sự, ngoại giao, tiến tới giành thắng lợi quyết định trong năm 1972, buộc Mỹ phải chấm dứt chiến tranh bằng thương lượng trên thế thua, đồng thời sẵn sàng chuẩn bị, kiên trì và đẩy mạnh kháng chiến trong trường hợp chiến tranh kéo dài.
Để xây dựng phương án cuộc tổng tiến công chiến lược năm 1972 theo chủ trương của Bộ Chính trị, Hội nghị quân ủy Trung ương (tháng 6-1971) nhấn mạnh phải tích cực, khẩn trương chuẩn bị lực lượng, kịp thời nắm bắt thời cơ, đẩy mạnh tiến công địch cả về quân sự và chính trị, tiến tới giành lấy thắng lợi cao nhất, tạo ra bước chuyển căn bản để thay đổi cục diện chiến tranh. Hội nghị xác định 3 hướng tiến công chiến lược là miền Đông Nam Bộ, Trị -Thiên và Tây Nguyên, trong đó, Đông Nam Bộ là hướng tiến công chủ yếu số 1, Tây Nguyên là hướng chủ yếu số 2, Trị-Thiên là hướng phối hợp quan trọng1.
Ngày 29-6-1971, đồng chí Lê Duẩn Bí thư thứ nhất Ban Chấp hành Trung  ương Đảng điện gửi đồng chí Phạm Hùng và Trung ương Cục miền Nam nêu rõ: “đẩy mạnh hoạt động quân sự, mở nhiều chiến dịch lớn trong mùa Đông năm 1971 và cả năm 1972 trên toàn chiến trường Đông Dương, hướng tiến công chính là chiến trường miền Nam; đẩy mạnh công tác đánh phá bình định, giành lại phần lớn nhân dân ở những vùng nông thôn quan trọng; đẩy mạnh phong trào đấu tranh chính trị ở các thành thị, nhằm làm thay đổi một bước quan trọng so sánh lực lượng giữa ta và địch hoàn toàn có lợi cho ta, giành lại thế chủ động chiến lược trên toàn chiến trường miền Nam, tạo ra một bước chuyển biến căn bản, tiến lên làm thay đổi hẳn cục diện chiến tranh ở miền Nam và cả Đông Dương”2. Đồng chí Lê Duẩn nhấn mạnh trên chiến trường chính miền Nam, thực hiện “kế hoạch tiến công chiến lược, đẩy mạnh tiến công quân sự đi đôi với đẩy mạnh tiến công chính trị, trên cả ba vùng chiến lược, đánh sập ba trụ cột của chính sách Việt Nam hoá chiến tranh của đế quốc Mỹ, bằng ba quả đấm chiến lược: quả đấm mạnh của quân chủ lực ta đánh những trận tiêu diệt lớn và làm tan rã quân chủ lực ngụy miền Nam, quả đấm mạnh của lực lượng quân sự và chính trị của ta ở đồng bằng, kết hợp tiến công và nổi dậy, nổi dậy và tiến công để đánh bại về cơ bản kế hoạch bình định của địch, giành lại quyền làm chủ phần lớn nông thôn; quả đấm mạnh ở thành thị, chủ yếu là của phong trào đấu tranh chính trị rộng lớn của quần chúng làm lung lay đến tận gốc, tiến lên đánh đổ chính quyền trung ương của ngụy… đập tan ý chí kéo dài xâm lược, mở rộng chiến tranh của đế quốc Mỹ ở Việt Nam và trên toàn Đông Dương”3.
Thực hiện chủ trương của Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương, ngày 1-6-1971, Trung ương Cục ra Chỉ thị số 07/CT 71 “về chuyển hướng công tác tổ chức và xây dựng Đảng bảo đảm sự lãnh đạo toàn diện và sâu sắc đánh bại kế hoạch bình định và chính sách Việt Nam hóa chiến tranh”, khẳng định các mặt công tác xây dựng đảng phải được gắn chặt với nhau để có sự chuyển biến về tư tưởng và tổ chức… tạo thế tạo lực làm thay đổi tương quan giữa ta và địch trong tình hình mới4.
