02/03/2023 - 06:18 PM - 1.617 lượt xem
Tóm tắt: Đề cương về văn hóa Việt Nam (năm 1943) là văn kiện đầu tiên của Đảng về văn hóa, giải quyết những vấn đề cơ bản về tư tưởng, học thuật, về mục tiêu, nhiệm vụ của nền văn hóa đất nước; thể hiện ý chí, nguyện vọng của dân tộc Việt Nam trong quá trình xây dựng nền văn hóa mới, tiến bộ, nhân văn và dân chủ. Đề cương về văn hóa Việt Nam thể hiện tư duy, tầm nhìn chiến lược của Đảng về xây dựng và phát huy sức mạnh của nền văn hóa và con người Việt Nam trong đấu tranh giành độc lập dân tộc, thống nhất đất nước, tạo động lực để toàn Đảng, toàn dân quyết tâm đổi mới, sáng tạo, xây dựng đất nước phồn vinh, hạnh phúc.
1. Giá trị lý luận và thực tiễn của Đề cương về văn hóa Việt Nam
Đề cương về văn hóa Việt Nam (năm 1943) trình bày một cách ngắn gọn, súc tích hệ thống các quan điểm chỉ đạo, tính chất, mục tiêu, phương châm, nguyên tắc xây dựng nền văn hóa dân tộc, mang tầm tư duy lý luận lý luận của Đảng về văn hóa, thể hiện ở những điểm sau:
Một là, Đề cương về văn hóa Việt Nam xác định rõ nội dung, phạm vi, vị trí, vai trò và tầm quan trọng của văn hóa trong cách mạng giải phóng dân tộc và cách mạng XHCN, nêu rõ nội hàm của văn hóa bao gồm cả tư tưởng, học thuật, nghệ thuật; khẳng định vị trí, vai trò, tầm quan trọng của văn hóa đối với sự nghiệp cách mạng của dân tộc:
“a) Mặt trận văn hóa là một trong ba mặt trận (kinh tế, chính trị, văn hóa) ở đó người cộng sản phải hoạt động.
b) Không phải chỉ làm cách mạng chính trị mà còn phải làm cách mạng văn hóa nữa.
c) Có lãnh đạo được phong trào văn hóa Đảng mới ảnh hưởng được dư luận, việc tuyên truyền của Đảng mới có hiệu quả”1.
Hai là, trên cơ sở thế giới quan, nhân sinh quan và phương pháp luận biện chứng duy vật, Đề cương về văn hóa Việt Nam đã luận giải sâu sắc tình hình tư tưởng, văn hóa, xã hội Việt Nam những năm đầu thế kỷ XX, chỉ ra những tác động tiêu cực của cuộc Chiến tranh thế giới II cũng như tội ác của phát xít Nhật và thực dân Pháp và bè lũ bọn tay sai, bán nước. Đề cương chỉ rõ bản chất, âm mưu, thủ đoạn dã man, tàn ác của phát xít Nhật và thực dân Pháp trong việc trói buộc và bức tử nền văn hóa dân tộc; cảnh báo nguy cơ văn hóa Việt Nam có thể bị diệt vong, bị đồng hóa bởi văn hóa thực dân, phát xít. Đề cương chỉ rõ, nhiệm vụ cần kíp của Đảng là phải đập tan mọi âm mưu, thủ đoạn thâm độc của thực dân và bè lũ tay sai, cứu nước, giành độc lập, bảo vệ các giá trị văn hóa dân tộc, phẩm giá, nhân cách con người Việt Nam. Đề cương khẳng định, cách mạng nhất định thắng lợi, văn hóa Việt Nam sẽ cởi bỏ được xiềng xích, đuổi kịp văn hóa mới, tiến bộ trên thế giới. Muốn vậy, “Phải hoàn thành cách mạng văn hóa mới hoàn thành được cuộc cải tạo xã hội”2 và “Cách mạng vǎn hóa muốn hoàn thành phải do Đảng Cộng sản Đông Dương lãnh đạo”3 .
