Tóm tắt: Sự nghiệp đổi mới do Đảng khởi xướng và lãnh đạo bắt đầu từ Đại hội VI (1986) của Đảng là một bước ngoặt căn bản trong sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc. Qua hơn 30 năm đổi mới, đất nước đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử cả về thực tiễn và lý luận. Về lý luận, dựa trên chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, bám sát sự biến đổi của tình hình thế giới và trong nước, khắc phục những sai lầm giáo điều, chủ quan duy ý chí trước đây, Đảng đã từng bước hình thành hệ quan điểm lý luận về CNXH và con đường đi lên CNXH của nước ta, góp phần cung cấp cơ sở khoa học cho việc hoạch định cương lĩnh, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước. Để thấy rõ bước đột phá trong nhận thức lý luận của Đảng về CNXH, cần so sánh với nhận thức thời kỳ trước đổi mới.

Từ khóa: Lý luận của Đảng về chủ nghĩa xã hội; Con đường đi lên chủ nghĩa xã hội thời kỳ đổi mới


Ảnh minh hoạ

1. Thời kỳ trước đổi mới
Trong thời kỳ kháng chiến chống ngoại xâm, để phục vụ trực tiếp cho nhiệm vụ hàng đầu là cứu nước, giải phóng dân tộc, Đảng tập trung nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn về cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, về chiến tranh nhân dân, về kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ nên ít có điều kiện nghiên cứu lý luận về CNXH, về con đường đi lên CNXH ở nước ta. Từ sau khi hoà bình lập lại ở miền Bắc năm 1954 và giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc năm 1975 đến trước khi đổi mới (12-1986), Đảng cũng đã tiến hành bước đầu nghiên cứu lý luận về xây dựng CNXH trước tiên là ở miền Bắc, sau đó là trong cả nước, trên cơ sở đó Đảng đã đề ra đường lối chung cách mạng XHCN của Việt Nam.
Kiên định mục tiêu, lý tưởng XHCN, Đảng tiếp tục khẳng định phải đi lên CNXH, phải “đưa miền Bắc tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội”. Đảng xác định miền Bắc và sau này là cả nước đã bước vào thời kỳ quá độ lên CNXH mà điểm xuất là từ một nền sản xuất nhỏ là phổ biến, nông nghiệp lạc hậu “bỏ qua (vượt qua) giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội”. Đây được coi là đặc điểm lớn nhất của thời kỳ quá độ lên CNXH ở nước ta. Mặc dù lúc đó chưa nhận thức đầy đủ về thời kỳ quá độ lên CNXH, song Đảng đã có tư tưởng về phân kỳ thời kỳ quá độ. Trong tác phẩm Dưới lá cờ vẻ vang của Đảng, vì độc lập tự do, vì chủ nghĩa xã hội, tiến lên giành những thắng lợi mới, đồng chí Lê Duẩn đã đưa ra khái niệm “bước đi ban đầu” (mà sau này gọi là chặng đường đầu tiên).
Trên cơ sở những nhận thức lúc đó, Đại hội III (1960) của Đảng đề ra đường lối chung của thời kỳ quá độ lên CNXH ở miền Bắc là: “Phải sử dụng chính quyền dân chủ nhân dân làm nhiệm vụ lịch sử của chuyên chính vô sản để thực hiện cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với nông nghiệp, thủ công nghiệp, thương nghiệp nhỏ và công thương nghiệp tư bản chủ nghĩa tư doanh; phát triển thành phần kinh tế quốc doanh, thực hiện công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa bằng cách ưu tiên phát triển công nghiệp nặng một cách hợp lý; đồng thời ra sức phát triển nông nghiệp và công nghiệp nhẹ, đẩy mạnh cách mạng xã hội chủ nghĩa về tư tưởng, văn hóa và kỹ thuật, biến nước ta thành một nước xã hội chủ nghĩa có công nghiệp hiện đại, nông nghiệp hiện đại, văn hóa và khoa học tiên tiến”1.
Trong đường lối chung đã phản ánh nhận thức của Đảng lúc đó về mục tiêu, đặc trưng cơ bản và những phương hướng cơ bản xây dựng CNXH ở miền Bắc nước ta.
