Tóm tắt: Thực tế áp bức dân tộc ở nước Nga Sa hoàng nói riêng và hệ thống thuộc địa của chủ nghĩa đế quốc nói chung là bối cảnh lịch sử các quan điểm của V.I.Lênin về đoàn kết dân tộc và đoàn kết quốc tế. V.I.Lênin chỉ ra hai xu hướng khách quan của quan hệ dân tộc, cương lĩnh mác xít về vấn đề dân tộc, trong đó tinh thần cốt lõi là bình đẳng, tự quyết, đoàn kết các dân tộc và quốc tế, đoàn kết giai cấp công nhân các nước và các dân tộc bị áp bức trong phong trào cách mạng… Sự ra đời của nhà nước Liên bang Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Xô viết, mở ra bước phát triển mới cho đoàn kết dân tộc và đoàn kết quốc tế. Từ đó, sự ủng hộ, giúp đỡ của các nước xã hội chủ nghĩa đã thúc đẩy nhanh phong trào giải phóng dân tộc... Ngày nay, trong công cuộc đổi mới ở Việt Nam, những quan điểm của V.I.Lênin về đoàn kết dân tộc và đoàn kết quốc tế vẫn còn ý nghĩa lớn lao.
1. Trong di sản của V.I.Lênin, đoàn kết dân tộc1 và đoàn kết quốc tế là những nội dung lý luận quan trọng, góp phần phát triển chủ nghĩa Mác trong thời đại ĐQCN.
Cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, bước vào thời đại ĐQCN, thực tiễn về vấn đề dân tộc ở nước Nga và thế giới đã tác động rất lớn đến V.I.Lênin. Nước Nga Sa hoàng là “nhà tù của các dân tộc”. Chủ nghĩa Đại Nga đã đẩy mâu thuẫn dân tộc ở Nga lên cao và cùng với các mâu thuẫn thời đại khác đã dần biến quốc gia này thành “khâu yếu” trong sợi dây chuyền TBCN, và đến độ cách mạng vô sản Tháng Mười đã nổ ra và thắng lợi (1917). Còn rộng ra, cả thế giới tư bản, trên cái nền áp bức giai cấp, bóc lột lao động nên bất bình đẳng dân tộc là phổ biến, nhất là ở các nước thuộc địa, tinh thần tự do, bình đẳng, bác ái... trong cách mạng dân chủ đã trở thành “trừu tượng hoặc hình thức”. V.I.Lênin viết rằng: “Chế độ dân chủ tư sản, do bản chất của nó, vốn có cái lối đặt vấn đề một cách trừu tượng hoặc hình thức về quyền bình đẳng nói chung, trong đó bao gồm cả quyền dân tộc bình đẳng. Nấp dưới hình thức quyền bình đẳng của cá nhân nói chung, chế độ dân chủ tư sản tuyên bố quyền bình đẳng hình thức hoặc quyền bình đẳng trên pháp luật giữa kẻ hữu sản và người vô sản, giữa kẻ bóc lột và người bị bóc lột, do đó đã làm cho những giai cấp bị áp bức bị lừa dối một cách ghê gớm. Ý niệm bình đẳng-bản thân nó chỉ là sự phản ánh những quan hệ sản xuất hàng hóa-đã bị giai cấp tư sản biến thành một vũ khí đấu tranh chống lại việc thủ tiêu giai cấp dưới chiêu bài của quyền bình đẳng tuyệt đối của cá nhân”2.
Từ đó, trên cơ sở phương pháp luận mácxít, V.I.Lênin đã phát hiện và khái quát “hai xu hướng lịch sử” trong vấn đề dân tộc, nảy sinh một cách khách quan trong quá trình phát triển của TBCN: “Xu hướng thứ nhất là: sự thức tỉnh của đời sống dân tộc và của các phong trào dân tộc, cuộc đấu tranh chống mọi ách áp bức dân tộc, việc thiết lập các quốc gia dân tộc. Xu hướng thứ hai là: việc phát triển và tăng cường đủ mọi thứ quan hệ giữa các dân tộc, việc xóa bỏ những hàng rào ngăn cách các dân tộc và việc thiết lập sự thống nhất quốc tế của tư bản, của đời sống kinh tế nói chung, của chính trị, của khoa học, v.v...”3.