Ba là, Đề cương về văn hóa Việt Nam chỉ rõ: để thực hiện cuộc cách mạng văn hóa ở nước ta, phải nắm vững ba nguyên tắc vận động là: dân tộc hóa, đại chúng hóa và khoa học hóa. Trong đó, dân tộc hóa là chống mọi ảnh hưởng nô dịch và thuộc địa, giúp nền vǎn hóa Việt Nam dân tộc phát triển độc lập. Tính dân tộc của văn hóa là sự khẳng định tinh thần ý chí độc lập, tự cường của dân tộc trong lĩnh vực văn hóa. Đó là truyền thống yêu nước, cần cù, dũng cảm, đoàn kết, thương người... những điểm tốt đẹp nhất trong tâm hồn và tính cách Việt Nam được hun đúc từ hàng nghìn năm lịch sử dựng nước và giữ nước. Đại chúng hóa là chống mọi hành động làm cho vǎn hóa phản lại hoặc xa rời đông đảo quần chúng; con người phải là trung tâm, là chủ thể của các hoạt động văn hóa. Trong bối cảnh lúc bấy giờ, để đoàn kết, tạo ra sức mạnh to lớn của nhân dân, văn hóa đóng vai trò then chốt. Khi khơi dậy và phát huy được tinh thần yêu nước trong các tầng lớp nhân dân thì độc lập dân tộc trở thành một điều tất yếu. Vì thế, văn hóa yêu nước được tạo ra bởi quần chúng nhân dân, nuôi dưỡng bởi quần chúng nhân dân. Do vậy, chăm sóc, xây dựng văn hóa cho nhân dân trở thành nhiệm vụ xuyên suốt của cách mạng Việt Nam. Khoa học hóa là chống lại tất cả những cái gì làm cho vǎn hóa trái khoa học, phản tiến bộ; bảo tồn, chắt lọc những nét đẹp truyền thống dân tộc; đồng thời, chống lại những cũ kỹ, lạc hậu, mê tín dị đoan. Trong thời kỳ phong kiến và thực dân, nhiều phong tục, tập quán lạc hậu, không phù hợp đã kéo lùi sự phát triển của lịch sử dân tộc. Vì vậy, việc thay đổi nhận thức, thói quen, lối sống sẽ tạo ra nguồn lực giải phóng dân tộc, phát triển đất nước.
Ba nguyên tắc trên vừa đề cập đến hiện trạng nền văn hóa dân tộc, vừa chỉ ra phương hướng xây dựng, phát triển nền văn hóa mới. Đó là nền văn hóa được xây dựng từ sức sáng tạo bền bỉ của nhân dân; thuộc về nhân dân, do nhân dân là chủ thể sáng tạo, trao truyền và gìn giữ, phát huy. Các nguyên tắc đó có quan hệ hữu cơ với nhau. Tuy nhiên, “Muốn cho ba nguyên tắc trên đây thắng, phải kịch liệt chống những xu hướng văn hóa bảo thủ, chiết trung, lập dị, bi quan, thần bí, duy tâm,... Nhưng đồng thời cũng phải chống xu hướng văn hóa quá trớn của bọn tờrốtkít”4. Các nguyên tắc trên đã đáp ứng kịp thời các nhu cầu cấp thiết của lịch sử. Nền văn hóa đó phải bám rễ vào cội nguồn lịch sử; không ngừng tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại để bồi đắp và làm giàu đẹp, phong phú thêm bản sắc văn hóa dân tộc; từ đó, định hướng, tập hợp, đưa đội ngũ trí thức tham gia vào sự nghiệp cách mạng của dân tộc. Đề cập đến tính chất của nền văn hóa mới do Đảng Cộng sản Đông Dương lãnh đạo, Đề cương nhấn mạnh: Đó chưa phải là văn hóa xã hội chủ nghĩa hay văn hóa Xôviết mà là “một thứ văn hóa có tinh chất dân tộc về hình thức và tân dân chủ về nội dung”5.
