Tóm tắt: Để thực hiện chiến lược “Diễn biến hòa bình”, các thế lực thù địch, phản động không từ một thủ đoạn nào. Một trong những nội dung chúng tập trung chống phá nhiều nhất là xuyên tạc tư tưởng Hồ Chí Minh, phủ nhận giá trị của tư tưởng Hồ Chí Minh đối với dân tộc nhằm tấn công vào nền tảng tư tưởng nhằm phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng. Bài viết đưa ra những luận chứng, luận cứ nhằm vạch trần sự phi lý của những luận điệu xuyên tạc về tư tưởng Hồ Chí Minh, khẳng định giá trị tư tưởng Hồ Chí Minh, khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng trong bối cảnh hiện nay.

Từ khóa: Phản bác; luận điệu xuyên tạc; tư tưởng Hồ Chí Minh


Hội thảo khoa học: “Đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch xuyên tạc chính sách xã hội
của Đảng và Nhà nước Việt Nam hiện nay” tại Yên Bái, 6/2023

Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng Cộng sản Việt Nam xác định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho mọi hành động của Đảng. Để chống phá Đảng, phá hoại sự nghiệp cách mạng do Đảng lãnh đạo, các thế lực phản động, thù địch sử dụng nhiều biện pháp thâm độc tấn công vào nền tảng tư tưởng của Đảng. Chúng đưa ra những luận điệu xuyên tạc sự thật như: không có tư tưởng Hồ chí Minh, cái gọi là tư tưởng Hồ Chí Minh chỉ là sự sao chép, cóp nhặt các quan điểm đông tây kim cổ; không có mối liên hệ giữa Chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh; phủ nhận giá trị của tư tưởng Hồ Chí Minh đối với dân tộc và thời đại. Việc vạch trần sự phi lý của các luận điệu sai trái, xuyên tạc này nhằm bảo vệ tư tưởng Hồ Chí Minh, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, bảo vệ sự lãnh đạo của Đảng là điều cần thiết và cấp thiết trong bối cảnh hiện nay.
1. Phản bác luận điệu xuyên tạc, phủ nhận Hồ Chí Minh không phải nhà tư tưởng
Để vạch trần sự phi lý của luận điệu này, trước hết cần hiểu khái niệm về nhà tư tưởng của V.I.Lênin. Theo V.I.Lênin, “Một người xứng đáng là nhà tư tưởng khi nào biết giải quyết trước người khác tất cả những vấn đề chính trị - sách lược, các vấn đề về tổ chức, về những yếu tố vật chất của phong trào không phải một cách tự phát”1. Đối chiếu với khái niệm của V.I.Lênin thì Hồ Chí Minh đúng là nhà tư tưởng.
Năm 1858, thực dân Pháp nổ súng xâm lược Việt Nam, dần biến nước ta trở thành thuộc địa của Pháp. Với truyền thống yêu nước của dân tộc, các phong trào đấu tranh chống lại sự xâm lược của thực dân Pháp diễn ra ở mọi miền đất nước, kéo dài suốt từ cuối thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX, nhưng đều thất bại. Trong quá trình đó, nhiều nhà yêu nước như Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh,… đã ra đi tìm đường cứu nước, nhưng tất cả đều thất bại. Đầu thế kỷ XX, cách mạng Việt Nam lâm vào tình trạng khủng hoảng về đường lối, tổ chức và người lãnh đạo. Làm thế nào để cứu nước cứu dân - câu hỏi đặt ra cho dân tộc từ cuối thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX vẫn chưa có lời giải đáp. Trong bối cảnh đó, Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh đã xuất hiện như một vị cứu tinh của dân tộc. Trải qua quá trình bôn ba nhiều nơi trên thế giới, hoạt động trong phong trào công nhân, được tiếp nhận tư tưởng cách mạng và con đường cách mạng vô sản của V.I.Lênin. Người đã tìm thấy con đường cứu nước của dân tộc Việt Nam theo con đường cách mạng vô sản. Người đã đưa ra hệ thống các quan điểm cơ bản của cách mạng Việt Nam:
- Về mục tiêu cách mạng cần đạt tới: Độc lập dân tộc gắn với tự do, ấm no, hạnh phúc cho nhân dân và hòa bình cho thế giới
- Cách mạng Việt Nam phải đi theo con đường cách mạng vô sản
- Lãnh đạo cách mạng là đảng cộng sản, đội tiên phong của giai cấp công nhân Việt Nam.