Kế thừa và bổ sung đường lối chung đó, Đại hội IV (12-1976) của Đảng đề ra đường lối chung cách mạng XHCN trong cả nước là: “Nắm vững chuyên chính vô sản, phát huy quyền làm chủ tập thể của nhân dân lao động, tiến hành đồng thời ba cuộc cách mạng: cách mạng về quan hệ sản xuất, cách mạng khoa học-kỹ thuật, cách mạng tư tưởng và văn hóa, trong đó cách mạng khoa học-kỹ thuật là then chốt; đẩy mạnh công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa là nhiệm vụ trung tâm của cả thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội; xây dựng chế độ làm chủ tập thể xã hội chủ nghĩa, xây dựng nền sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa, xây dựng nền văn hóa mới và xây dựng con người mới xã hội chủ nghĩa...”2.
Đường lối chung trên đây đã nêu lên mục tiêu của cách mạng XHCN là xây dựng “bốn cái mới” (chế độ mới, nền kinh tế mới, nền văn hóa mới và con người mới), nêu lên con đường, phương hướng cơ bản là nắm vững chuyên chính vô sản, tiến hành đồng thời ba cuộc cách mạng, đẩy mạnh công nghiệp hoá XHCN.
Tuy nhiên, lý luận về xây dựng CNXH thể hiện qua đường lối chung được hình thành trong điều kiện cả hệ thống XHCN thế giới đều bị chi phối bởi tư duy cũ về CNXH, bởi mô hình CNXH kiểu cũ, các nước XHCN đều vận hành theo cơ chế tập trung quan liêu bao cấp nên đã ảnh hưởng không nhỏ đến đường lối chung cách mạng nước ta.
Nhận thức về đường lối chung có những nội dung chưa thật rõ, chẳng hạn, thế nào là “chế độ làm chủ tập thể”, thế nào là “cách mạng khoa học-kỹ thuật là then chốt”, thế nào là “nền sản xuất lớn XHCN”, quan hệ giữa cách mạng quan hệ sản xuất với quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin về phát triển kinh tế nhiều thành phần trong thời kỳ quá độ thế nào...
Mặt khác trong giai đoạn từ Đại hội IV đến trước Đại hội VI của Đảng, chúng ta đã mắc “những sai lầm nghiêm trọng và kéo dài về chủ trương, chính sách lớn, sai lầm về chỉ đạo chiến lược và tổ chức thực hiện”. Khuynh hướng tư tưởng chủ yếu của những sai lầm đó, như Văn kiện Đại hội VI của Đảng đã chỉ ra, là “bệnh chủ quan duy ý chí, lối suy nghĩ và hành động giản đơn, nóng vội chạy theo nguyện vọng chủ quan”. Điều đó chứng tỏ “sự lạc hậu về nhận thức lý luận và vận dụng các quy luật đang hoạt động trong thời kỳ quá độ; đã mắc bệnh duy ý chí, giản đơn hoá muốn thực hiện nhanh chóng nhiều mục tiêu của chủ nghĩa xã hội trong điều kiện nước ta mới ở chặng đường đầu tiên”3. Ở thời kỳ này chúng ta đã vi phạm một loạt những quy luật khách quan như: quy luật quan hệ sản xuất phải phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, quy luật giá trị, quy luật cung cầu... Rõ ràng là không nhận thức và vận dụng đúng đắn các quy luật khách quan thì không thể có lý luận khoa học về CNXH và xây dựng CNXH ở nước ta. Đó chính là hạn chế lớn nhất trong nhận thức lý luận về CNXH và con đường đi lên CNXH ở nước ta thời kỳ trước đổi mới.
 
2. Thời kỳ đổi mới
Đổi mới là một sự nghiệp mang ý nghĩa cách mạng to lớn đối với Đảng và dân tộc. Qua đổi mới, Đảng đã hình thành và phát triển lý luận về CNXH và con đường đi lên CNXH của nước ta, nhận thức về CNXH và xây dựng CNXH ngày càng rõ hơn.
Mỗi kỳ đại hội đánh dấu một bước trưởng thành của Đảng về nhận thức lý luận, bắt đầu từ Đại hội VI của Đảng là đại hội khởi đầu công cuộc đổi mới đến Đại hội XII (1-2016) của Đảng-là đại hội đánh dấu 30 năm đổi mới.