Hội nghị lần thứ 11 của Trung ương Cục (tháng 10-1971) xác định phương hướng và nhiệm vụ mới trong mùa khô 1971-1972 và cả năm 1972 là: “Dựa trên cơ sở kiên trì chiến đấu, đẩy lùi địch từng phần giành thắng lợi từng bước, phải quyết nắm lấy thời cơ lớn nhất để giành thắng lợi lớn nhất”5. Đối với Đông Nam Bộ, phải tiêu diệt một bộ phận quan trọng sinh lực địch, khôi phục, củng cố vững chắc vùng căn cứ kháng chiến. Hội nghị nhấn mạnh lực lượng bộ đội chủ lực phải tập trung đánh những trận đánh lớn làm tan rã quân địch: “Quả đấm mạnh của quân chủ lực phải đánh những trận tiêu diệt lớn và làm tan rã quân chủ lực ngụy miền Nam”6.
Do tình hình chuẩn bị và bố trí lực lượng của ta và địch trên các mặt trận thay đổi, ngày 11-3-1972, Thường vụ Quân uỷ Trung ương đề xuất chủ trương điều chỉnh lại các hướng tiến công chính của bộ đội chủ lực trong cuộc tiến công chiến lược năm 1972. Theo đó, Trị - Thiên từ hướng phối hợp trở thành hướng chiến lược chủ yếu. Đông Nam Bộ và Tây Nguyên từ hướng chủ yếu thứ nhất và thứ hai nay chuyển thành hướng tấn công phối hợp, với quy mô tác chiến vừa và lớn để thành một cuộc tiến công chiến lược trên toàn miền Nam. Kế hoạch này được Bộ Chính trị thông qua ngày 23-3-1972.

2. Thực hiện chủ trương trên, chỉ 1 ngày sau khi Quân uỷ Trung ương đưa ra kế hoạch điều chỉnh lại mục tiêu của các hướng tiến công, ngày 12-3-1972, Thường vụ Trung ương Cục miền Nam ra Chỉ thị số 01/CT “thời cơ đã chín muồi, nắm vững quyết tâm của Trung ương, khẩn trương phát động toàn Đảng, toàn quân, toàn dân xốc tới giành thắng lợi lớn nhất”. Đánh giá về tình hình cách mạng miền Nam, Chỉ thị cho rằng: Có thể nói trên chiến trường miền Nam, chưa bao giờ cả thế và lực của Mỹ - ngụy về quân sự lại có một sự thay đổi lớn bất lợi cho địch, có lợi cho ta như hiện nay”7. Trên cơ sở đó, Thường vụ Trung ương Cục xác định “Ta đang đứng trước một thời cơ lịch sử chín muồi để hạ quyết tâm xốc tới giành thắng lợi lớn nhất”8. Thời cơ hiện nay là một thời cơ lịch sử và đã chín muồi. Đây không phải là thời cơ bình thường mà là thời cơ thất bại của địch và thắng lợi của ta trong giai đoạn cuối cùng của cuộc chiến tranh xâm lược9; “so sánh lực lượng giữa ta và địch đã có bước chuyển biến lớn. Thời cơ thất bại của địch và giành thắng lợi của ta đã rõ. Tình hình đã chín muồi để ta chuyển phong trào lên một bước phát triển nhảy vọt, phát động toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta xốc tới đánh bại về cơ bản chính sách Việt Nam hóa chiến tranh, giành thắng lợi lớn nhất”10.
Đồng thời với hoạt động mạnh của lực lượng vũ trang, phải phát động quần chúng nổi dậy mạnh mẽ, diệt ác trừ gian, hạ đồn, diệt bốt, giải phóng nông thôn, giành chính quyền về tay nhân dân. Chỉ thị nêu rõ: “Không có cuộc nổi dậy long trời chuyển đất của quần chúng thì không thể đánh bại được Việt Nam hoá chiến tranh và bình định, do đó cũng không thể buộc địch chịu thua”11.