- Lực lượng thực hiện cách mạng là toàn thể nhân dân yêu nước Việt Nam, với nòng cốt là liên minh công - nông
- Phương pháp thực hiện cách mạng: Sử dụng bạo lực cách mạng, kết hợp đấu tranh vũ trang với đấu tranh chính trị trong đó đấu tranh chính trị là nền tảng, là cơ sở; chú trọng phát huy sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại; cách mạng giải phóng dân tộc ở thuộc địa và cách mạng vô sản ở chính quốc có quan hệ mật thiết với nhau.
Không dừng lại ở việc đưa ra hệ thống quan điểm toàn diện về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, Hồ Chí Minh còn là người lãnh đạo, tổ chức thực hiện các quan điểm ấy trong thực tiễn và trở thành lãnh tụ của Đảng của dân tộc. Những quan điểm chỉ dẫn của Hồ Chí Minh được thể hiện rõ trong các tác phẩm “Đường cách mệnh”, “Chánh cương vắn tắt của Đảng”, “Sách lược văn tắt của Đảng”, trong nhiều bài nói, bài viết và hành động cách mạng của Người. Thực tế ấy khẳng định Hồ Chí Minh “biết giải quyết trước người khác tất cả những vấn đề chính trị - sách lược, các vấn đề về tổ chức, về những yếu tố vật chất của phong trào cách mạng” Việt Nam trong những thập niên đầu thế kỷ XX, vì lẽ đó, Người xứng đáng là một nhà tư tưởng và trong thực tế, Người là nhà tư tưởng lỗi lạc. Trong tác phẩm: “Hồ Chủ tịch - Nhà lý luận xuất sắc về chủ nghĩa thực dân và phong trào giải phóng dân tộc”, ông Handache Gilbert viết: “Sự phân tích về chủ nghĩa thực dân của Chủ tịch Hồ Chí Minh đến lúc đó vượt hẳn tất cả những gì mà những nhà lý luận mác-xít đề cập đến. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã xây dựng nên một tổng hợp những lý thuyết về sự giải phóng khỏi sự áp bức thực dân, có sức mạnh không thể chối cãi được”2. Giáo sư Nhật Bản Shingo Shibata khẳng định Hồ Chí Minh đã góp phần đào sâu và phát triển lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin đối với các vấn đề dân tộc thuộc địa và “cống hiến nổi tiếng của cụ Hồ Chí Minh là ở chỗ Người đã phát triển quyền lợi của con người thành quyền lợi của dân tộc. Như vậy tất cả mọi dân tộc đều có quyền tự quyết định lấy vận mệnh của mình”3. Những nhận định này, một lần nữa khẳng định Hồ Chí Minh là nhà tư tưởng xuất sắc. Vậy, những người cho rằng Hồ Chí Minh không phải nhà tư tưởng, không có cái gọi là tư tưởng Hồ Chí Minh thì hoặc là có vấn đề về nhận thức hoặc là cố tình xuyên tạc sự thật.
2. Phản bác luận điệu xuyên tạc về sự tách rời giữa Chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh
Các thế lực thù địch, phản động sử dụng các trang mạng xã hội đăng tải các bài viết có nội dung xuyên tạc sự thật về mối quan hệ giữa chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Họ cho rằng tư tưởng Hồ chí Minh không phải là sự vận dụng và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của Việt Nam đầu thế kỷ XX như quan điểm của Đảng. Theo họ, chủ nghĩa Mác - Lênin bàn về đấu tranh giai cấp, về sứ mệnh của giai cấp công nhân trên phạm vi thế giới, còn tư tưởng Hồ Chí Minh chú trọng đến vấn đề dân tộc. Hồ Chí Minh là người theo chủ nghĩa dân tộc chứ không theo chủ nghĩa cộng sản. Những ý kiến này thiếu chính xác bởi nó không dựa trên sự hiểu biết đầy đủ và trung thực về tư tưởng Hồ Chí Minh.