Về hệ mục tiêu và những đặc trưng của xã hội XHCN Việt Nam
Đại hội VI của Đảng đã nhận định: “Nhiều năm nay, trong nhận thức của chúng ta về chủ nghĩa xã hội có nhiều quan niệm lạc hậu, nhất là những quan niệm về công nghiệp hoá, về cải tạo xã hội chủ nghĩa, về cơ chế quản lý kinh tế, về phân phối, lưu thông,... Vì vậy phải đổi mới, trước hết là đổi mới tư duy, chúng ta mới có thể vượt qua khó khăn, thực hiện được những mục tiêu do Đại hội lần thứ VI đặt ra”4. Mà đổi mới tư duy ở đây, cốt lõi là tư duy lý luận về CNXH và con đường đi lên CNXH của nước ta, phải làm sáng tỏ mục tiêu và những đặc trưng của xã hội XHCN mà nhân dân ta đang xây dựng cũng như những phương hướng cơ bản để xây dựng CNXH ở nước ta.
Từ Đại hội VI, Đảng đã xác định mục tiêu và cũng là đặc trưng của xã hội XHCN là dân giàu, nước mạnh, xã hội văn minh. Xây dựng CNXH phải làm cho mọi người dân đều giàu có, dân giàu nhưng nước phải mạnh, mỗi người dân, mỗi gia đình giàu có nhưng đất nước cũng phải giàu mạnh, giàu mạnh cả về vật chất cả về tinh thần, trí tuệ; sức mạnh tổng hợp của đất nước được tăng lên; xây dựng một xã hội văn minh là phù hợp với xu thế phát triển của thời đại.
Một điểm rất đáng lưu ý là tại HNTƯ 6 khoá VI (3-1989), Đảng lần đầu tiên sử dụng khái niệm “hệ thống chính trị” để thay cho khái niệm “hệ thống chuyên chính vô sản”. Đây là một bước tiến trong nhận thức của Đảng. Đây không phải đơn thuần thay đổi tên gọi mà phản ánh nhận thức mới của Đảng, giai đoạn mới của cách mạng, phù hợp hơn với tình hình thực tế khách quan. Đây cũng là cơ sở để đến Hội nghị giữa nhiệm kỳ khoá VII, Đảng lần đầu tiên dùng khái niệm “Nhà nước pháp quyền của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân” mà không gọi là Nhà nước chuyên chính vô sản.
Đại hội VII (1991) của Đảng, với việc thông qua Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, nhận thức lý luận về CNXH và con đường đi lên CNXH ở nước ta đã có một bước tiến lớn, quan trọng. Cương lĩnh lần đầu tiên đã trình bày một cách có hệ thống sáu đặc trưng và bảy phương hướng cơ bản để xây dựng CNXH. Các đặc trưng và phương hướng cơ bản có quan hệ gắn bó với nhau.
Cương lĩnh xác định, “xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta xây dựng là một xã hội:
- Do nhân dân lao động làm chủ.
- Có một nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và chế độ công hữu về các tư liệu sản xuất chủ yếu.
- Có nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.
- Con người được giải phóng khỏi áp bức, bóc lột, bất công, làm theo năng lực, hưởng theo lao động, có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện cá nhân.
- Các dân tộc trong nước bình đẳng, đoàn kết và giúp đỡ lẫn nhau cùng tiến bộ.
- Có quan hệ hữu nghị và hợp tác với nhân dân tất cả các nước trên thế giới”5.
Các đặc trưng nêu trên đã bao quát được các mặt, các lĩnh vực, các mối quan hệ cơ bản của đời sống xã hội là kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, con người và đối ngoại.
Trong Cương lĩnh năm 1991, Đảng có những nhận thức mới về đặc điểm cơ bản của thời kỳ quá độ lên CNXH của nước ta là: quá độ lên CNXH, bỏ qua chế độ tư bản, từ một xã hội vốn là thuộc địa, nửa phong kiến, lực lượng sản xuất rất thấp. Đất nước trải qua hàng chục năm chiến tranh, hậu quả để lại còn nặng nề. Những tàn dư thực dân, phong kiến còn nhiều. Các thế lực thù địch thường xuyên tìm cách phá hoại chế độ XHCN và nền độc lập dân tộc của nhân dân ta. Quá độ lên CNXH ở nước ta là quá trình lâu dài, trải qua nhiều chặng đường. Cương lĩnh đã xác định mục tiêu tổng quát phải đạt tới khi kết thúc thời kỳ quá độ và mục tiêu của chặng đường đầu.