Bốn là, đ? ??t n?n m?ng v? ??nh h??ng x?y d?ng m?t n?n v?n h?a m?i, ??ng ch? tr??ng ể đặt nền móng và định hướng xây dựng một nền văn hóa mới, Đảng chủ trương tiến hành tổng hợp các biện pháp công khai và bí mật, với nhiều hình thức khác nhau; đồng thời, kết hợp chặt chẽ, nhuần nhuyễn hai nhiệm vụ “xây” và “chống”. Đề cương nhấn mạnh, nhiệm vụ cần kíp của những nhà văn hóa mácxít là phải chống lại văn hóa phát xít, phong kiến, nô dịch, ngu dân, lừa phỉnh nhân dân; phát huy văn hóa dân chủ thông qua việc tranh đấu bảo vệ chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, tranh đấu về tông phái văn nghệ, tranh đấu về tiếng nói, chữ viết, thống nhất và làm giàu thêm tiếng nói, xác định phong cách văn hóa Việt Nam, cải cách chữ quốc ngữ...
Đề cương về văn hóa Việt Nam là văn kiện đặt nền móng, mở đường cho việc phát triển tư duy lý luận văn hóa cách mạng ở Việt Nam, là ngọn cờ tập hợp, cổ vũ giới trí thức, văn nghệ sĩ nước nhà hăng hái tham gia sự nghiệp cách mạng do Đảng lãnh đạo.
Cùng với những giá trị lý luận, Đề cương về văn hóa Việt Nam có giá trị thực tiễn sâu sắc. Đề cương có tác dụng soi đường, chỉ lối và định hướng tư tưởng, nhận thức, phương châm hoạt động văn hóa, văn nghệ cho toàn Đảng, toàn dân và cuộc đấu tranh cách mạng ở Việt Nam; có sức lôi cuốn, thuyết phục và tập hợp đông đảo những người hoạt động văn hóa yêu nước Việt Nam vào Hội Văn hóa cứu quốc, một thành viên của Mặt trận Việt Minh; khai sinh và phát triển nền “vǎn hóa xã hội chủ nghĩa” ở nước ta.
Những quan điểm, định hướng về xây và phát triển nền văn hóa mới Việt Nam mà Đề cương về văn hóa Việt Nam nêu ra đã khơi dậy ý thức tự tôn, tự hào dân tộc và tinh thần yêu nước được đúc kết từ hàng nghìn năm lịch sử và trách nhiệm của mỗi người dân Việt Nam đối với sứ mệnh giải phóng dân tộc. Nhờ vậy, đã quy tụ và nhân lên sức mạnh toàn dân tộc đứng lên “đem sức ta mà giải phóng cho ta”, giành thắng lợi trong Cách mạng Tháng Tám năm 1945, mở ra kỷ nguyên mới trong lịch sử dân tộc - kỷ nguyên độc lập, tự do và CNXH. Phát huy sức mạnh văn hóa và con người Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, tại Hội nghị Văn hóa toàn quốc lần thứ hai, năm 1948, Tổng Bí thư Trường-Chinh công bố tác phẩm Chủ nghĩa Mác và văn hóa Việt Nam, với nội dung cơ bản là xây dựng “nền văn hóa mới Việt Nam phải theo ba nguyên tắc dân tộc hóa, khoa học hóa, đại chúng hóa”6.
Trên cơ sở chiến lược văn hóa đó, “văn hóa - văn nghệ là một mặt trận”, “văn nghệ sĩ là chiến sĩ trên mặt trận ấy”. Khẩu hiệu hành động là: Kháng chiến hóa văn hóa và văn hóa hóa kháng chiến. Thực hiện phương châm đó, trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, với quyết tâm “... thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ” và tinh thần “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”, sau 30 năm trường kỳ kháng chiến, dân tộc Việt Nam đã lần lượt đánh bại các chiến lược quân sự của kẻ thù, hoàn thành nhiệm vụ giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước.
