Tháng 6-1951, Trung ương Cục miền Nam được thành lập trực tiếp lãnh đạo cách mạng miền Nam, cũng là thời gian phong trào kháng chiến ở Nam Bộ đang gặp rất nhiều khó khăn do những thủ đoạn bình định của địch và cả những khuyết điểm của ta trong chỉ đạo kháng chiến. Để giữ vững chiến tranh du kích, ứng phó với những biện pháp quân sự mới của đối phương, Trung ương Cục quyết định một loạt vấn đề về tổ chức và xây dựng lực lượng vũ trang; tiếp tục xây dựng, bảo vệ hệ thống căn cứ địa Nam Bộ, chống lại các cuộc tấn công ngày càng gia tăng của địch.

Từ khoá: Trung ương Cục miền Nam; miền Tây Nam Bộ; 1951-1954

Một đơn vị Nam tiến tại ga Hàng Cỏ, Hà Nội trước khi lên đường vào Nam
chi viện cho mặt trận Nam Bộ năm 1945

1. Trung ương cục miền Nam chỉ đạo các nhiệm vụ quân sự ở miền Tây Nam bộ phát triển thế chủ động chiến lược
Tháng 7-1951, Trung ương Cục điều chỉnh địa bàn  Nam Bộ thành 2 Phân Liên khu Miền Đông và Miền Tây. Tại miền Tây Nam Bộ, một số địa bàn cấp tỉnh, huyện và một số xã được phân định lại cho phù hợp với điều kiện bố trí lực lượng chiến trường. Tháng 7-1951, Trung ương Cục quyết định giải thể tỉnh Rạch Giá; huyện An Biên và Hồng Dân nhập vào tỉnh Bạc Liêu.
Đồng thời với sự điều chỉnh hành chính, Trung ương Cục chỉ đạo củng cố, thiết lập sự lãnh đạo thống nhất trong hệ thống Đảng Phân Liên khu, thành lập Bộ Tư lệnh các Phân Liên khu. Bộ Tư lệnh Phân Liên khu miền Đông do Trần Văn Trà làm Tư lệnh, Phạm Hùng làm Chính ủy. Bộ Tư lệnh Phân Liên khu miền Tây do Nguyễn Chánh làm Quyền Tư lệnh, Hoàng Dư Khương làm Chính ủy. Nhân sự Bộ Tư lệnh Phân Liên khu miền Tây sau đó còn thay đổi, lần lượt do Phan Trọng Tuệ, rồi Dương Quốc Chính làm Tư lệnh.
Nhằm tăng cường sự lãnh đạo sát sao, thống nhất và trực tiếp của Đảng đối với các đơn vị vũ trang trong thực hiện chiến tranh du kích, tháng 9-1951, Trung ương Cục tổ chức Hội nghị bí thư chi bộ đại đội toàn Nam Bộ, quán triệt nhiệm vụ đẩy mạnh chiến tranh du kích chống địch càn quét, lấn chiếm, chú trọng xây dựng đơn vị cơ sở đại đội. Đầu 1952, Bộ Tư lệnh Nam Bộ ra Nghị quyết quân sự cho toàn Nam Bộ năm 1952; xác định: "phương châm chiến lược của ta ở Nam Bộ vẫn là du kích chiến là chính, học tập đánh vận động chiến trong trường hợp có điều kiện thuận lợi và phải liên miên tiêu hao và tiêu diệt sinh lực địch"1. Nghị quyết nhấn mạnh: “Ra sức tiêu diệt sinh lực giặc, lấy chiến tranh bồi dưỡng lực lượng của ta, giành giật và bảo vệ dự trữ để phát triển lực lượng và tự cung tự cấp đồng thời tích cực tranh thủ sự viện trợ của Trung ương”2. Bộ Tư lệnh Nam Bộ yêu cầu các địa phương, đơn vị quân đội phải học tập kinh nghiện chiến tranh du kích của Bình Thuận; các cấp tư lệnh, các tỉnh đội, huyện đội, các ngành chuyên môn phải áp dụng những kinh nghiệm đó trong chỉ huy tác chiến.. .