Hồ Chí Minh là một người yêu nước. Khát vọng cháy bỏng của Người là cứu nước, cứu dân. Người chỉ có một ham muốn, ham muốn tột bậc là làm thế nào để nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ta ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành. Đó là một sự thật. Để thực hiện khát vọng ấy, Người đã không ngừng trải nghiệm, tìm kiếm và học hỏi để rồi đến được với chủ nghĩa Mác - Lênin. Chính chủ nghĩa Mác - Lênin, ánh sáng của trí tuệ và lương tri của thời đại đã giúp Người tìm ra cách thức cứu dân, cứu nước. Cảm xúc của Người khi bắt gặp chủ nghĩa Mác - Lênin là cảm xúc của người được giác ngộ. Người đã vui mừng đến nhỏ lệ khi tìm thấy ở chủ nghĩa Mác - Lênin câu trả lời trong suốt nhiều năm dành tất cả tâm sức đi tìm, đó là: Làm thế nào để cứu nước cứu dân?. Sau khi bắt gặp chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng của Người về cách mạng Việt Nam từng bước được hình thành. Người đã tiếp thu những vấn đề mang tính nguyên tắc của chủ nghĩa Mác – Lênin, đồng thời từ thực tiễn mang tính đặc thù của Việt Nam, Người đã bổ sung, phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin. Có thể nêu lên một cách khái quát sự kế thừa và phát triển ấy như sau:
- Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn của một nước thuộc địa, nửa phong kiến, Hồ Chí Minh lựa chọn đi theo con đường cách mạng vô sản để thực hiện mục tiêu cách mạng phù hợp với đòi hỏi đặt ra từ thực tiễn.
- Trung thành với chủ nghĩa Mác - Lênin, Hồ Chí Minh khẳng định lãnh đạo cách mạng Việt Nam là Đảng Cộng sản Việt Nam - đội tiên phong của giai cấp công nhân Việt Nam. Đảng Cộng sản Việt Nam lấy chủ nghĩa Mác - Lênin làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho mọi hành động của mình. Tuy nhiên, xuất phát từ yếu tố đặc thù của thực tiễn Việt Nam trong thời gian đầu thế kỷ XX, Hồ Chí Minh khẳng định: Đảng Cộng sản Việt Nam là “Đảng của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, cho nên nó phải là Đảng của dân tộc Việt Nam”4. Đảng phải trở thành tổ chức đại diện cho trí tuệ của dân tộc, là trung tâm hội tụ sức mạnh của dân tộc. Đảng phải đưa vào trong đội ngũ của mình những người con ứu tú nhất của dân tộc. Đây là những bổ sung thể hiện sự vận dụng sáng tạo lý luận vào thực tiễn. Với những bổ sung mang tính sáng tạo đó, Đảng Cộng sản Việt Nam đã được ra đời và thực hiện được sứ mệnh lãnh đạo của mình trong điều kiện một nước thuộc địa nửa phong kiến.
- Về lực lượng thực hiện cách mạng: Trung thành với chủ nghĩa Mác - Lênin, Hồ Chí Minh khẳng định lực lượng nòng cốt thực hiện cách mạng là liên minh giai cấp công nhân, nông dân và đội ngũ trí thức. Xuất phát từ truyền thống và thực tiễn Việt Nam đầu thế kỷ XX, Hồ Chí Minh khẳng định lực lượng tham gia thực hiện cách mạng là toàn thể người dân Việt Nam yêu nước. Đây là sự sáng tạo của Hồ Chí Minh trong việc vận dụng chủ nghĩa Mác - Lênin về vấn đề lực lượng cách mạng. Sự sáng tạo này đã phát huy được sức mạnh toàn dân tộc trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc và trong công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước sau này.
- Về phương pháp thực hiện cách mạng: Trung thành với chủ nghĩa Mác - Lênin, Hồ Chí Minh khẳng định phải sử dụng bạo lực cách mạng để giành và giữ chính quyền. Người đã trực tiếp chỉ đạo xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân cách mạng. Tuy nhiên, xuất phát từ truyền thống nhân nghĩa của dân tộc, Hồ Chí Minh luôn coi trọng đấu tranh chính trị, luôn coi trọng xây dựng lực lượng chính trị. Quan điểm chỉ đạo của Người trong xây dựng lực lượng vũ trang lấy chính trị làm cơ sở, nền tảng; quân đội, công an phải là lực lượng vũ trang cách mạng của nhân dân, đấu tranh vì nền độc lập, tự do của dân tộc.
Về mối quan hệ giữa cách mạng giải phóng dân tộc ở Việt Nam với cách mạng vô sản ở chính quốc, Hồ Chí Minh khẳng định hai cuộc cách mạng này phải phối hợp nhịp nhàng với nhau như hai cánh của một con chim. Tuy nhiên, xuất phát từ thực tiễn bối cảnh Việt Nam và thế giới đầu thế kỷ XX, Hồ Chí Minh nhận định cách mạng giải phóng dân tộc có thể bùng nổ và giành thắng lợi trước cách mạng vô sản ở chính quốc.
- Về mục tiêu của cách mạng, Hồ Chí Minh khẳng định cách mạng Việt Nam sẽ tiến tới cách mạng xã hội chủ nghĩa thực hiện triệt để mục tiêu giải phóng giai cấp, giải phóng con người. Tuy nhiên trong bối cảnh của một nước thuộc địa, với khát vọng cháy bỏng về một nền độc lập dân tộc của toàn thể nhân dân Việt Nam, Người xác định nhiệm vụ đầu tiên cách mạng cần thực hiện là giải phóng dân tộc. Giải phóng dân tộc là cơ sở thực hiện giải phóng giai cấp và giải phóng con người. Giải phóng giai cấp và giải phóng con người là điều kiện để đảm bảo độc lập dân tộc. Độc lập dân tộc gắn với chủ nghĩa xã hội là nét đặc sắc trong tư tưởng Hồ Chí Minh. Nét đặc sắc này vừa thể hiện sự kế thừa, vừa thể hiện sự bổ sung của tư tưởng Hồ Chí Minh đối với chủ nghĩa Mác - Lênin.
Như vậy, trong mỗi quan điểm của Hồ Chí Minh về cách mạng Việt Nam đều có sự tuân thủ những vấn đề mang tính nguyên tắc của chủ nghĩa Mác - Lênin, đồng thời đều có sự bổ sung từ thực tiễn mang tính đặc thù của dân tộc. Sự tuân thủ những vấn đề mang tính nguyên tắc khẳng định sự trung thành của tư tưởng Hồ Chí Minh đối với chủ nghĩa Mác - Lênin, khẳng định bản chất khoa học, cách mạng, nhân văn của tư tưởng Hồ Chí Minh. Sự bổ sung, phát triển của tư tưởng Hồ Chí Minh là sự linh hoạt, sáng tạo trong vận dụng những vấn đề mang tính nguyên tắc của chủ nghĩa Mác - Lênin cho phù hợp với hoàn cảnh thực tiễn đặt ra. Điều đó không làm tư tưởng Hồ Chí Minh xa rời bản chất của chủ nghĩa Mác - Lênin mà tạo nên sự phù hợp của chủ nghĩa Mác - Lênin ở một không gian mới. Đây là đóng góp hết sức quan trọng của Hồ Chí Minh đối với lý luận Người đã tiếp thu để hình thành tư tưởng của mình. Việc chỉ nhìn vào những bổ sung của Hồ Chí Minh đối với chủ nghĩa Mác - Lênin để khẳng định giữa tư tưởng Hồ Chí Minh và chủ nghĩa Mác - Lênin không có mối liên hệ là cách nhìn phiến diện, không phản ánh đúng sự thật.
3. Phản bác luận điệu phủ nhận giá trị của tư tưởng Hồ Chí Minh
Đã có những quan điểm sai lầm, bịa đặt khi cho rằng, tư tưởng Hồ Chí Minh chỉ là sự sao chép, cóp nhặt. Những gì Hồ chí Minh nói và viết thì người xưa đã nói rồi. Cách mạng Tháng Tám thành công là một điều ăn may. Cái gọi là giá trị tư tưởng Hồ Chí Minh chỉ là ý chí chủ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam. Những luận điệu này đã xuất hiện từ lâu, nhưng gần đây vẫn tiếp tục nhắc lại trên một số diễn đàn của các thế lực thù địch. Không khó khăn gì để nhận ra tính phi lý của các luận điệu này. Đúng là trong tư tưởng Hồ Chí Minh có nhiều giá trị văn hóa  của dân tộc và nhân loại; của truyền thống và hiện tại; của phương Đông và phương Tây, nhưng đó không phải là sự sao chép máy móc, giáo điều, mà đó là những giá trị vẫn phù hợp với thực tiễn, được Hồ Chí Minh thẩm thấu được qua quá trình gạn đục khơi trong. Đồng thời, Hồ Chí Minh đã bổ sung vào những gì “xưa cũ” ấy những nội dung mới mang hơi thở của thời đại tạo nên sức sống mới cho những giá trị tưởng như xưa cũ ấy. Đó là sự tiếp thu, tiếp biến tạo nên sự kết nối cho mạch nguồn văn hóa, tinh thần yêu nước, từ truyền thống đến hiện tại, từ dân tộc đến nhân loại. Đó là một đóng góp lớn của Hồ Chí Minh đối với tri thức của dân tộc nói riêng, của nhân loại nói chung.
Hồ Chí Minh đã tìm ra con đường cách mạng phù hợp cho dân tộc Việt Nam ở thế kỷ XX. Người đã lựa chọn và xây dựng cho cách mạng Việt Nam một tổ chức lãnh đạo tiên tiến, đó là Đảng Cộng sản Việt Nam, giúp cách mạng Việt Nam chấm dứt tình trạng khủng hoảng về đường lối, về lãnh đạo. Hồ Chí Minh đã thành công trong việc kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, phát huy sức mạnh của truyền thống yêu nước Việt Nam, của khát vọng giải phóng dân tộc Việt Nam lên tầm cao mới. Ánh sáng tư tưởng Hồ Chí Minh đã dẫn dắt dân tộc Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám không phải là một điều ăn may mà đó là kết quả của một quá trình cách mạng được chuẩn bị chu đáo, là kết quả của dự báo và sự lãnh đạo tài tình của Đảng và lãnh tụ Hồ Chí Minh. Tư tưởng Hồ Chí Minh có giá trị to lớn cả về phương diện lý luận và phương diện thực tiễn, cả tầm quốc gia và quốc tế. Đó là sự thật không ai có thể phủ nhận.
Có thể thấy rằng, để thực hiện chiến lược “Diễn biến hòa bình”, các thế lực thù địch đã không từ một thủ đoạn nào, đặc biệt chúng tập trung tấn công vào nền tảng tư tưởng của Đảng nhằm phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng. Chúng đưa ra những luận điệu xuyên tạc nhằm phủ nhận giá trị của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Tuy nhiên giấy thì không thể bọc được lửa, luận điệu của chúng không thể đánh lừa được người đọc bởi sự thật là tư tưởng Hồ Chí Minh đã thấm vào từng con tim, khối óc của mỗi người Việt Nam yêu nước, đã đơm hoa kết trái ngọt trong thực tiễn và hiện nay vẫn đang đồng hành, dẫn dắt dân tộc trong hành trình thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh. Đúng như Đại tướng Võ Nguyên Giáp từng khẳng định: “Tư tưởng Hồ Chí Minh là linh hồn, ngọn cờ thắng lợi của cách mạng Việt Nam trong suốt hơn nửa thể kỷ qua. Cùng với chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của Đảng ta, nhân dân ta. Tư tưởng Hồ Chí Minh mãi mãi soi sáng con đường cách mạng Việt Nam, con đường tiến lên chủ nghĩa xã hội của toàn dân tộc ta dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam”5.


Ngày nhận bài 3/6/2023; ngày thẩm định 18/10/2023; ngày duyệt đăng 25/10/2023
1.Võ Nguyên Giáp (chủ biên): Tư tưởng Hồ Chí Minh và con đường cách mạng Việt Nam, Nxb CTQG, H, 2016, tr. 72-73
2. Handache Gilbert: “Hồ Chủ tịch - Nhà lý luận xuất sắc về chủ nghĩa thực dân và phong trào giải phóng dân tộc”, Tạp chí Hành tinh - Hành động, Paris, 1970, số tháng 3
3. Hồ Chí Minh trong lòng nhân dân thế giới, Nxb ST, H, 1979, tr. 96
4. Hồ Chí Minh Toàn tập: Nxb CTQG, H, 2011, T.7, tr. 41
5. Võ Nguyên Giáp: Tư tưởng Hồ Chí Minh và con đường cách mạng Việt Nam, Nxb CTQG, H, 2003, tr. 99