Thắng lợi vĩ đại của dân tộc Việt Nam trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, đế quốc Mỹ xâm lược và cuộc chiến đấu bảo vệ Tổ quốc không chỉ là thắng lợi của đường lối chính trị, quân sự đúng đắn mà còn là thắng lợi của chủ nghĩa yêu nước và những giá trị tinh thần cao đẹp của con người Việt Nam, văn hóa Việt Nam. Nhờ đường lối văn hóa, văn nghệ đúng đắn, sáng tạo của Đảng mà qua hai cuộc kháng chiến, dân tộc Việt Nam đã xây dựng được một nền văn hóa cung cấp đủ năng lượng tinh thần cho hàng triệu con người Việt Nam trở thành những chiến sĩ xả thân vì lý tưởng “Không có gì quý hơn độc lập tự do”. Trên nền văn hóa ấy, văn học - nghệ thuật Việt Nam xứng đáng đứng vào hàng ngũ tiên phong của những nền văn học, nghệ thuật chống đế quốc và phong kiến.
2. Phát huy giá trị của Đề cương về văn hóa Việt Nam trong xây dựng đường lối văn hóa của Đảng thời kỳ đổi mới
Kế thừa và phát triển những giá trị của Đề cương về văn hóa Việt Nam trong thời kỳ xây dựng CNXH, đặc biệt là thời kỳ đổi mới, Đảng không ngừng bổ sung, phát triển tư duy lý luận và đường lối văn hóa, nhằm đưa văn hóa phục vụ trực tiếp công cuộc xây dựng và phát triển đất nước trong bối cảnh mới. Sự bổ sung, phát triển tư duy lý luận và đường lối văn hóa được thể hiện ở những điểm sau:
Thứ nhất, khẳng định vị trí, tầm quan trọng của văn hóa đối với sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước.
Trên cơ sở quan niệm “Phải hoàn thành cách mạng văn hóa thì mới hoàn thành được cuộc cải tạo xã hội” trong Đề cương về văn hóa Việt Nam, đến Đại hội IV (1976) của Đảng đã xác định: cách mạng tư tưởng - văn hóa là động lực. Tiếp đó, ngày 28-11-1987, Bộ Chính trị ra Nghị quyết số 05/NQ-TW “về đổi mới và nâng cao trình độ lãnh đạo, quản lý văn học, nghệ thuật và văn hóa, phát huy khả năng sáng tạo đưa văn học, nghệ thuật và văn hóa phát triển lên một bước mới”, khẳng định: Văn hóa là một bộ phận trọng yếu của cuộc cách mạng tư tưởng văn hóa, là một lực lượng mạnh mẽ, đồng thời là mục tiêu lớn trong sự nghiệp xây dựng CNXH. Đây là nghị quyết chuyên đề đầu tiên bàn về văn hóa trong thời kỳ đổi mới, thể hiện sự đổi mới trong nhận thức của Đảng về vị trí, tầm quan trọng của văn hóa đối với sự nghiệp đổi mới đất nước.
Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương khóa VII (1-1993) ra Nghị quyết số 04-NQ/TW “về một số nhiệm vụ văn hóa, văn nghệ những năm trước mắt” nhấn mạnh: “Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, một động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội, đồng thời một mục tiêu của chủ nghĩa xã hội”7. Tiếp đó, HNTƯ 5 khóa VIII nhấn mạnh: Xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiến tiến, đậm đà bản sắc dân tộc vừa là động lực, vừa là mục tiêu của sự phát triển kinh tế - xã hội.
Sau gần 30 năm tiến hành công cuộc đổi mới, HNTƯ 9, khóa XI ra Nghị quyết số 33-NQ/TW, ngày 9-6-2014 về “Xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững của đất nước”. Nghị quyết xác định: Xây dựng nền văn hóa thực sự trở thành nền tảng tinh thần vững chắc của xã hội, là sức mạnh nội sinh quan trọng bảo đảm sự phát triển bền vững và bảo vệ vững chắc Tổ vì mục tiêu: dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.
Đại hội XIII (2021) của Đảng xác định: “Lấy giá trị văn hóa, con người Việt Nam làm nền tảng, sức mạnh nội sinh quan trọng bảo đảm sự phát triển bền vững”8. Để xây dựng đất nước phồn vinh, hạnh phúc, cần tạo môi trường và điều kiện xã hội thuận lợi nhất để phát triển văn hóa- nền tảng tinh thần của xã hội, phát huy giá trị văn hóa, sức mạnh con người Việt Nam. Trong bài viết nhân dịp kỷ niệm 131 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19-5-1890 - 19-5-2021), Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng khẳng định: “Chúng ta coi văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, sức mạnh nội sinh, động lực phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc; xác định phát triển văn hóa đồng bộ, hài hòa với tăng trưởng kinh tế và tiến bộ, công bằng xã hội là một định hướng căn bản của quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam”9.
Thứ hai, mở rộng nội hàm văn hóa và xác định tính chất, phướng hướng phát triển nền văn hóa dân tộc trong bối cảnh mới.
Từ quan niệm, văn hóa bao gồm: tư tưởng, học thuật, nghệ thuật của Đề cương về văn hóa Việt Nam, trong quá trình bổ sung, phát triển đường lối văn hóa, Đảng mở rộng nội hàm văn hóa bao gồm: tư tưởng, đạo đức, lối sống, khoa học, giáo dục - đào tạo, thông tin đại chúng, văn học - nghệ thuật, tôn giáo, tín ngưỡng... Từ chỗ xác định nền văn hóa mới với các tính chất: dân tộc, khoa học, đại chúng, đến Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ V (1982) của Đảng xác định nền văn hóa “có nội dung xã hội chủ nghĩa và tính dân tộc, có tính đảng và tính nhân dân sâu sắc”. Nghị quyết HNTƯ 5 khóa VIII chỉ rõ: Tiếp thu những tinh hoa văn hóa nhân loại, xây dựng một xã hội dân chủ, văn minh vì lợi ích chân chính và phẩm giá con người với trình độ tri thức, đạo đức, thể lực và thẩm mỹ ngày càng cao10.
Tại Đại hội X (2006) của Đảng, với phương châm đẩy mạnh toàn diện sự nghiệp CNH, HĐH đất nước, Đảng chủ trương: “Tiếp tục phát triển sâu rộng và nâng cao chất lượng nền văn hóa Việt Nam tiến tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, gắn chặt và đồng bộ hơn với kinh tế - xã hội, làm cho văn hóa thâm sau vào mọi lĩnh vực của đời sống xã hội”11. Đại hội XI của Đảng (2011) chủ trương: “... xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiến tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, vừa kế thừa, phát huy những truyền thống văn hóa tốt đẹp của cộng đồng các dân tộc Việt Nam, vừa tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại để văn hóa thực sự là nền tảng tinh thần của xã hội”12. Cương lĩnh Xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển năm 2011) được thông qua tại Đại hội XI của Đảng nhấn mạnh: Xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, nâng cao đời sống nhân dân, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội. Tiếp đó, Đại hội XII (2016) của Đảng xác định “Xây dựng nền văn hóa và con người Việt Nam phát triển toàn diện, hướng đến chân - thiện - mỹ, thấm nhuần tinh thần dân tộc, nhân văn, dân chủ và khoa học... ”13.
Trong cuốn sách Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng khẳng định: Nền văn hóa mà chúng ta xây dựng là nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, một nền văn hóa thống nhất trong đa dạng, dựa trên các giá trị tiến bộ, nhân văn; chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh giữ vai trò chủ đạo trong đời sống tinh thần xã hội, kế thừa và phát huy những giá trị truyền thống tốt đẹp của tất cả các dân tộc trong nước, tiếp thu những thành tựu, tinh hoa văn hóa nhân loại, phấn đấu xây dựng một xã hội văn minh, lành mạnh vì lợi ích chân chính và phẩm giá con người.
Ngày 4-6-2020, Bộ Chính trị ra Kết luận số 76-KL/TW về “tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 33-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương khóa XI về Xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước”, trong đó, xác định rõ các nội dung, định hướng lớn: Xây dựng và phát triển văn hóa, con người là nhiệm vụ quan trọng, thường xuyên của cả hệ thống chính trị. Văn hóa là hồn cốt của dân tộc, là nền tảng tinh thần vững chắc của xã hội, là sức mạnh nội sinh quan trọng bảo đảm sự phát triển bền vững và bảo vệ vững chắc Tổ quốc, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.
Thứ ba, khẳng định mối quan hệ hữu cơ giữa xây dựng văn hóa và phát triển con người Việt Nam - sức mạnh mềm của dân tộc để xây dựng đất nước phồn vinh, hạnh phúc
Bước vào thời kỳ đẩy mạnh sự nghiệp CNH, HĐH, cùng với những thành tựu quan trọng trên tất cả các lĩnh vực đời sống xã hội, mặt trái của cơ chế thị trường đã tác động tiêu cực khiến cho các bậc thang giá trị có phần bị đảo lộn, dẫn đến nguy cơ mai một bản sắc dân tộc. Trước tình hình đó, để chấn hưng văn hóa dân tộc, từ ngày 6 đến ngày 16-7-1998, HNTƯ5, khóa VIII ra Nghị quyết về “Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiến tiến, đậm đà bản sắc dân tộc”. Nghị quyết là văn kiện mang tính cương lĩnh của Đảng về văn hóa trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước. Đặc biệt, đây là lần đầu tiên, một nghị quyết chuyên đề về văn hóa của Đảng chú trọng đến xây dựng con người Việt Nam, với 5 đức tính14 nhằm đáp ứng yêu cầu của thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước.
Nhằm nâng cao chất lượng xây dựng văn hóa và phát triển con người Việt Nam, HNTƯ 9 khóa XI (2014) ra Nghị quyết “Về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước”. Hội nghị xác định mục tiêu chung là: Xây dựng nền văn hóa và con người Việt Nam phát triển toàn diện, hướng đến chân - thiện - mỹ, thấm nhuần tinh thần dân tộc, nhân văn, dân chủ và khoa học. Văn hóa là sức mạnh nội sinh quan trọng bảo đảm sự phát triển bền vững và bảo vệ vững chắc Tổ quốc. Phát triển văn hóa vì sự hoàn thiện nhân cách con người và xây dựng con người để phát triển văn hóa. Nghị quyết thể hiện sự phát triển tư duy lý luận của Đảng trong nhận thức về vị trí, vai trò của văn hóa, đặc biệt là yếu tố con người.
Đại hội XII (2016) của Đảng xác định: “Xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện phải trở thành một mục tiêu của chiến lược phát triển. Đúc kết và xây dựng hệ giá trị văn hóa và hệ giá trị chuẩn mực của con người Việt Nam thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế”15. Đại hội nêu ra 7 nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu xây dựng và phát triển văn hóa, trong đó nhấn mạnh: Đặt lên hàng đầu nhiệm vụ xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện, trọng tâm là từng bước xây dựng các chuẩn mực giá trị văn hóa và con người Việt Nam, tạo môi trường và điều kiện để phát triển về nhân cách, đạo đức, trí tuệ, năng lực sáng tạo, thể chất, tâm hồn, trách nhiệm xã hội, nghĩa vụ công dân. Tạo chuyển biến mạnh mẽ về nhận thức, ý thức tôn trọng pháp luật; làm cho mọi người Việt Nam đều hiểu biết sâu sắc, tự hào, tôn vinh lịch sử, văn hóa dân tộc; khẳng định, tôn vinh cái đúng, cái tốt đẹp, tích cực, cao thượng; nhân rộng các giá trị cao đẹp, nhân văn. Đấu tranh phê phán, đẩy lùi cái xấu, cái ác, thấp hèn, lạc hậu; chống các quan điểm, hành vi sai trái, tiêu cực ảnh hưởng xấu đến xây dựng nền văn hóa, làm tha hóa con người; ngăn chặn và đẩy lùi sự xuống cấp về đạo đức xã hội, khắc phục những mặt hạn chế của con người Việt Nam.