Thực hin chủ trương trên, trong những năm 1951-1953, Đảng bộ, quân và dân Tây Nam Bộ tích cực triển khai nhiệm vụ chung của toàn Nam Bộ do Trung ương Cục đề ra là "giữ người, giữ của, xây dựng người, xây dựng của"3; đồng thời đẩy mạnh các nhiệm vụ quân sự ở mỗi đại phương, trên từng địa bàn cụ thể, trọng tâm công tác là vừa giành đất, giành người và của với giặc, góp phần mở rộng khu du kích, vùng tự do và bảo vệ căn cứ kháng chiến của tỉnh Bạc Liêu. Các đơn vị vũ trang cấp huyện tổ chức nhân dân trên địa bàn đề cao cảnh giác, chủ động chặn các hoạt của địch nhằm chiếm đóng sâu vào các vùng căn cứ, hoặc đánh phá căn cứ của ta. Nhân dân ở các xã thực hiện sự chỉ đạo của huyện, có kế hoạch và tổ chức lực lượng, bố phòng sẵn sàng đối phó, đánh trả kế hoạch cướp của, cướp người của địch; tham gia xây dựng du kích, bộ đội huyện, bảo vệ cán bộ, giữ vững căn cứ. Đồng thời, nhân dân cực tăng gia sản xuất, tự cung tự cấp, vừa bảo vệ kinh tế kháng chiến, vừa phá bao vây kinh tế của địch.
 Các cấp bộ Đảng tỉnh tổ chức cho nhân dân, nhất là lực lượng du kích học tập kinh nghiệm chiến tranh du kích của Bình Thuận, nhất là trong việc tích cực thực hiện nhiệm vụ giáo dục, vận động tổ chức cho nhân dân tránh địch, cất giấu của cải; thực hiện dân chủ và "dân chủ bình nghị" trong thảo luận các chủ trương của Chính phủ, đoàn thể; kiên trì gây cơ sở trong các vùng địch hậu, áp dụng nhiều hình thức tranh đấu, biến vùng địch hậu thành vùng du kích...
Dưới sự lãnh đạo chặt chẽ của Trung ương Cục miền Nam, phong trào chiến tranh du kích trên địa bàn Tây Nam Bộ không ngừng được được đẩy mạnh trên các mặt. Lực lượng vũ trang 3 thứ quân, nhất là bộ đội địa phương được tăng cường. Trung ương Cục tiến hành kiện toàn các tiểu đoàn bộ đội địa phương ở cả Phân Liên khu miền Đông và Phân Liên khu miền Tây. Thực hiện sự chỉ đạo của Trung ương Cục miền Nam, tại các địa bàn miền Tây Nam Bộ, các tiểu đoàn bộ đội địa phương thực hiện phân tán xuống huyện, vừa đảm bảo thực hiện kế hoạch tập trung của tỉnh, vừa hỗ trợ bộ đội huyện. Dó đó, bộ đội địa phương huyện có bước trưởng thành nhanh chóng, vừa thực hiện nhiệm vụ tác chiến, phối hợp tác chiến tiêu diệt địch, vừa dìu dắt du kích xã phát triển chiến tranh du kích, bảo vệ giao thông liên lạc, bảo vệ tính mạng và tài sản của nhân dân khi giặc tấn công. Trên cơ sở lực lượng dân quân, tự vệ và du kích các xã (chủ yếu phát triển từ phong trào thanh niên và các cuộc vận động của các đoàn thể công nhân, nông dân, thanh niên, phụ nữ), các huyện ủy  ở Tây Nam Bộ chỉ đạo đẩy mạnh phát triển rộng rãi du kích xã, nêu cao tinh thần hăng hái tham gia chiến đấu; chỉ đạo các đảng viên cơ sở nêu gương, vào du kích.
Trong thời gian này, thực hiện chủ trương của Trung ương Cục, về việc xây dựng mỗi tỉnh có căn cứ địa riêng, mở rộng vùng giải phóng, Phân Liên khu miền Tây đẩy mạnh các hoạt động nối thông căn cứ Cần Thơ, Bạc Liêu với căn cứ Long Châu Hà và Tây Campuchia. Quân dân các tỉnh thuộc Phân Liên khu miền Tây vừa thực hiện phương châm du kích chiến tranh, giành thế chủ động, vừa ra sức chống địch càn quét, bảo vệ vững chắc khu căn cứ Cà Mau; tham gia cùng bộ đội đánh kỳ tập; phá hoại, phá huỷ phương tiện, cơ sở chiến tranh của địch, ...; luồn sâu vào địch hậu, tiêu diệt địch.