V.I.Lênin giải thích thêm về hai xu hướng, đồng thời nêu lên quan điểm mác xít đối với hai xu hướng này, mà Người gọi là “Cương lĩnh dân tộc của những người mác xít”: “Cả hai xu hướng đó là quy luật phổ biến của chủ nghĩa tư bản. Xu hướng thứ nhất chiếm ưu thế trong lúc chủ nghĩa tư bản mới bắt đầu phát triển, xu hướng thứ hai là đặc trưng của chủ nghĩa tư bản đã già cỗi và sắp chuyển thành xã hội xã hội chủ nghĩa. Cương lĩnh dân tộc của những người mác-xít chú ý đến cả hai xu hướng đó, thứ nhất bằng cách bảo vệ quyền bình đẳng giữa các dân tộc và bình đẳng giữa các ngôn ngữ và chống lại bất cứ đặc quyền nào về mặt đó (và bằng cách bảo vệ cả quyền dân tộc tự quyết mà chúng tôi sẽ nói ở đoạn sau); thứ hai, bằng cách bảo vệ nguyên tắc chủ nghĩa quốc tế và nguyên tắc đấu tranh không nhân nhượng chống tình trạng giai cấp vô sản bị tiêm nhiễm chủ nghĩa dân tộc tư sản, dù là chủ nghĩa dân tộc tư sản tinh vi nhất”4.
“Cương lĩnh dân tộc của những người mác xít” (Cương lĩnh dân tộc mác xít) nêu trên có ba nội dung cơ bản, đó là: quyền bình đẳng giữa các dân tộc; quyền tự quyết giữa các dân tộc; chủ nghĩa quốc tế là nguyên tắc. Các nội dung này không chỉ là cơ sở lý luận để giải quyết đúng đắn hai xu hướng của vấn đề dân tộc mà còn của các vấn đề dân tộc nói chung, trong đó có đoàn kết dân tộc và đoàn kết quốc tế (giữa các quốc gia dân tộc-nation).
Cũng theo V.I.Lênin, quyền bình đẳng dân tộc chỉ có thể đầy đủ trong điều kiện các dân tộc được tự do, thoát khỏi áp bức, bóc lột; quyền tự quyết dân tộc chỉ có thể hợp lý trên cơ sở tự nguyện của nhân dân các dân tộc chứ không phải bằng con đường bạo lực. V.I.Lênin diễn đạt vấn đề này rằng: “...xã hội chúng tôi là kẻ thù của mọi thứ chủ nghĩa dân tộc và là những người tán thành chế độ tập trung dân chủ. Chúng tôi là kẻ thù của chủ nghĩa biệt lập; chúng tôi tin chắc rằng, với những điều kiện như nhau, thì so với các nước nhỏ, các nước lớn có thể giải quyết một cách thành công hơn nhiều đối với những nhiệm vụ của sự tiến bộ kinh tế và của cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản chống giai cấp tư sản. Nhưng chúng tôi chỉ tôn trọng mối liên hệ tự nguyện chứ không bao giờ tôn trọng mối liên hệ cưỡng bức. Bất cứ nơi nào chúng tôi thấy có những mối liên hệ cưỡng bức giữa các dân tộc là chúng tôi bảo vệ một cách vô điều kiện và kiên quyết quyền của mỗi dân tộc được quyết định vận mệnh chính trị của mình, nghĩa là quyền phân lập, tuy rằng chúng tôi không mảy may tuyên truyền việc mỗi dân tộc đều nhất định phải tách riêng.
Bảo vệ, tuyên truyền, thừa nhận quyền đó tức là bảo vệ quyền dân tộc bình đẳng, bác bỏ những mối liên hệ cưỡng bức, đấu tranh chống mọi đặc quyền về mặt nhà nước của bất cứ dân tộc nào, cũng tức là giáo dục cho công dân các dân tộc khác nhau tình đoàn kết giai cấp hoàn chỉnh.
Tình đoàn kết giai cấp của công nhân các dân tộc khác nhau sẽ được tăng cường thêm nhờ sự thay thế những mối liên hệ cưỡng bức, phong kiến, quân sự bằng những mối liên hệ tự nguyện”5.