Tại Hội nghị toàn quốc giữa nhiệm kỳ khoá VII, tiếp tục phát triển theo tinh thần của Cương lĩnh năm 1991, Đảng xác định: “Xây dựng đồng bộ cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa” như là một đặc trưng của thể chế kinh tế mới, kiên trì quá trình chuyển đổi sang cơ chế thị trường. Đồng thời, nếu như trong Cương lĩnh năm 1991, chúng ta mới nói đến xây dựng Nhà nước XHCN nói chung, mà chưa nói đến Nhà nước pháp quyền thì đến Hội nghị giữa nhiệm kỳ khoá VII, lần đầu tiên trong Văn kiện Đảng, đã đưa ra khái niệm “xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân”6 mà về sau Đảng gọi là Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân.
Cũng tại Hội nghị giữa nhiệm kỳ khoá VII của Đảng, một mục tiêu rất quan trọng được Đảng bổ sung là “công bằng”, trở thành hệ mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh”7. Công bằng là một giá trị xã hội thể hiện bản chất của CNXH, vừa là một đặc trưng, một mục tiêu phấn đấu trong quá trình xây dựng CNXH.
Đến Đại hội VIII (1996) của Đảng, tổng kết 10 năm đổi mới, Đảng nhận định: “Nhiệm vụ đề ra cho chặng đường đầu của thời kỳ quá độ là chuẩn bị tiền đề cho công nghiệp hoá đã cơ bản hoàn thành cho phép chuyển sang thời kỳ mới đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”8.
Đại hội VIII của Đảng đã đề ra mục tiêu cụ thể của CNH, HĐH ở nước ta, phấn đấu đến năm 2020 đưa nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp, vì dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh. Đồng thời, Đại hội VIII của Đảng đã có một tư tưởng rất quan trọng là “sản xuất hàng hóa không đối lập với chủ nghĩa xã hội, mà là thành tựu phát triển của nền văn minh nhân loại, tồn tại khách quan, cần thiết cho công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội và cả khi chủ nghĩa xã hội đã được xây dựng”9. Luận điểm này thể hiện nhận thức mới về CNXH và con đường xây dựng CNXH ở nước ta.
Đến Đại hội IX (2001) của Đảng, một bước tiến trong nhận thức khái niệm “bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa” là “bỏ qua việc xác lập vị trí thống trị của quan hệ sản xuất và kiến trúc thượng tầng tư bản chủ nghĩa nhưng tiếp thu, kế thừa những thành tựu mà nhân loại đã đạt được dưới chế độ tư bản chủ nghĩa, đặc biệt về khoa học và công nghệ để phát triển nhanh lực lượng sản xuất, xây dựng nền kinh tế hiện đại”10.
Quan niệm “bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa” như vậy là biện chứng, nó phù hợp hơn khái niệm trước đây đã dùng “bỏ qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa”, nó thể hiện quan điểm kế thừa biện chứng, không rơi vào chủ nghĩa hư vô, cực đoan.
Do phải bỏ qua chế độ TBCN, tạo ra sự biến đổi về chất của xã hội trên tất cả các lĩnh vực nên nước ta “phải trải qua một thời kỳ quá độ lâu dài với nhiều chặng đường, nhiều hình thức tổ chức kinh tế, xã hội có tính chất quá độ. Trong các lĩnh vực của đời sống xã hội diễn ra sự đan xen và đấu tranh giữa cái mới và cái cũ”11.
Đến Đại hội IX của Đảng, một bước phát triển có tính đột phá về lý luận là Đảng khẳng định phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN là mô hình kinh tế tổng quát của nước ta trong thời kỳ quá độ đi lên CNXH.