Tháng 3-1953, Trung ương Cục miền Nam ban hành tài liệu "Kế hoạch thi hành Nghị quyết của Trung ương Cục về công tác trong vùng du kích và tạm bị chiếm", quán triệt đến từng chi bộ, về tính chất chiến trường Nam Bộ: “... chiến trường Nam Bộ là một chiến trường du kích và tạm bị chiếm không có vùng độc lập an toàn, chỉ có những vùng căn cứ địa du kích mà thôi... Sự lãnh đạo của chúng ta ở Nam Bộ phải hướng theo phương châm công tác vùng du kích và tạm bị chiếm. Phải dựa vào Nghị quyết căn bản đó mà hướng dẫn công tác trên toàn chiến trường Nam Bộ”4.
Các cấp bộ Đảng tỉnh, huyện, xã thuộc Liên khu ủy miền Tây đã quán triệt quân dân nắm vững và thực hiện quan điểm chỉ đạo của Trung ương Cục: Chiến trường Nam Bộ là chiến trường du kích; nắm vững phương châm du kích chiến tranh; căn bản của du kích chiến tranh là nhân dân; đồng thời tích cực đẩy mạnh các hoạt động quân sự, bảo vệ và mở rộng vùng căn cứ của tỉnh. Các hoạt động xây dựng kinh tế kháng chiến, tiếp tục tổ chức thực hiện giảm tô, tạm cấp ruộng đất cho nông dân, đóng góp xây dựng bộ đội…được tiến hành mạnh mẽ. Nhân dân vùng hăng hái sản xuất, lương thực, thực phẩm dồi dào, có thêm nguồn cung cấp cho cán bộ, chiến sỹ, du kích thoát ly hoạt động và đóng góp chuyển vào cho miền Đông đang gặp khó khăn.
Trên chiến trường cả nước, đầu năm 1953, để cứu vãn nguy cơ thất bại ở Đông Dương, thực dân Pháp triển khai kế hoạch Nava với sự can thiệp ngày càng sâu của Mỹ nhằm xoay chuyển tình thế chiến lược “chuyển bại thành thắng” trong vòng 18 tháng. Tại Tây Nam Bộ, địch ngày càng đánh phá ác liệt trên các chiến trường. Trước tình hình đó, Bạc Liêu là địa bàn có nhiều cơ quan Trung ương Cục đóng căn cứ và là vùng giải phóng, cung cấp hậu cần chính của Tây Nam Bộ, Đảng bộ tỉnh Bạc Liêu đã khẩn trương tiến hành Đại hội đại biểu tỉnh Đảng bộ lần thứ IV, tại Đất Sét, xã Phú Mỹ, huyện Ngọc Hiển vào ngày 15-3-1953. Đại hội tập trung giải quyết các vấn lớn quyết định bước phát triển của phong trào kháng chiến toàn diện trong giai đoạn giành thắng lợi quyết định: Đẩy mạnh xây dựng vùng giải phóng toàn diện về: chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội; phát triển mạnh bộ đội địa phương đủ sức phối hợp cùng chiến trường trong toàn quốc tiến công địch. Đại hội bầu ra Ban chấp hành tỉnh Đảng bộ mới gồm: 17 ủy viên chính thức, 10 ủy viên dự khuyết, đồng chí Ung Văn Khiêm - Ủy viên Trung ương Đảng; Ủy viên Trung ương Cục miền Nam được bầu tiếp tục làm Bí thư Tỉnh ủy. Đảng bộ tỉnh tăng cường chỉ đạo cấp huyện, đẩy mạnh phong trào kháng chiến, tăng cường thực lực kháng chiến.
Càng về cuối cuộc kháng chiến, đế quốc Mỹ ngày càng trắng trợn can thiệp vào chiến trường miền Nam, giúp Pháp tăng cường bắt lính, ráo riết càn quét, chiếm đóng, thực hiện chính sách "dùng người Việt đánh người Việt, dùng người Đông Dương đánh người Đông Dương", kết hợp với các chiêu bài chính trị, tập hợp các tổ chức tôn giáo Cao Đài, Hòa Hảo, các đảng phái phản động để tuyên truyền lừa mị nhân dân "chống cộng".  Tháng 8-1953, Trung ương Cục miền Nam tiến hành Hội nghị địch , ngụy vận toàn Nam Bộ, xác định: “đối với chiến trường Nam Bộ là chiến trường du kích và tạm bị chiếm, địch ngụy vận là trung tâm công tác đặc biệt quan trọng;... là một nhiệm vụ chiến lược rất quan trọng5. Nghị quyết nhấn mạnh, các cấp ủy đảng trong lãnh đạo, chỉ đạo phải nắm vững đường lối chủ trương của Trung ương Đảng về địch vận, hết sức tránh tư tưởng hữu khuynh, cầu an, thoả hiệp; đề ra 5 nhiệm vụ của công tác địch ngụy vận là: Công tác nguỵ vận; công tác Cao Đài, Hoà Hoả vận; công tác vận động Âu-Phi; chính sách đối với hàng binh, tù binh; chống bắt lính, bắt phu6.  