Tiếp đó, Đại hội XIII của Đảng chỉ ra rằng, để xây dựng đất nước phồn vinh, hạnh phúc, cần tạo môi trường và điều kiện xã hội thuận lợi nhất để phát triển văn hóa- nền tảng tinh thần của xã hội, phát huy giá trị văn hóa, sức mạnh con người Việt Nam. Đại hội yêu cầu: “Tập trung nghiên cứu, xác định và triển khai xây dựng hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa và chuẩn mực con người gắn với giữ gìn, phát triển hệ giá trị gia đình Việt Nam trong thời kỳ mới. Quan tâm chăm lo công tác giáo dục, bồi dưỡng và bảo vệ trẻ em, thiếu niên, nhi đồng. Tăng cường giáo dục lòng yêu nước, lòng tự hào dân tộc, truyền thống và lịch sử dân tộc, ý thức trách nhiệm xã hội cho các tầng lớp nhân dân, nhất là thanh niên”16.
Đề cập đến tầm quan trọng của việc xây dựng và hình thành nhân cách con người Việt Nam, đáp ứng yêu cầu của công cuộc đổi mới, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh: Con người giữ vị trí trung tâm trong chiến lược phát triển; phát triển văn hóa, xây dựng con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của công cuộc đổi mới ... là tiêu chí để phát triển bền vững; xây dựng gia đình hạnh phúc, tiến bộ làm tế bào lành mạnh, vững chắc của xã hội, thực hiện bình đẳng giới là tiêu chí của tiến bộ, văn minh17.
Trải qua các thời kỳ lịch sử, Đảng không ngừng tìm tòi, sáng tạo lý luận về văn hóa gắn liền với sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc XHCN. Trong quá trình đẩy mạnh toàn diện và đồng bộ công cuộc đổi mới, những giá trị tốt đẹp và sức mạnh của nền văn hóa, con người Việt Nam cần được nhận thức đầy đủ, để văn hóa thực sự làm nền tảng tinh thần của xã hội, trở thành sức mạnh nội sinh của dân tộc. 80 năm trôi qua, Đề cương về văn hóa Việt Nam vẫn còn nguyên giá trị lý luận và thực tiễn, tiếp tục “soi đường cho quốc dân đi” để thực hiện thắng lợi mục tiêu xây dựng và phát triển một nước Việt Nam phồn vinh, hạnh phúc.

1, 2, 3, 4, 5. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập, Nxb CTQG ST, H, 2000, T. 7, tr. 316, 318, 318, 319, 320
6. Trường-Chinh: Về văn hóa nghệ thuật, Nxb Văn học, H, 1985, tr. 30
7. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương khóa VII, Nxb ST, H, 1993, tr. 98
8, 16. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb CTQG ST, H, 2021, T. 1, tr. 216, 143
9, 17. Nguyễn Phú Trọng: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, Nxb CTQG ST, H, 2022, tr. 27, 93
10. Xem: Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương khóa VIII, Nxb CTQG, H, 1998
11. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb CTQG, H, 2006, tr. 106
12. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb CTQG ST, H, 2011, tr. 40
13, 15. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Văn phòng Trung ương Đảng, H, 2016, tr. 126-127, 126-127
14. Năm đức tính của con người Việt Nam: 1) Có tinh thần yêu nước, tự cường dân tộc, phấn đấu vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, có chí vươn lên đưa đất nước thoát khỏi nghèo nàn lạc hậu, đoàn kết với nhân dân thế giới trong sự nghiệp đấu tranh vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội. 2)
Có ý thức tập thể, đoàn kết, phấn đấu vì lợi ích chung. 3) Có lối sống lành mạnh, nếp sống văn minh, cần kiệm, trung thực, nhân nghĩa, tôn trọng kỷ cương phép nước, quy ước của cộng đồng; có ý thức bảo vệ và cải thiện môi trường sinh thái. 4) Lao động chăm chỉ với lương tâm nghề nghiệp, có kỹ thuật, sáng tạo, năng suất cao vì lợi ích của bản thân, gia đình, tập thể và xã hội. 5)Thường xuyên học tập, nâng cao hiểu biết, trình độ chuyên môn, trình độ thẩm mỹ và thể lực.