Do vậy, vấn đề dân tộc phải gắn với cách mạng, Đảng Cộng sản phải lãnh đạo giai cấp công nhân và nhân dân lao động đoàn kết trong cuộc đấu tranh giành chính quyền, lật đổ ách thống trị của phong kiến, tư sản. V.I.Lênin gọi đó là “nhiệm vụ cơ bản của mình”. Người viết: “Theo đúng nhiệm vụ cơ bản của mình-là đấu tranh chống chế độ dân chủ tư sản và vạch trần sự dối trá và sự giả nhân giả nghĩa của nó, - đảng cộng sản, người đại diện tự giác của cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản nhằm lật đổ ách thống trị của giai cấp tư sản, ngay cả trong vấn đề dân tộc, phải đặt lên hàng đầu không phải là những nguyên tắc trừu tượng hoặc hình thức, mà, thứ nhất, là sự đánh giá đúng tình hình lịch sử cụ thể, và trước hết, là tình hình kinh tế; thứ hai, là sự phân biệt rõ rệt lợi ích của giai cấp bị áp bức, của những người lao động, của những người bị bóc lột, với cái khái niệm chung về lợi ích của nhân dân nói chung, nó chỉ biểu hiện những lợi ích của giai cấp thống trị; thứ ba, là phân biệt thật rõ rệt những dân tộc bị áp bức, phụ thuộc, không được hưởng quyền bình đẳng”6.
Dưới sự lãnh đạo của V.I.Lênin và Đảng Cộng sản (b) Nga, các dân tộc đã đoàn kết làm nên thắng lợi Cách mạng Tháng Mười vĩ đại (1917). Trong môi trường mới là CNXH hiện thực, ở một đất nước có hàng trăm dân tộc và các dân tộc đã từng bị áp bức và phân biệt đối xử trong chế độ Đại Nga của Sa hoàng, nên Đảng Cộng sản Nga, trong chính sách dân tộc, vẫn phải nhấn mạnh đến quyền tự quyết, quyền bình đẳng dân tộc để đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhau trong xây dựng và bảo vệ nước Nga Xô viết non trẻ. V.I.Lênin chỉ rõ: “Trong vấn đề dân tộc, chính sách của Đảng Cộng sản Nga, không phải là tuyên bố theo kiểu dân chủ tư sản về sự bình đẳng giữa các dân tộc-một sự bình đẳng không thể thực hiện được dưới chủ nghĩa đế quốc, - mà là triệt để làm cho những người vô sản và quần chúng lao động thuộc mọi dân tộc gần gũi và gắn bó với nhau trong cuộc đấu tranh cách mạng của họ nhằm lật đổ giai cấp tư sản, Sự nghi kỵ đối với người Đại Nga, do thời đế quốc Đại Nga của Nga hoàng và của giai cấp tư sản để lại, tiêu tan nhanh chóng trong quần chúng lao động thuộc các dân tộc trước kia nằm trong đế quốc chủ nghĩa Nga, nó tiêu tan khi quần chúng đó tiếp xúc với nước Nga Xô viết, tuy rằng trong một số dân tộc và trong một số tầng lớp lao động, thì chưa phải là nó đã biến mất hẳn. Bởi vậy, đối với vấn đề tình cảm dân tộc, cần phải hết sức thận trọng, phải quan tâm đặc biệt đến việc bảo đảm thực sự quyền bình đẳng và quyền tự do phân lập của các dân tộc, để chặt hết gốc rễ của sự nghi kỵ ấy và làm cho các nước Cộng hòa Xô viết của mọi dân tộc kết thành một khối liên minh hết sức chặt chẽ và tự nguyện. Cần phải tăng cường giúp đỡ các dân tộc chậm tiến và nhỏ yếu bằng cách giúp cho công nhân và nông dân thuộc mỗi dân tộc có tổ chức độc lập riêng của họ, giáo dục họ trong cuộc đấu tranh chống ách áp bức có tính chất trung cổ và tư sản; cũng phải giúp cho việc phát triển ngôn ngữ và văn học của những dân tộc bị áp bức từ trước tới nay, hoặc của những dân tộc trước kia vốn ở vào địa vị bất bình đẳng”7.