Để cụ thể hóa Nghị quyết về địch ngụy vận của Trung ương Cục miền Nam,  Đảng bộ Phân Liên khu miền Tây tổ chức Hội nghị Hòa Hảo vận, triển khai xuống đến các huyện. Thực hiện sự chỉ đạo của Phân Liên khu ủy miền Tây, các tỉnh miền Tây: Cần Thơ, Hậu Giang, Sóc Trăng, Vĩnh Trà, Bạc Liêu, Cà Mau đề ra nhiệm vụ sát thực tiễn cơ sở, với các hình thức, biện pháp hiệu quả để vận động đồng bào Hòa Hảo đoàn kết, đóng góp cho kháng chiến; tích cực kêu gọi con em trong hàng ngũ binh lính Hòa Hảo trở về với hàng ngũ kháng chiến của dân tộc; chuẩn bị lực lượng mọi mặt, tích cực phối hợp với cả nước trong Đông Xuân 1953-1954.

2. Thực hiện nhiệm vụ trên hướng phối hợp trong Đông- Xuân 1953-1954  và Chiến dịch Điện Biên Phủ
Trong Đông Xuân 1953-1954, Trung ương Đảng chủ trương đánh vào khâu yếu nhất của địch, buộc địch phân tán lực lượng, phá sản kế hoạch Nava. Hội nghị xác định mặt trận chính diện là Tây Bắc và quyết định  đưa lực lượng lớn bộ đội chủ lực, từ Việt Bắc và Khu 4, lên Tây Bắc, mở cuộc tiến công tiêu diệt địch đang chiếm đóng Lai Châu, giải phóng hoàn toàn Khu Tây Bắc, tạo thế phát triển xuống giải phóng đồng bằng, đồng thời phá âm mưu bình định miền Nam của địch.
Bộ chính trị đề ra nhiệm vụ tất cả chiến trường, các địa phương cả nước  đẩy mạnh kháng chiến, mở các đợt phối hợp, tạo thế và lực cho chiến trường chính giành thắng lợi. Nam Bộ làm nhiệm vụ của chiến trường ở hướng phối hợp.
 Đối với khu vực miền Tây Nam Bộ, theo sự phân công của Trung ương Cục miền Nam, phương hướng chính là tập trung sức đánh sâu, đánh mạnh vào vùng địch hậu, tiêu hao tiêu diệt nhiều sinh lực địch; phá hoại kinh tế hậu cần của địch, buộc địch phải đối phó ngay tại trung tâm; đồng thời chủ động đề phòng địch càn quét vào căn cứ,  bảo đảm tập trung bộ đội.
Cuối tháng 11-1953, trong khi cuộc họp của Bộ Tổng tư lệnh về triển khai kế hoạch quân sự, tác chiến trong cuộc tiến công chiến lược Đông Xuân 1953-1954  thì quân Pháp đổ quân dù xuống Điện Biên Phủ, tăng cường lực lượng, xây dựng Điện Biên Phủ thành “pháo đài bất khả xâm phạm”, giao chiến với Bộ đội chủ lực,  quyết “giữ Điện Biên Phủ bằng mọi giá".  Ngày 6-12-1953, Bộ Chính trị quyết định mở chiến dịch Điện Biên Phủ, giao nhiệm vụ cho các địa phương phối hợp mạnh mẽ với chiến trương chính và chiến dịch Điện Biên Phủ, quyết tâm kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến.