Sau 15 năm đổi mới (1986-2001), từ thực tiễn dân chủ hoá đời sống xã hội-một tư tưởng lớn được đề ra từ Đại hội VI của Đảng và cũng rất phù hợp với tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ, Đại hội IX của Đảng đã nhấn mạnh và bổ sung vào hệ mục tiêu của đổi mới là mục tiêu dân chủ, để trở thành hệ mục tiêu tương đối hoàn chỉnh “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”. Đó là mục tiêu, đồng thời cũng là một đặc trưng của xã hội XHCN mà nhân dân ta đang xây dựng.
Đại hội X (4-2006) của Đảng trên cơ sở tổng kết 20 năm đổi mới (1986-2006) đã rút ra nhận định: “Nhận thức về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ngày càng sáng tỏ hơn; hệ thống quan điểm lý luận về công cuộc đổi mới, về xã hội xã hội chủ nghĩa và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam đã hình thành trên những nét cơ bản”12. Đại hội đã có sự bổ sung, phát triển quan trọng một số nội dung về mục tiêu, đặc trưng cơ bản của xã hội XHCN và con đường đi lên CNXH ở Việt Nam.
Về đặc trưng xã hội XHCN ở Việt Nam, Đại hội đã bổ sung từ 7 thành 8 đặc trưng, cụ thể là:
- Là một xã hội dân giàu, nước mạnh, công bằng, dân chủ, văn minh (là đặc trưng mới không có trong Cương lĩnh năm 1991).
- Do nhân dân làm chủ (Cương lĩnh năm 1991 ghi là do nhân dân lao động làm chủ).
- Có nền kinh tế phát triển cao, dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất (không viết chế độ công hữu về các tư liệu sản xuất chủ yếu như trong Cương lĩnh năm 1991).
- Có nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.
- Con người được giải phóng khỏi áp bức, bất công, có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, phát triển toàn diện (trong Cương lĩnh năm 1991 viết “thoát khỏi bóc lột”, “làm theo năng lực hưởng theo lao động”, “có điều kiện phát triển toàn diện cá nhân”).
- Các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tương trợ và giúp đỡ nhau cùng tiến bộ (trong Cương lĩnh năm 1991 viết “các dân tộc trong nước”, mà không có từ cụm từ “trong cộng đồng Việt Nam” và không có từ “bình đẳng”).
- Có Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản (đặc trưng này hoàn toàn mới, không có trong Cương lĩnh năm 1991).
- Có quan hệ hữu nghị và hợp tác với nhân dân các nước trên thế giới (bỏ từ “tất cả”).
Đại hội X tiếp tục khẳng định thực hiện mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”, phải “xây dựng một xã hội dân chủ”.
Những bổ sung của Đại hội X vào mục tiêu, đặc trưng và phương hướng cơ bản xây dựng CNXH ở nước ta có ý nghĩa rất quan trọng, góp phần chuẩn bị cho việc bổ sung, phát triển Cương lĩnh năm 1991 tại Đại hội XI của Đảng.
Đến Đại hội XI (2011) của Đảng, trên cơ sở kế thừa Cương lĩnh năm 1991 và văn kiện các Đại hội VII, VIII, IX, X, dựa trên tổng kết 20 năm thực hiện Cương lĩnh (1991-2011) Đại hội XI (2006) của Đảng đã thông qua Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) (gọi tắt là Cương lĩnh (bổ sung, phát triển năm 2011). So với Cương lĩnh năm 1991, Cương lĩnh (bổ sung, phát triển năm 2011) đã bổ sung, phát triển nhiều nội dung quan trọng tiếp tục có giá trị định hướng và chỉ đạo to lớn sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc XHCN; nhiều vấn đề liên quan đến Cương lĩnh đã có nhận thức mới, sâu sắc hơn; quan niệm về CNXH và con đường đi lên CNXH ở Việt Nam ngày càng rõ hơn, đồng thời cũng thấy rõ thêm những vấn đề mới đặt ra cần được tiếp tục nghiên cứu, giải quyết.
Cương lĩnh (bổ sung, phát triển năm 2011) đã nêu 8 đặc trưng của xã hội XHCN Việt Nam trong đó có phát triển nội dung của 6 đặc trưng Cương lĩnh năm 1991 là:
- Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh: đặc trưng “dân chủ” được đặt trước “công bằng” thể hiện vị trí, tầm quan trọng của dân chủ. Đây là đặc trưng tổng quát, vừa thể hiện mục tiêu của đổi mới, của xã hội XHCN Việt Nam.
- Nhân dân làm chủ.
- Quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất.
- Quan hệ dân tộc trong quốc gia đa dân tộc là quan hệ bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển.
- Quan hệ với cộng đồng quốc tế trong hội nhập là quan hệ hữu nghị hợp tác.
- Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân do Đảng Cộng sản lãnh đạo.
Trong Cương lĩnh (bổ sung, phát triển năm 2011) đã nhấn mạnh hai điểm, một là, vai trò của dân chủ, thể hiện dân chủ là bản chất của chế độ XHCN, dân chủ XHCN vừa là mục tiêu, vừa là động lực của công cuộc đổi mới, phản ánh đúng tư tưởng Hồ Chí Minh: “Nước ta là một nước dân chủ”; hai là, xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN do Đảng Cộng sản lãnh đạo. Vai trò lãnh đạo - cầm quyền của Đảng đã được khẳng định trong các Văn kiện Đại hội Đảng, được hiến định trong Hiến pháp 2013.
 
Về con đường đi lên CNXH ở Việt Nam
Các phương hướng cơ bản xây dựng CNXH ở Việt Nam cũng là kết quả quá trình nhận thức của Đảng được trình bày trong nhiều văn kiện Đại hội Đảng thời kỳ đổi mới. Các phương hướng xây dựng CNXH gắn liền với nhận thức các đặc trưng của xã hội XHCN, nhằm thực hiện, vật chất hoá các mục tiêu và đặc trưng, vừa định hướng và định hình mô hình CNXH Việt Nam. Các phương hướng này đã được trình bày tập trung, có hệ thống trong Cương lĩnh năm 1991 và Cương lĩnh (bổ sung, phát triển năm 2011).
Cương lĩnh năm 1991 đã nêu 7 phương hướng cơ bản trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, đối ngoại, bảo vệ Tổ quốc và xây dựng Đảng. Đến Đại hội X của Đảng trên cơ sở tổng kết 20 năm đổi mới, Đại hội đã có sự bổ sung, phát triển quan trọng thành 8 phương hướng, trong đó đã khẳng định “phải phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”, “xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, thực hiện đại đoàn kết toàn dân tộc”, “xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân”; “xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh”;...
Đến Đại hội XI, trên cơ sở tổng kết 20 năm thực hiện Cương lĩnh (1991-2011), Đại hội đã bổ sung, phát triển Cương lĩnh năm 1991 thành 8 phương hướng cơ bản để thực hiện 8 đặc trưng của xã hội XHCN, từng bước hiện thực hoá những đặc trưng đó trong đời sống xã hội13.
Các phương hướng cơ bản này bao quát các lĩnh vực cơ bản của mô hình CNXH của nước ta, được trình bày ngắn gọn, rõ ràng, trật tự trình bày có thay đổi, nội dung các phương hướng đều có điểm mới phản ánh những nhận thức mới của Đảng về CNXH cũng như sự thay đổi của tình hình thế giới và trong nước. Việc thực hiện các phương hướng này là một quá trình lâu dài, gắn với đặc điểm và nhiệm vụ của thời kỳ quá độ lên CNXH. Các phương hướng này tác động lẫn nhau, tạo điều kiện, tiền đề cho nhau để từng bước tạo lập một xã hội XHCN với những nấc thang phát triển khác nhau.
Nhận thức và giải quyết các mối quan hệ lớn trong phát triển đất nước theo con đường XHCN
Trong quá trình lãnh đạo sự nghiệp đổi mới, Đảng đã phát hiện và giải quyết nhiều mối quan hệ lớn, quan trọng. Đây là những mối quan hệ biện chứng, thể hiện tính quy luật của CNXH và con đường đi lên CNXH ở nước ta. Những mối quan hệ này trước đây đã được trình bày riêng trong nhiều Văn kiện Đại hội Đảng.
Tại Đại hội X, dựa trên tổng kết 20 năm đổi mới, Đảng đã nêu lên một số mối quan hệ mà thực tiễn đổi mới và xây dựng CNXH ở nước ta đặt ra cần phải nghiên cứu, giải đáp. Đó là “các mối quan hệ giữa tốc độ tăng trưởng và chất lượng phát triển; giữa tăng trưởng kinh tế và thực hiện công bằng xã hội; giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị; giữa đổi mới với ổn định và phát triển; giữa độc lập tự chủ và chủ động, tích cực hội nhập kinh tế quốc tế...”14.
Đặc biệt đến Đại hội XI, Cương lĩnh (bổ sung, phát triển năm 2011) đã nêu lên một cách có hệ thống các mối quan hệ lớn cần phải đặc biệt chú trọng nắm vững và giải quyết tốt: “Quan hệ giữa đổi mới, ổn định và phát triển; giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị; giữa kinh tế thị trường và định hướng xã hội chủ nghĩa; giữa phát triển lực lượng sản xuất và xây dựng, hoàn thiện từng bước quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa; giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội; giữa xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa; giữa độc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế; giữa Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ... Không phiến diện, cực đoan, duy ý chí”15. Đến Đại hội XII (2016) của Đảng, dựa trên tổng kết 30 năm đổi mới, Đảng đã bổ sung mối quan hệ “giữa Nhà nước và thị trường”; đã điều chỉnh quan hệ giữa “kinh tế thị trường và định hướng xã hội chủ nghĩa “ thành quan hệ “giữa tuân theo các quy luật thị trường và bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa”16. Việc bổ sung và điều chỉnh đó là cần thiết, để phù hợp hơn với quá trình phát triển của nhận thức và thực tiễn.
Lý luận về các mối quan hệ lớn cùng với tám đặc trưng của xã hội XHCN, 8 phương hướng cơ bản xây dựng CNXH ở nước ta tạo thành hệ thống quan điểm lý luận về CNXH Việt Nam, phản ánh những quy luật và tính quy luật của đổi mới-phát triển đất nước, của công cuộc xây dựng CNXH ở Việt Nam. Tuy nhiên nhận thức là một quá trình, thực tiễn cuộc sống luôn vận động, phát triển đòi hỏi chúng ta phải không ngừng nâng cao nhận thức, bổ sung, phát triển lý luận về CNXH và con đường đi lên CNXH ở nước ta.
 
3. Những vấn đề đặt ra về lý luận cần tiếp tục nghiên cứu
Qua hơn 30 năm đổi mới, Đảng đã hình thành được hệ thống quan điểm lý luận về CNXH và con đường đi lên CNXH ở nước ta, nhận thức các quan điểm này ngày càng rõ hơn. Tuy nhiên bên cạnh những điểm đã rõ, vẫn còn nhiều điểm chưa rõ, còn không ít vấn đề lý luận chưa được luận giải một cách khoa học thấu đáo nên tính thuyết phục chưa cao, còn nhiều ý kiến khác nhau ảnh hưởng đến sự thống nhất nhận thức, hành động trong Đảng và trong xã hội. Mặt khác, thực tiễn cuộc sống, tình hình trong nước và thế giới luôn vận động, biến đổi đặt ra nhiều vấn đề mới liên quan đến con đường xây dựng CNXH ở nước ta đòi hỏi phải tiếp tục nghiên cứu, làm sáng tỏ. Vì vậy Đại hội XII của Đảng yêu cầu phải “Tiếp tục đổi mới tư duy lý luận, làm rõ cơ sở lý luận, thực tiễn, hoàn thiện hệ thống các quan điểm về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, đẩy mạnh công tác tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận, cung cấp các luận cứ khoa học, lý luận cho việc hoạch định, phát triển đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước”17.
Căn cứ Văn kiện Đại hội XII của Đảng, Nghị quyết số 37-NQ/TW của Bộ Chính trị khoá XI “Về công tác lý luận và định hướng nghiên cứu đến năm 2030”, có thể nêu ra một số vấn đề có liên quan đến lý luận về CNXH và con đường đi lên CNXH ở nước ta cần được tiếp tục đẩy mạnh nghiên cứu như sau:
Một, nghiên cứu, tổng kết việc nhận thức, vận dụng chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, làm rõ những giá trị bền vững, những luận điểm đã bị thực tiễn lịch sử vượt qua, những nội dung cần bổ sung, phát triển trong bối cảnh mới của tình hình.