Quyền tự quyết và bình đẳng chính đáng của các dân tộc, suy cho cùng là để đảm bảo lợi ích trong phát triển của các dân tộc. Lợi ích dân tộc được đáp ứng và hài hòa hợp lý giữa các dân tộc là nền tảng để đoàn kết, hợp tác dân tộc. Từ thực tiễn những năm đầu xây dựng nước Nga Xô viết,V.I.Lênin viết về tầm quan trọng của vấn đề lợi ích dân tộc: “Chúng tôi cho rằng không những chỉ riêng lợi ích của độc lập dân tộc mới đòi hỏi như vậy. Kinh nghiệm năm năm qua của chúng tôi trong việc giải quyết vấn đề dân tộc ở trong một nước gồm có rất nhiều dân tộc-trong những nước khác khó mà tìm thấy một ví dụ tương tự như thế-đã làm cho chúng tôi hoàn toàn tin rằng thái độ duy nhất đúng đắn đối với lợi ích dân tộc, trong những trường hợp tương tự, là thỏa mãn đến mức tối đa những lợi ích đó và tạo ra những điều kiện có thể loại trừ được những sự xung đột về mặt đó. Kinh nghiệm của chúng tôi cho phép chúng tôi tin tưởng sắt đá rằng chỉ có một sự quan tâm lớn lao đến lợi ích của các dân tộc khác nhau thì mới loại trừ được nguồn gốc của mọi sự xung đột, mới trừ bỏ được lòng nghi ngờ lẫn nhau, mới trừ bỏ được nguy cơ gây ra những mưu đồ nào đó, mới tạo ra được lòng tin, nhất là lòng tin của công nhân và nông dân không nói cùng một thứ tiếng; nếu không có lòng tin đó thì những quan hệ hòa bình giữa các dân tộc cũng như sự phát triển thuận lợi đôi chút của tất cả những gì là quý báu trong nền văn minh hiện đại, đều tuyệt đối không thể có được”8.
Năm 1922, Liên bang Cộng hòa XHCN Xô viết (Liên Xô) ra đời là một phát triển mới của CNXH hiện thực. CNXH hiện thực từ một nước (nước Nga) đã trở thành nhiều nước (Liên Xô). Đây cũng là bước phát triển mới của đoàn kết dân tộc. Đoàn kết dân tộc ở Liên Xô rộng lớn hơn nhiều, vừa mang ý nghĩa quan hệ dân tộc-ethnic, vừa thể hiện sự hợp tác dân tộc-nation. Cũng do vậy, bình đẳng dân tộc, trong Liên bang Cộng hòa XHCN Xô viết có một ý nghĩa to lớn, rất cần được lưu ý. V.I.Lênin viết: “Liên bang là một sự liên hợp những nước bình đẳng với nhau, một sự liên hợp đòi có sự nhất trí chung. Làm sao lại có thể có quyền của một phía đòi phía kia phải nhất trí với mình?”9.
V.I.Lênin cho rằng, một nhiệm vụ hết sức quan trọng là phải tiếp tục củng cố Liên bang Cộng hòa XHCN Xô viết. Người viết: Thứ nhất, phải duy trì và củng cố liên minh các nước cộng hòa XHCN; đối với biện pháp này không thể nghi ngờ gì nữa. Trước hết, khối liên minh của các nước cộng hòa là cần thiết để bảo vệ những thành quả của CNXH khỏi sự xâm phạm của bọn đế quốc; đồng thời, nó còn cần thiết đối với phong trào giải phóng toàn thế giới; Thứ hai, V.I.Lênin đã vạch rõ sự cần thiết phải kết hợp sự lãnh đạo tập trung trong phạm vi cả nước với việc đảm bảo chủ quyền của các nước cộng hòa liên bang, coi đó là một điều kiện bắt buộc để giữ vững tình đoàn kết và tình hữu nghị anh em giữa các dân tộc trong Liên bang Cộng hòa XHCN Xô viết10.
Đoàn kết dân tộc và đoàn kết quốc tế là không thể tách rời nhau. Trong thời kỳ V.I.Lênin, nổi lên vấn đề dân tộc thuộc địa, do vậy, quan điểm quốc tế của V.I.Lênin trước hết là phải đoàn kết giúp đỡ đối với các dân tộc này để thực hiện cách mạng giải phóng dân tộc. V.I.Lênin viết rằng: “Đối với các quốc gia và các dân tộc chậm tiến hơn..., nhất thiết phải có sự giúp đỡ của tất cả các đảng cộng sản đối với phong trào giải phóng dân chủ tư sản của những nước ấy; công nhân của một nước đang thống trị của một dân tộc chậm tiến về mặt thuộc địa hoặc về mặt tài chính phải có nhiệm vụ trước tiên ủng hộc tích cực nhất phong trào giải phóng của dân tộc ấy”11.