Để chuẩn bị cho cuộc tiến công chiến lược năm 1972, công tác xây dựng và chuẩn bị lực lượng được tiến hành theo hướng chủ động, toàn diện. Bên cạnh lực lượng quân chủ lực, Trung ương Cục yêu cầu mỗi địa phương phải phát triển mạnh lực lượng du kích, tiến hành công tác binh vận, địch vận vào hàng ngũ địch. Tại miền Đông Nam Bộ, cùng với lực lượng tại chỗ, Trung ương chi viện thêm 2 trung đoàn bộ binh, 2 tiểu đoàn pháo 85mm, 1 tiểu đoàn pháo 122mm, 2 tiểu đoàn tên lửa bắn máy bay, 2 tiểu đoàn pháo cao xạ 37mm, 36 xe tăng, 1 đại đội tên lửa chống tăng12. Như vậy, khi bước vào cuộc tiến công chiến lược, miền Đông Nam Bộ đã tập trung được một lực lượng lớn bao gồm 3 sư đoàn, 8 trung đoàn và 8 tiểu đoàn, trong đó có nhiều đơn vị thuộc các binh chủng được trang bị phương tiện chiến tranh hiện đại như pháo binh, xe tăng, tên lửa.
Song song với việc xây dựng lực lượng, công tác hậu cần cũng được đẩy mạnh. Trung ương Cục chỉ đạo các địa phương mở các tuyến đường vận tải, xây dựng hệ thống kho tàng. Từ tháng 10-1971 đến tháng 3-1972, hàng vạn tấn vật chất, bao gồm vũ khí, trang bị kỹ thuật, lương thực, thực phẩm và hàng y tế đã được chuẩn bị sẵn sàng. Riêng Đông Nam bộ, gần 1.000 km đường các loại đã được mở, 47.500 tấn hàng hóa được tập kết (gồm lương thực, vũ khí, đạn dược, xăng dầu và phương tiện quân y), trong đó có 15.000 tấn gạo, đủ cho bộ đội dùng đến cuối năm197213.
Khi các công tác chuẩn bị đã hoàn tất và lợi dụng lúc địch chủ quan nhất, vào 11h ngày 30-3-1972, cuộc tiến công chiến lược năm 1972 trên khắp miền Nam bắt đầu, tại hướng chủ yếu Trị - Thiên. Để kịp thời động viên tinh thần của cán bộ, chiến sĩ trên toàn mặt trận, ngày 31-3-1972, Ban Chấp hành Trung ương Đảng gửi thư tới các cấp ủy Đảng, các cấp chỉ huy và toàn thể đảng viên, đoàn viên, cán bộ và chiến sĩ trên các mặt trận. Trong thư, Ban Chấp hành Trung ương khẳng định cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước đang đứng trước thời cơ thuận lợi. Quyết tâm chiến lược của Trung ương lúc này là cùng toàn Đảng, toàn dân, toàn quân tập trung sự cố gắng cao nhất, nắm vững thời cơ thuận lợi, đẩy mạnh tấn công về mọi mặt, giành thắng lợi lớn nhất cho cuộc kháng chiến chống Mỹ. Đây là một loạt chiến dịch tấn công quy mô lớn, tổng hợp cả về quân sự và chính trị. Do đó, Trung ương  yêu cầu toàn Đảng, toàn dân, toàn quân phát huy khí thế tiến công, tiêu diệt nhiều sinh lực và phương tiện chiến tranh của địch, đập vỡ các tuyến phòng thủ của chúng trên các chiến trường nắm vững thời cơ, kịp thời phát triển thắng lợi14.
Tại chiến trường Đông Nam Bộ, Trung ương quyết định mở Chiến dịch Nguyễn Huệ, do đồng chí Trần Văn Trà, Phó Tư lệnh Miền làm Tư lệnh. Bộ Tư lệnh Chiến dịch xác định các hướng tiến công như sau:
 - Hướng chủ yếu: đường số 13, khu vực Lộc Ninh (đợt 1), Hớn Quản, Chơn Thành (đợt 2), sau đó phát triển theo hướng Lai Khê hoặc Dầu Tiếng.
 - Hướng thứ yếu: đường 22, khu vực Xa Mát, Trảng Sụp, sau đó phát triển về hướng đồng bằng Trung Nam Bộ, hoặc phía tây Sài Gòn.
 - Hướng phối hợp: Tây Ninh, các phân khu 1,  5,  23  (Long An) và tỉnh Phước Bình.
 - Hướng phối hợp quan trọng: Long Khánh, Biên Hoà.
Về lực lượng gồm toàn bộ khối chủ lực Miền kết hợp với lực lượng vũ trang địa phương.
Ngày 1-4-1972, cuộc tiến công chiến lược năm 1972 trên địa bàn các tỉnh Đông Nam Bộ bắt đầu. Các lực lượng vũ trang đồng loạt tấn công Chiến đoàn 49 quân đội Việt Nam Cộng hòa tại Xa Mát-Bàu Đưng, phá vỡ tuyến phòng thủ của địch đường số 22. Ngày 7- 4, sau 1 tuần tiến công vào Chi khu Lộc Ninh, bộ đội ta đã tiêu diệt được phần lớn Chiến đoàn 49, 1 phần trung đoàn 1 thiết giáp, tiêu diệt và bắt sống 3.000 địch, giải phóng hoàn toàn chi khu Lộc Ninh15. Ngày 8-4, Chi khu Bù Đốp được giải phóng. Trên tuyến quốc lộ 13, ta tiêu diệt và làm thiệt hại nặng 2 chiến đoàn, 5 tiểu đoàn, 3 chi đoàn thiết giáp, bắt sống 8.100 địch16. Phối hợp với đơn vị chủ lực, quân và dân các địa phương trên địa bàn đã chiến đấu kiên cường, anh dũng, tiến công tiêu diệt được nhiều đồn bót của địch, làm chủ nhiều ấp, xã.
Tại Tây Ninh, trong 2 tháng tấn công và nổi dậy, quân dân Tây Ninh đã đánh 82 trận, diệt 1205 địch, giải phóng 6 xã với 15.200 dân, giành quyền làm chủ trên thế mạnh ở 12 ấp với 40.500 dân17.
Tại Long An, quân dân ta đã đánh phá nhiều ấp chiến lược, bẻ gãy thế kìm kẹp của địch, mở rộng được địa bàn ở ven sông Vàm Cỏ Đông.
Tại Thủ Dầu Một, ta đã tấn công, bao vây bức rút hàng loạt đồn bót địch ở Châu Thành, Bến Cát, cắt đứt lộ 16, tấn công sâu vào thị xã Thủ Dầu Một.
Tại Bà Rịa-Long Khánh, ta đã mở rộng được vùng giải phóng trên liên tỉnh lộ 2, vùng ven thị xã Long Khánh, bắc lộ 23 và bắc lộ 5218.
Tại Sài Gòn-Gia Định, đầu tháng 4-1972, lực lượng vũ trang Sài Gòn-Gia Định tổ chức tiến công địch trên nhiều khu vực vùng ven và trung tuyến, đánh chìm 52 tàu, xuồng chiến đấu của đối phương trên sông Sài Gòn, làm chủ được 40 km sông từ Thanh An đến Dầu Tiếng. Tại phía tây sông Sài Gòn, ta đánh và bức rút gần 20 đồn bót, đánh thiệt hại các tiểu đoàn 305, 219, 320 bảo an, làm tan rã toàn bộ lực lượng phòng vệ dân sự tại các xã ở Củ Chi, Hóc Môn19.  