Hai, nghiên cứu những đặc điểm mới của thời đại; bản chất, đặc điểm của CNTB hiện đại, xu hướng biến đổi, khả năng thích nghi của CNTB; sự đổi mới của CNXH về lý luận và thực tiễn, triển vọng của CNXH trên thế giới.
Dự báo xu hướng biến đổi của tình hình thế giới và khu vực, thời cơ và thách thức đối với công cuộc xây dựng CNXH và bảo vệ Tổ quốc.
Ba, nghiên cứu sâu vấn đề phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN; mối quan hệ giữa tuân theo các quy luật thị trường và bảo đảm định hướng XHCN, quan hệ giữa Nhà nước, thị trường và xã hội...
Bốn, nghiên cứu về CNH, HĐH, về phát triển kinh tế tri thức, kinh tế số, cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, về phát triển kinh tế nhanh và bền vững gắn với bảo vệ môi trường, giải quyết hài hoà các vấn đề xã hội.
Năm, nghiên cứu vấn đề đổi mới đồng bộ, phù hợp giữa kinh tế và chính trị; xác định lộ trình, các chặng đường, bước đi trong thời kỳ quá độ lên CNXH nhất là giai đoạn từ nay đến năm 2030 (kỷ niệm 100 năm thành lập Đảng), từ năm 2030 đến năm 2045 (kỷ niệm 100 năm thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà).
Sáu, nghiên cứu vấn đề xây dựng văn hóa, phát triển con người, mối quan hệ giữa văn hóa với kinh tế, với chính trị, văn hóa với con người; quan hệ giữa giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc với tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại; vấn đề xây dựng hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị chuẩn con người Việt Nam.
Bảy, nghiên cứu vấn đề mô hình và phương thức quản lý phát triển xã hội; quan hệ giữa kinh tế và xã hội; xây dựng mô hình xã hội theo hướng đồng thuận, bền vững, văn minh; sự biến đổi cơ cấu xã hội, phân tầng xã hội; các thể chế, thiết chế quản lý phát triển xã hội.
Tám, vấn đề kiện toàn, sắp xếp hệ thống chính trị theo hướng tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả; hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN; cơ chế phân công, phối hợp và kiểm soát quyền lực, chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí; vấn đề dân chủ XHCN và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị-xã hội.
Chín, vấn đề quan hệ giữa hai nhiệm vụ chiến lược là xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN; kết hợp kinh tế với quốc phòng, an ninh và đối ngoại; vấn đề quan hệ giữa độc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế.
Mười, vấn đề xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng trong tình hình mới; phòng, chống suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” trong nội bộ; vấn đề nội dung và phương thức lãnh đạo của Đảng, nâng cao năng lực cầm quyền của Đảng; vấn đề xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp nhất là cấp chiến lược, đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ...
Hiện nay, Đảng đang chuẩn bị xây dựng các dự thảo văn kiện trình Đại hội XIII của Đảng và chuẩn bị tiến hành tổng kết 30 năm thực hiện Cương lĩnh năm 1991, trọng tâm là 10 năm thực hiện Cương lĩnh (bổ sung, phát triển năm 2011). Đây là dịp tốt để chúng ta nâng cao hơn nhận thức lý luận về CNXH và con đường đi lên CNXH ở nước ta, củng cố và nâng cao vai trò lãnh đạo của Đảng trên con đường đổi mới toàn diện, đồng bộ vì dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.


  


Bài đăng trên Tạp chí Lịch sử Đảng số 9-2018
1. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập, Nxb CTQG, H, 2011, T. 21, tr. 922-923
2. Sđd, T. 37, tr. 523-524
3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội Đảng thời kỳ đổi mới (Đại hội VI, VII, VIII, IX), Nxb CTQG, H, 2005, tr. 25-26, 132-133, 315-316, 432, 405, 455, 481, 634, 634
12, 14. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb CTQG, H, 2006, tr. 68, 69
13, 15. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb CTQG, H, 2011, tr. 72, 72-73
16, 17. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Văn phòng Trung ương Đảng, H, 2016, tr. 80, 201.