Cách mạng vô sản và cách mạng giải phóng dân tộc có quan hệ mật thiết, hỗ trợ lẫn nhau. V.I.Lênin nhấn mạnh rằng: “Không có sự cố gắng tự nguyện tiến tới sự liên minh và sự thống nhất của giai cấp vô sản, rồi sau nữa, của toàn thể quần chúng cần lao thuộc tất cả các nước và các dân tộc trên toàn thế giới thì không thể chiến thắng hoàn toàn chủ nghĩa tư bản được”12. Câu này của V.I.Lênin đã được khái quát thành khẩu hiệu chiến lược nổi tiếng của phong trào cách mạng thế giới: “Vô sản tất cả các nước và các dân tộc bị áp bức đoàn kết lại!”.
Trong sự đoàn kết quốc tế này, nước Nga Xô viết và sau đó là Liên Xô trở thành nòng cốt, là tấm gương, đồng thời, chính qua đó, chủ nghĩa xã hội hiện thực được ủng hộ, bảo vệ. V.I.Lênin cho rằng: “... những sự kiện trong đời sống chính trị thế giới đều không tránh khỏi quy tụ vào một điểm trung tâm, đó là cuộc đấu tranh của giai cấp tư sản toàn thế giới chống nước Cộng hòa Xô viết Nga, là nước tất nhiên tập hợp chung quanh mình, một mặt là các phong trào của công nhân tiên tiến ở tất cả các nước ủng hộ nhà nước Xô viết; và mặt khác là tất cả các phong trào giải phóng dân tộc trong các thuộc địa và trong các dân tộc bị áp bức mà kinh nghiệm đau đớn đã làm cho họ tin chắc rằng đối với họ không có con đường cứu vãn nào khác ngoài sự chiến thắng của chính quyền Xô viết đối với chủ nghĩa đế quốc thế giới”13.
Với sự động viên, nêu gương, giúp đỡ của các nước XHCN, mà các nước “thuộc địa và lạc hậu” có thể “không trải qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa” để đi lên CNXH. Đây là một trong những sự kiện vĩ đại nhất trong thời đại ngày nay. Và “Trong tất cả các nước thuộc địa và các nước lạc hậu, không những chúng ta phải đào tạo những cán bộ độc lập, xây dựng nên những tổ chức đảng, không những phải tiến hành tuyên truyền ngay từ giờ cho việc tổ chức các Xô viết nông dân và cố gắng làm cho các Xô viết đó phù hợp với những hoàn cảnh tiền tư bản chủ nghĩa, mà Quốc tế cộng sản còn phải xác định và chứng minh trên lý luận cho một nguyên tắc là: với sự giúp đỡ của giai cấp vô sản các nước tiên tiến, các nước lạc hậu có thể tiến tới chế độ Xô viết, và qua những giai đoạn phát triển nhất định, tiến tới chủ nghĩa cộng sản, không phải trải qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa”14.
Thực tế lịch sử cách mạng thế giới, nhất là sau Chiến tranh thế giới II, một số nước, trong đó có Việt Nam, đã thực hiện thành công cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, đi lên CNXH. Quá trình cách mạng này, Việt Nam đã được Liên Xô và các nước XHCN giúp đỡ một cách toàn diện, to lớn và có hiệu quả.
2. Ngày nay, trong công cuộc đổi mới ở Việt Nam, những quan điểm của V.I.Lênin về đoàn kết dân tộc, đoàn kết quốc tế vẫn còn có giá trị to lớn.
Trước hết, nội dung Cương lĩnh mác xít về dân tộc cần được vận dụng một cách sáng tạo. Một trong những đặc điểm nổi bật về dân tộc Việt Nam là tình đoàn kết và lòng yêu nước trên cơ sở một quốc gia dân tộc độc lập, thống nhất. Tinh thần này đúng như lời Hồ Chí Minh: Sông có thể cạn, núi có thể mòn, nhưng lòng đoàn kết của chúng ta không bao giờ giảm bớt, “Nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một”15, “Sông có thể cạn, núi có thể mòn, song chân lý ấy không bao giờ thay đổi”16. Do vậy, quyền tự quyết dân tộc ở Việt Nam là giữ vững độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, đồng thời, tôn trọng quyền này của các dân tộc khác.