Nhằm tăng cường lực lượng, đẩy mạnh hơn nữa cuộc tiến công chiến lược ngày 12-7-1972, Thường vụ Trung ương Cục ra Chỉ thị số 06/CT72 “Nỗ lực xây dựng và phát triển lực lượng vũ trang địa phương, tạo thành thế bố trí hoàn chỉnh trên cả ba vùng trong tình hình trước mắt”. Chỉ thị nêu rõ nhiệm vụ và yêu cầu xây dựng, phát triển lực lượng vũ trang địa phương hiện nay là hết sức cấp bách, đòi hỏi với tốc độ và quy mô gấp hai đến ba lần trước đây; đòi hỏi các cấp Đảng bộ, các địa phương phải tập trung nỗ lực cao nhất, quyết tâm làm cho kỳ được, trong đó: Mỗi tỉnh xây dựng được từ 2 đến 3 tiểu đoàn bộ binh (tỉnh lớn là 1 trung đoàn, tỉnh nhỏ là 1 tiểu đoàn) và các đơn vị binh chủng; mỗi huyện xây dựng được từ 2 đến 3 đại đội bộ binh (huyện lớn là 1 tiểu đoàn, huyện nhỏ là 1 đại đội) và các đơn vị binh chủng; mỗi xã, ấp tuỳ từng nơi xây dựng từ 1 tiểu đội đến 1 đại đội du kích; chú ý lực lượng du kích, đặc công và công binh.
Đối với vùng giải phóng, vùng làm chủ, chính quyền cách mạng công bố các chính sách của Chính phủ Cách mạng lâm thời và tiếp tục tổ chức trấn áp, truy kích bọn phản cách mạng ngoan cố chống đối, kêu gọi những người tham gia ngụy quân, ngụy quyền trở về với nhân dân; đồng thời tổ chức canh phòng, bảo vệ an ninh, sẵn sàng chiến đấu, khôi phục sản xuất, ổn định đời sống nhân dân, đóng góp sức người, sức của phục vụ tiền tuyến.
Tháng 5-1972, miền Đông Nam Bộ bước vào giai đoạn 2 của cuộc tiến công chiến lược (đợt 2 của chiến dịch Nguyễn Huệ) .
Trong đợt này, sư đoàn 7 được giao nhiệm vụ chốt chặn tiêu diệt đối phương giải tỏa An Lộc và quốc lộ 13. Để đối phó với ta, Mỹ-ngụy đã huy động một lực lượng lớn quân đội gồm pháo binh, không quân trong đó có B52, thiết giáp. Sau hơn 90 ngày đêm chiến đấu, với hàng trăm trận đánh, lực lượng vũ trang của ta đã đẩy lùi các đợt phản kích của đối phương, loại khỏi vòng chiến đấu 4.910 lính, bắt 117 tù binh, bắn cháy 84 xe tăng, bắn rơi 62 máy bay, bắt 1 xe tăng M41, 1 xe M113, thu 421 súng20.
Cùng với quân chủ lực, lực lượng đặc công được giao nhiệm vụ tiến công các kho tàng, sân bay để tiêu diệt sinh lực và phuông tiện chiến tranh của địch.
Tháng 8-1972, tiểu đoàn 9 đoàn đặc công 113 tiến đánh kho Long Bình, khiến 130 gian kho của địch bị nổ tung, phá hủy 5.430 tấn bom, 200 tấn thuốc nổ, diệt 300 lính21. Tiếp đó, vào tháng 9-1972, thực hiện chỉ thị của Bộ Chỉ huy Miền, bộ đội đặc công đã bí mật đặt bom trong sân bay Biên Hòa, kích nổ và phá hủy 175 máy bay địch22.
Vào những ngày tháng cuối của cuộc tổng tiến công chiến lược, tại mặt trận Đông-Nam Sài Gòn, đặc công rừng Sác đã tổ chức 2 trận đánh lớn vào kho Thành Tuy Hạ. Trận đầu tiên vào ngày 11-11-1972, phá hủy 10.000 tấn bom đạn và 33 nhà kho của đối phương23; trận thứ 2 vào ngày 13-12-1972, phá hủy hơn 100.000 tấn bom, trong đó có bom CBU24.
Như vậy, dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của Trung ương Cục miền Nam, cuộc tiến công chiến lược năm 1972 tại Đông Nam Bộ đã đạt được những kết quả quan trọng. Quân và dân miền Đông Nam Bộ đã loại khỏi vòng chiến đấu 76.000 quân đối phương (trong đó 67.000 quân chủ lực), bắn rơi và phá hủy 897 máy bay, 1.081 xe quân sự, 7.000 súng các loại, hơn 40.000 viên đạn cối,… 25; vùng giải phóng, vùng làm chủ được mở rộng, tạo ra thế và lực mới đối với cách mạng miền Nam. Tuy nhiên, trong cuộc tiến công này, chưa tạo ra được phong trào nổi dậy rộng lớn của quần chúng nhân dân.
Thắng lợi của cuộc tiến chiến lược năm 1972 ở Đông Nam Bộ, đã góp phần làm xoay chuyển tình thế có lợi cho ta cả về thế và lực. Ta đã phá vỡ được tuyến phòng thủ biên giới Việt Nam-Campuchia, mở mảng, mở vùng, giành lại được nhiều vùng giải phóng đã bị mất trước đây. Thắng lợi này không những là một bước phát triển mới về lượng mà còn là một sự chuyển biến mới về chất trong cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam chống đế quốc Mỹ xâm lược và tay sai, góp phần đẩy lùi một bước chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” của Mỹ, buộc Mỹ phải chấp nhận ký Hiệp định Paris, năm 1973, tiến tới giải phóng hoàn toàn miền Nam, năm 1975.
 

Ngày nhận bài 3/10/2023; ngày thẩm định 28/11/2023; ngày duyệt đăng 29/11/2023
1.  Viện Nghiên cứu Chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, (1954-1975), Nxb CTQG, H, 1995, T.2, tr. 515, 542.
2, 3, 4, 5, 6. Ban Chấp hành Trung Đảng Cộng sản Việt Nam – Văn phòng : Văn kiện Trung ương Cục miền Nam giai đoạn 1946-1975, Nxb CTQGST, H, 2020, T. 15, tr. 901, 901- 902, 341, 627, 628,
7, 8, 9, 10, 11 Ban Chấp hành Trung Đảng Cộng sản Việt Nam – Văn phòng : Văn kiện Trung ương Cục miền Nam giai đoạn 1946-1975, Nxb CTQGST, H, 2020, T. 16, tr. 99, 103, 105, 97-98, 108.
12, 13. Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Viện Lịch sử Đảng: Lịch sử Xứ ủy Nam bộ và Trung ương Cục miền Nam (1954-1975), Nxb CTQG-ST, H. 2015, tr. 417, 417.
14. Xem: Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng về chống Mỹ, cứu nước, tập II (1966-1975), Nxb CTQG, H, 2012, tr.679-680
15, 16, 18, 21, 24. Hội đồng chỉ đạo biên soạn Lịch sử Đảng bộ miền Đông Nam Bộ:  Lịch sử Đảng bộ miền Đông Nam Bộ lãnh đạo kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ (1945-1975), Nxb CTQG, H, 2003, tr. 453, 458, 456, 459-460, 487.
17. Ban Tổng kết chiến tranh: Tây Ninh 30 năm trung dũng kiên cường, Ban Tuyên giáo xuất bản, 1990, tr. 397.
19, 20, 22, 23, 25. Đảng ủy, Bộ Tư lệnh, Hội đồng khoa học quân sự khu 7: Miền Đông Nam bộ kháng chiến (1945-1975), tập 2, Nxb Quân đội nhân dân, H. 1993, tr. 478-479, 483-484, 485, 489-490