Chiến trường Nam Bộ là chiến trường sau lưng địch, có nhiệm vụ đẩy mạnh chiến tranh du kích, thực hiện phương châm “đánh nhỏ ăn chắc”, tiêu hao, tiêu diệt từng bộ phận lực lượng địch; đồng thời phát động phong trào ngụy vận, mở rộng vùng căn cứ và du kích. Trung ương Cục miền Nam chỉ thị cho Phân Liên Khu ủy miền Tây Nam Bộ chuẩn bị tích cực để hoàn thành tốt nhiệm vụ trên hướng phối hợp. Phương hướng chính là tập trung lực lượng, đánh sâu, đánh mạnh vào vùng địch hậu, tiêu diệt sinh lực địch, phá hoại cơ sở kinh tế, hậu cần của địch. Phân Liên khu hướng dẫn cụ thể các tỉnh xây dựng kế hoạch hoạt động đảm bảo vừa làm cho địch bị động đối phó ngay tại căn cứ, trung tâm chỉ huy của chúng nhưng đồng thời phải chú ý phương án đối phó kịp thời  phòng địch đánh phá, càn quét các khu căn cứ.
Về phương châm hoạt động: tinh thần chung là chủ động, sáng tạo, nhạy bén, tuỳ theo tình hinh thực tế địa phương mà bố trí các đợt tiến công ngắn ngày hay dài ngày, dựa chắc trên cơ sở phát huy tối đa sức mạnh phối hợp hoạt động của cả 3 thứ quân, thực hiện phối hợp đánh địch đồng thời cả về quân sự, chính trị và địch nguỵ vận.
Ở miền Tây Nam Bộ, Trung ương Cục miền Nam, Bộ Tư lệnh Nam Bộ chỉ đạo Phân Liên khu ủy miền Tây xây dựng kế hoạch hoạt động phối hợp với chiến trường Điện Biên Phủ, xác định trọng điểm là địa bàn các tỉnh Cần Thơ, Sóc Trăng, Vĩnh Trà, tiến hành 2 đợt hoạt động dài ngày; các tỉnh lập kế hoạch hoạt động cụ thể để phối hợp hành động, làm phân tán lực lượng địch, lập các Ban chỉ huy các trọng điểm, thành phần gồm các đồng chí lãnh đạo chủ chốt của tỉnh, các huyện trên địa bàn; hầu hết các đồng chí tỉnh ủy viên, cán bộ các ban ngành, đoàn thể của các tỉnh được tăng cường cho các huyện.       
Cuối năm 1953, các tỉnh ủy miền Tây và tỉnh đội, xác định nhiệm vụ phối hợp với chiến trường chính trong Đông Xuân 1953-1954; xác định rõ quyết tâm thực hiện nhiệm vụ phối hợp với chiến trường chính Điện Biên Phủ.
Tại Bạc Liêu, ngày 23-12-1953, bộ đội địa phương tỉnh phối hợp với Tiểu đoàn 307 bộ đội chủ lực tổ chức trận địa phục kích, đánh vận động, tiêu diệt tiểu đoàn quân Hòa Hảo trên địa bàn xã Châu Thành, huyện Cà Mau. Ngày 7-2-1954, thực hiện nhiệm vụ được phân công, bộ đội điạ phương huyện An Biên phối hợp với bộ đội đặc công và hỗ trợ Tiểu đoàn 307, bao vây, tấn công huyện lỵ An Biên. Cuộc tấn công huyện lỵ An Biên giành thắng lợi, bắt gọn quận trưởng và quận phó, tiêu diệt một số lính, thu nhiều vũ khí.
Trên đà thắng lợi, ngày 1-3-1954, tiểu đoàn 307 bộ đội Khu phối hợp với đại đội 552 bộ đội địa phương tỉnh cùng lực lượng bộ đội địa phương và dân quân du kích An Biên mở đợt hoạt động 15 ngày để giải phóng huyện An Biên. Mở đầu đợt hoạt động, bộ đội tập trung hỏa lực bao vây đồn chính của chi khu An Biên cùng hệ thống tháp canh từ chợ Thư Ba đến Xẻo Rô. Quân dân ta vừa kết hợp tấn công vũ trang, phục kích tiêu diệt lực lượng chi viện; vừa kết hợp địch vận, kêu gọi binh lính rời ngũ trở về; huy động lực lượng đông đảo của quần chúng nhân dân tiến vào, san phẳng đồn An Biên; giải phóng hệ thống đồn bót, tháp canh từ chợ Thứ Ba ra Xẻo Rô. Trong tháng 3-1954, quân dân An Biên sát cánh cùng bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương tỉnh tiếp tục phục kích địch trên đường hành quân tiếp viện, truy kích địch tháo chạy. Đến cuối tháng 3-1954, đồn Xẻo Rô bị hạ, quận trưởng Lâm Quang Thiệp bị bắt, huyện An Biên hoàn toàn giải phóng. Tính trên toàn Nam Bộ, huyện Hồng Dân, tỉnh Bạc Liêu được giải phóng sớm nhất, từ năm 1948 và An Biên là huyện được giải phóng sớm thứ hai.
 Sau khi huyện An Biên được giải phóng, Trung ương Cục miền Nam, Bộ tư lệnh Phân Liên khu miền Tây chủ trương mở đợt hoạt động nhằm mở rộng vùng giải phóng ra khu vực Nam sông Cái Lớn, phối hợp với chiến trường chính Điện Biên Phủ. Quân dân Tây Nam Bộ tiến công địch, bức rút nhiều đồn bót, tháp canh, giải phóng nhiều địa bàn. Đến cuối tháng 4 -1954, chỉ tính riêng quân dân tỉnh Bạc Liêu đã loại khỏi vòng chiến đấu gần 1.000 địch; xóa sổ một tiểu đoàn quân ngụy... tiêu diệt và bức hàng, bức rút hàng chục đồn địch. Chỉ trong vài tháng đẩy mạnh phối hợp với chiến trường chính, tại miền Tây Nam Bộ, bên cạnh những thành tích tiêu diệt, tiêu hao sinh lực địch, đã chuyển hơn 60 xã vùng tạm chiếm thành vùng du kích7.
Các đợt hoạt động tích cực phối hợp với chiến trường chính trong Đông Xuân 1953-1954 và Điện Biên Phủ đã bừng lên khí thế đấu tranh mạnh mẽ của cán bộ, đảng viên, chiến sĩ và nhân dân miền Tây Nam Bộ. Với những kết quả đạt được, nhân dân Tây Nam Bộ đã góp phần tạo thêm chuyển biến tích cực, có lợi cho kháng chiến. Khu căn cứ Cà Mau được giữ vững; vùng giải phóng mở rộng, nhân dân phấn khởi tin tưởng vào thắng lợi của cuộc kháng chiến.
Tại Hội nghị quân, dân, chính, Đảng toàn Nam Bộ, tổng kết đợt hoạt động phối hợp với chiến trường chính trong Đông -
Xuân 1953-1954 và Chiến dịch Điện Biên Phủ, Trung ương Cục miền Nam nhận định: quân dân ta trên toàn Nam Bộ hoạt động mạnh và đồng đều; phong trào du kích chiến tranh phát triển, sức hoạt động của ta ngày càng mạnh. Đảng bộ, quân và dân Tây Nam Bộ đã góp phần xứng đáng làm nên chiến thắng chung của nhân dân Nam Bộ. Từ thực tế chiến trường trong vùng địch kiểm soát chặt, hoạt động quân sự khó khăn, việc đẩy mạnh hoạt động địch vận, vũ trang tuyên truyền mang lại hiệu quả cao, khẳng định sự lãnh đạo đúng đắn của Trung ương Cục miền Nam đối với các địa phương Nam Bộ.



 Ngày nhận bài 5/8/2023; ngày thẩm định 25/8/2023; ngày duyệt đăng 30/8/2023
1, 2. Bộ Tư Lệnh Nam Bộ: “Nghị quyết quân sự cho toàn Nam Bộ 1952”, Tài liệu lưu tại Viện Lịch sử Đảng
3. Đảng Lao Động Việt Nam, Phân cục Trung ương miền Nam: “Báo cáo số 1645/ CG ngày 26-12-1952 về tình hình Nam Bộ”, Tài liệu lưu tại Viện Lịch sử Đảng
4. Trung ương Cục miền Nam: “Chỉ thị số 10/CT- TWC ngày 20-3-1953, Về kế hoạch thi hành Nghị quyết của TWC về công tác trong vùng du kích và tạm bị chiếm”, Tài liệu Viện Lịch sử Đảng, tr.2
5. Trung ương Cục miền Nam: “Nghị quyết Hội nghị địch, nguỵ vận toàn Nam Bộ ngày 29-8-1953”, Tài liệu lưu tại Viện Lịch sử Đảng
6. Trung ương Cục miền Nam: “Nghị quyết Hội nghị địch, nguỵ vận toàn Nam Bộ ngày 29-8-1953”, Tài liệu lưu tại Viện Lịch sử Đảng
7. Võ Quang Anh: “Tài liệu về thời kỳ Lịch sử kháng chiến chống Pháp ở Tây Nam Bộ”, 1997, Hồi ký, tư liệu nhân chứng lịch sử