Là một quốc gia đa dân tộc (tộc người), các dân tộc Việt Nam hiện đang có sự phát triển rất không đồng đều trên nhiều lĩnh vực. Điều này cản trở đến tiến bộ chung của đất nước và sự bình đẳng giữa các dân tộc. Vì thế, quyền bình đẳng dân tộc quan trọng nhất là hướng tới khắc phục dần sự chênh lệch phát triển này bằng những giải pháp phù hợp và phát huy được nội lực của các dân tộc.
Bình đẳng dân tộc cả về quyền lợi và nghĩa vụ. Quyền lợi và nghĩa vụ dân tộc cũng chính là quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân và đã được ghi nhận trong Hiến pháp năm 2013. Vì thế, tiếp tục quán triệt thực hiện tinh thần này trong Hiến pháp là một nhiệm vụ lớn của chính sách dân tộc hiện nay, qua đó hướng tới đại đoàn kết toàn dân tộc.
Đại hội XII (2016) của Đảng nhấn mạnh: “Đại đoàn kết toàn dân tộc là đường lối chiến lược của cách mạng Việt Nam, là động lực và nguồn lực to lớn trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Tăng cường khối đại đoàn kết dân tộc trên nền tảng liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức do Đảng lãnh đạo”17.
Đại đoàn kết toàn dân tộc dựa trên cơ sở giải quyết hài hòa quan hệ lợi ích giữa các thành viên trong xã hội, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân, không ngừng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân, bảo đảm cho mỗi người đều được hưởng thụ những thành quả của công cuộc đổi mới. Trong đó, đoàn kết trong Đảng là hạt nhân, là cơ sở vững chắc để xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc.
Như vậy, chính sách dân tộc và giải quyết các vấn đề dân tộc nói chung hiện nay ở Việt Nam phải luôn quán triệt nguyên tắc cốt lõi mà Đảng Cộng sản Việt Nam nêu ra là: Các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng, giúp đỡ nhau cùng phát triển.
Đoàn kết dân tộc gắn với đoàn kết quốc tế. Theo quan điểm trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) của Đảng, đoàn kết quốc tế trước hết là đoàn kết quốc tế vô sản. Cương lĩnh viết: “Trước sau như một, ủng hộ các đảng cộng sản và công nhân, các phong trào tiến bộ xã hội trong cuộc đấu tranh vì mục tiêu chung của thời đại; mở rộng quan hệ với các đảng cánh tả, đảng cầm quyền và những đảng khác trên cơ sở bảo đảm lợi ích quốc gia, giữ vững độc lập, tự chủ, vì hòa bình, hữu nghị và hợp tác và phát triển”18.
Do vậy, đối ngoại của Việt Nam hiện nay là rộng mở, vừa bảo đảm lợi ích tối cao của quốc gia-dân tộc, trên cơ sở của luật pháp quốc tế, bình đẳng và cùng có lợi, thực hiện nhất quán đường lối độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển; đa dạng hóa, đa phương hóa trong quan hệ đối ngoại; tích cực hội nhập quốc tế; là bạn, là đối tác tin cậy và là thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế.
__________________
1. “Dân tộc” luôn được hiểu với hai nghĩa: rộng (nation) và hẹp (ethnic). Theo V.I.Lênin, tùy điều kiện cụ thể mà Người sử dụng “dân tộc” theo nghĩa nào hoặc thống nhất giữa chúng (nation và ethic), và do vậy, thống nhất giữa đoàn kết dân tộc và đoàn kết quốc tế
2, 6, 11, 12, 13. V.I.Lênin Toàn tập, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva, 1977, T. 41, tr. 198, 198, 203, 206, 200
3, 4. Sđd, T. 24, tr. 158, 158-159
5. Sđd, T. 25, tr. 84
7. Sđd, 1977, T. 38, tr. 116-117
8. Sđd, T. 45, tr. 281
9. Sđd, T. 48, tr. 304
10. Xem Viện Mác-Lênin: Tiểu sử V.I.Lênin, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva, 1985, T. 2, tr. 304
14. V.I.Lênin Toàn tập, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva, 1978, T. 35, tr. 335
15. Hồ Chí Minh Toàn tập, Nxb CTQG, H, 2011, T. 14, tr. 12
16. Sđd, T. 4, tr. 280
17. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nxb CTQG, H, 2016, tr. 158
18. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb CTQG, H, 2011, tr. 84.
PGS, TS PHAN THANH KHÔI
Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh