Tóm tắt: Đại hội VI (1986) của Đảng chủ trương phát triển đầu tư nước ngoài. Đến Đại hội VIII (1996), Đảng đã đề ra chủ trương nâng cao chất lượng đầu tư trực tiếp của nước ngoài (FDI). Chủ trương này tiếp tục được Đảng bổ sung và không ngừng hoàn thiện và đã trở thành tiêu chí để sàng lọc các dự án FDI, đảm bảo dự án mới phải đóng góp thật sự hiệu quả cho nền kinh tế đất nước, thay vì chỉ tận dụng nguồn lao động giá rẻ và những ưu đãi chính sách. Bài viết trình bày chủ trương của Đảng về thu hút vốn đầu tư nước ngoài qua 2 giai đoạn (1986-2006), (2006-2022) và những kết quả đạt được.

Từ khóa: Chủ trương của Đảng; nâng cao chất lượng; đầu tư nước ngoài; 1986-2022

 
Hội nghị Thủ tướng Chính phủ gặp mặt các nhà đầu tư nước ngoài, ngày 22-4-2023
 
1. Chủ trương của Đảng thu hút vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam giai đoạn 1986-2006 
Đại hội VI (1986), Đảng chính thức thừa nhận sự hiện diện của đầu tư tư bản tư nhân nước ngoài. Nghị quyết Đại hội VI nêu rõ: “Những năm tới một mặt phải tranh thủ các nguồn vốn bên ngoài với các mức cao nhất”1. Quan điểm này đã mở ra thời kỳ mới đối với việc thu hút đầu tư nước ngoài ở Việt Nam.
Đại hội VII (1991), chủ trương thu hút đầu tư nước ngoài của Đảng được xác định rõ ràng hơn. “Chiến lược ổn định và phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2000” nêu rõ: “Tạo môi trường và điều kiện thuận lợi cho người nước ngoài vào nước ta đầu tư, hợp tác kinh doanh. Xây dựng thể chế đồng bộ, ổn định, thuận tiện và tổ chức thực hiện nghiêm chỉnh; thống nhất đầu mối giải quyết các thủ tục và yêu cầu đầu tư của nước ngoài”2. Chủ trương này không chỉ nhấn mạnh sự cần thiết phải thu hút đầu tư nước ngoài, mà còn đặt nhiệm vụ tạo môi trường thuận lợi, ổn định, đặc biệt là cải thiện các thủ tục hành chính để thu hút mạnh mẽ đầu tư nước ngoài.
Đại hội VIII (1996) của Đảng diễn ra sau gần 10 năm thực hiện Luật Đầu tư nước ngoài, Đảng tiếp tục nhấn mạnh chủ trương thu hút nguồn vốn FDI: “Đầu tư trực tiếp của nước ngoài (FDI) hướng vào những lĩnh vực những sản phẩm và dịch vụ có công nghệ tiên tiến, có tỷ lệ xuất khẩu cao… Về địa bàn đầu tư, cần có chính sách và biện pháp hữu hiệu để thu hút vào những nơi có tiềm năng nhưng trước mắt còn khó khăn. Hình thức đầu tư cần đa dạng hóa, chú ý thêm những hình thức mới như đầu tư tài chính… Về đối tác đầu tư, cần tăng cường quan hệ hợp tác với các công ty đa quốc gia để tranh thủ được công nghệ nguồn, tiếp cận cách quản lý hiện đại và thâm nhập nhanh vào thị trường quốc tế, mở rộng được thị trường mới”3.
Những nội dung trên cho thấy Đại hội VIII đặt ra những yêu cầu cụ thể hơn nhằm định hướng đầu tư nước ngoài vào những lĩnh vực có khả năng nâng cao xuất khẩu; ưu tiên những dự án FDI có chuyển giao công nghệ cao, chú ý chính sách thu hút theo địa bàn, ưu tiên thu hút đầu tư của các công ty đa quốc gia, đồng thời mở rộng hình thức đầu tư nước ngoài… Nghị quyết còn nêu rõ: Đầu tư nước ngoài “có vai trò to lớn trong động viên vốn, công nghệ, khả năng tổ chức, quản lý…”. Tuy nhiên, những chủ trương này chưa coi các doanh nghiệp FDI như là thành phần kinh tế độc lập trong nền kinh tế, vì thế chủ trương vẫn chỉ thiên về khuyến khích đầu tư nước ngoài dưới hình thức liên doanh hoặc công ty trách nhiệm hữu hạn.
Đến Đại hội IX (2001) của Đảng, vấn đề thu hút vốn đầu tư nước ngoài đã có bước phát triển mới với quan điểm coi bộ phận kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài là một thành phần kinh tế, là một bộ phận hợp thành của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN. Nghị quyết Đại hội IX chỉ rõ: “Khuyến khích các tổ chức, cá nhân nước ngoài và người Việt Nam ở nước ngoài đầu tư vào nước ta, nhất là sản xuất hàng xuất khẩu và sản phẩm công nghệ cao”4.
Cụ thể hóa những chủ trương của Đảng trong giai đoạn này, Kỳ họp thứ 2 Quốc hội Khóa VIII đã thông qua Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam (1987). Việc ban hành luật này đã được đánh giá là 1 trong 9 nội dung quan trọng nhất, cùng với các nội dung đã đi vào lịch sử, như khoán nông nghiệp, trao quyền tự chủ kinh doanh cho xí nghiệp quốc doanh, xóa bỏ cơ chế quan liêu bao cấp,...5. Nhằm đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ mới trong những năm tiếp theo, Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam luôn được quan tâm sửa đổi, bổ sung. Tháng 6-1990, Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam lần đầu tiên được sửa đổi, bổ sung; đến tháng 12-1992, luật này tiếp tục được sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với điều kiện mới. Qua đó, việc thu hút đầu tư nước ngoài ngày càng thuận lợi với 459 dự án đầu tư và tổng vốn đầu tư là 5,28 tỷ USD6, tạo thành “Làn sóng đầu tư thứ nhất”7. Năm 1996, Quốc hội tiếp tục ban hành mới Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, nhưng do tác động của khủng hoảng kinh tế khu vực, nhịp tăng vốn đầu tư nước ngoài thực hiện năm 1997 tăng 25%, nhưng năm 1998 đã giảm 40%, năm 1999 giảm tiếp 22%. Năm 2000, một lần nữa, Quốc hội tiếp tục sửa đổi, bổ sung Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam. Năm 2005, Quốc hội ban hành Luật Đầu tư, thay thế Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt NamLuật Đầu tư (trong nước). Sau sự kiên này, vốn FDI tăng mạnh trở lại, tạo thành “Làn sóng đầu tư thứ hai”. Năm 2005, tổng số vốn FDI đăng ký đạt 6,839 tỷ USD, vốn thực hiện 3,3 tỷ USD8.
Nguồn vốn FDI trong giai đoạn này đã góp phần quan trọng hình thành nhiều ngành kinh tế như khai thác, lọc hóa dầu, ô tô, xe máy, điện tử, xi măng, sắt thép, thực phẩm, thức ăn gia súc; cũng như góp phần hình thành một số khu đô thị hiện đại như Phú Mỹ Hưng, Nam Thăng Long, nhiều khách sạn 4 - 5 sao, khu nghỉ dưỡng cao cấp, văn phòng cho thuê... Lĩnh vực dịch vụ tài chính, bảo hiểm, ngân hàng, bán buôn, bán lẻ đã du nhập phương thức kinh doanh hiện đại, công nghệ tiên tiến, thỏa mãn nhu cầu ngày càng cao của các tầng lớp dân cư. Khu vực FDI tạo ra hàng triệu việc làm trực tiếp và việc làm gián tiếp, trong đó có hàng vạn kỹ sư, nhà quản lý trình độ cao, đội ngũ công nhân lành nghề, với thu nhập ngày càng tăng, du nhập phương thức lao động, kinh doanh và quản lý tiên tiến.
Bên cạnh những thành công, hoạt động FDI cũng đã bộc lộ những nhược điểm và khuyết điểm, như chưa phù hợp với quy hoạch phát triển ngành và vùng kinh tế, một số máy móc thiết bị công nghệ lạc hậu đã được nhập khẩu gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng... Bên cạnh đó còn xảy ra tranh chấp lao động trong một số doanh nghiệp FDI. Việc “chuyển giá” của một số doanh nghiệp FDI gây ra tình trạng “lỗ giả lãi thật” ở một số địa phương.

2. Chủ trương của Đảng về nâng cao chất lượng, hiệu quả đầu tư nước ngoài giai đoạn 2006-2022
Ngày 7-11-2006, Việt Nam chính thức gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) sau 11 năm kiên trì đàm phán cả song phương và đa phương với tất cả các thành viên của tổ chức này. Trong năm 2006, Việt Nam đã tổ chức thành công Hội nghị cấp cao APEC lần thứ 14 tại Hà Nội đây là những điểm nhấn ấn tượng đối với các nhà đầu tư nước ngoài với thị trường tài chính, tiền tệ Việt Nam. Việc không ngừng mở rộng hợp tác kinh tế quốc tế đã tạo ra sự “đột phá” trong hội nhập quốc tế của Việt Nam và đã thu hút được sự quan tâm của đông đảo cộng đồng kinh doanh quốc tế, trong đó đặc biệt là giới đầu tư nước ngoài. Bối cảnh phát triển mới này đã giúp Việt Nam có nhiều cơ hội được “lựa chọn” các nhà đầu tư nước ngoài.
Tại Đại hội X (2006), Đảng đã đề cập vấn đề nâng cao chất lượng đầu tư nước ngoài một cách triệt để và toàn diện hơn: “Mở rộng lĩnh vực, địa bàn và hình thức thu hút FDI, hướng vào những thị trường giàu tiềm năng và các tập đoàn kinh tế hàng đầu thế giới, tạo sự chuyển biến mạnh mẽ về số lượng và chất lượng hiệu quả nguồn vốn FDI”9. Chủ trương mở cửa rộng rãi thị trường trong nước của Đại hội X đã mở ra một môi trường mới hết sức thuận lợi về phương diện quốc tế và trong nước cho đầu tư nước ngoài mà còn đôn đốc Nhà nước nhanh chóng cải thiện môi trường đầu tư trong nước nhằm thu hút tối đa nguồn vốn nước ngoài để phát triển kinh tế.
Đại hội XI (2011) của Đảng khẳng định: “Kinh tế có vốn FDI được khuyến khích phát triển; thu hút FDI có công nghệ hiện đại, thân thiện môi trường và tăng cường sự liên kết với các doanh nghiệp trong nước”10. Quan điểm này đã tạo điều kiện cho những nhà đầu tư có tiềm lực, thương hiệu mạnh đến đầu tư các dự án then chốt vào các lĩnh vực mũi nhọn như: du lịch - dịch vụ, hạ tầng giao thông, giáo dục, y tế, công nghiệp hỗ trợ, công nghiệp chế biến, cảng biển, nông nghiệp công nghệ cao, sản xuất phần mềm… Ưu tiên thu hút các dự án có công nghệ hiện đại, có hàm lượng tri thức cao, thân thiện với môi trường, sử dụng hiệu quả nguồn tài nguyên, có sản phẩm mang lợi thế cạnh tranh cao.
FDI đã thể hiện vai trò tích cực trong thành tựu tăng trưởng của Việt Nam, FDI góp phần đáng kể thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tăng năng lực sản xuất, khai thông thị trường quốc tế, gia tăng kim ngạch xuất khẩu, cải thiện cán cân thanh toán quốc tế. Với chính sách linh hoạt, tạo điều kiện để nhiều tập đoàn hàng đầu trên thế giới trong nhiều lĩnh vực khác nhau như BP, Total, Toyota, Canon, Samsung, Intel, Unilever… với những sản phẩm chất lượng quốc tế đầu tư ở Việt Nam. Qua đó, vừa góp phần khẳng định vị thế của Việt Nam trên bản đồ khu vực và thế giới, vừa góp phần tạo động lực cạnh tranh cho các doanh nghiệp trong nước nhằm thích ứng với bối cảnh toàn cầu hóa.
Trên cơ sở nhìn nhận, đánh giá vai trò của vốn FDI, Đại hội XII (2016) của Đảng tiếp tục khẳng định vị trí, vai trò của FDI, đồng thời yêu cầu: “Rà soát, sửa đổi pháp luật, chính sách để thu hút mạnh FDI, nhất là các dự án có công nghệ cao, thân thiện môi trường, sản phẩm có giá trị gia tăng và tỷ lệ nội địa hóa cao, tham gia mạng sản xuất và chuỗi giá trị toàn cầu thúc đẩy cơ cấu lại nền kinh tế. Khuyến khích đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng và các ngành công nghiệp hỗ trợ, năng lượng tái tạo, vật liệu mới, điện tử, công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, giống cây trồng, vật nuôi, đào tạo nhân lực và chăm sóc sức khoẻ chất lượng cao”11. Chủ trương này xác định vấn đề nâng cao hiệu quả thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài, chú trọng chuyển giao công nghệ, trình độ quản lý tiên tiến và thị trường tiêu thụ sản phẩm; chủ động lựa chọn và ưu đãi đối với các dự án đầu tư nước ngoài có trình độ quản lý và công nghệ hiện đại, có vị trí hiệu quả trong chuỗi giá trị toàn cầu, có liên kết với doanh nghiệp trong nước. Tăng cường liên kết giữa doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài với doanh nghiệp trong nước nhằm phát triển công nghiệp hỗ trợ và công nghiệp quy mô lớn, chất lượng cao, gắn với các chuỗi giá trị khu vực và toàn cầu.
Qua hơn 30 năm đổi mới, Việt Nam đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách, pháp luật thu hút, quản lý đầu tư nước ngoài, tạo dựng môi trường đầu tư kinh doanh thuận lợi, từng bước tiếp cận với thông lệ quốc tế. Tuy nhiên, việc thu hút, quản lý và hoạt động đầu tư nước ngoài vẫn còn những hạn chế và phát sinh những vấn đề mới. Thể chế, chính sách về đầu tư nước ngoài chưa theo kịp yêu cầu phát triển. Chính sách ưu đãi còn dàn trải, thiếu nhất quán, không ổn định. Từ thực tế đó, ngày 20-8-2019, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 50-NQ/TW “Về định hướng hoàn thiện thể chế, chính sách, nâng cao chất lượng, hiệu quả hợp tác đầu tư nước ngoài đến năm 2030”. Đây là nghị quyết có tầm quan trọng đặc biệt đối với tiến trình đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế và hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN của Việt Nam trong thời kỳ mới. Nghị quyết số 50-NQ/TW đã đưa ra những định hướng, chủ trương rất quan trọng để thu hút dòng vốn FDI trong giai đoạn tới nhằm phát huy hết hiệu quả của nguồn vốn này, đồng thời hạn chế những rủi ro mà dòng vốn FDI có thể gây ra. Nghị quyết đã thay từ “thu hút và sử dụng” nguồn vốn FDI bằng từ “hợp tác” Từ “hợp tác” ở đây thể hiện sự bình đẳng và chủ động của Việt Nam trong làm việc với các đối tác nước ngoài và đề cao hơn nữa trách nhiệm của các nhà đầu tư nước ngoài khi họ hoạt động ở Việt Nam. Nghị quyết cũng đưa ra vấn đề đảm bảo tính kết nối, liên thông giữa đầu tư nước ngoài với đầu tư trong nước là yêu cầu bắt buộc và có những định hướng rất rõ ràng.
Khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài được Đảng và Nhà nước coi là một trong động lực quan trọng để phát triển kinh tế, đẩy mạnh hợp tác quốc tế và tham gia các chuỗi giá trị toàn cầu. Quan điểm này tiếp tục được khẳng định tại Đại hội XIII (2021) của Đảng: “Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài là một bộ phận quan trọng trong nền kinh tế quốc dân, có vai trò lớn trong thu hút vốn đầu tư, công nghệ, phương thức quản lý hiện đại, mở rộng thị trường xuất khẩu”12.
Tuy nhiên, trong kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài còn có một số dự án còn tiêu tốn năng lượng, thâu dụng tài nguyên, gây ô nhiễm môi trường; mức độ kết nối, thu hút và chuyển giao công nghệ của khu vực đầu tư nước ngoài đến khu vực đầu tư trong nước còn thấp; khu vực đầu tư nước ngoài chủ yếu gia công lắp ráp, tỷ lệ nội địa hóa trong một số ngành thấp, giá trị gia tăng trên một đơn vị sản phẩm chưa cao. Việt Nam vẫn còn phụ thuộc vào công nghệ nước ngoài, năng lực nội sinh của công nghệ chưa được kiến tạo và phát huy, vì vậy, Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng xác định: “Chuyển chính sách trọng tâm thu hút hợp tác, đầu tư nước ngoài từ số lượng sang chất lượng, … Xây dựng các tiêu chí thu hút đầu tư để lựa chọn, ưu tiên thu hút đầu tư phù hợp với quy hoạch, định hướng phát triển ngành, lĩnh vực, địa bàn”13.
Cụ thể hóa quan điểm, chủ trương của Đảng, Nhà nước đã ban hành nhiều chính sách cụ thể nhằm  thu hút hiệu quả, có chất lượng đầu tư nước nước ngoài. Nổi bật trong đó là: Quốc hội thông qua Luật Đầu tư (2014), đã tạo bước đột phá về tư duy với quan điểm doanh nghiệp và nhà đầu tư được làm những gì mà pháp luật không cấm, qua đó đã tạo ra “Làn sóng đầu tư thứ ba”. Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 58/NQ-CP ngày 27-4-2020 về “Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết 50-NQ/TW”; Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 667/QĐ-TTg, ngày 3-6-2022 “phê duyệt “Chiến lược hợp tác đầu tư nước ngoài giai đoạn 2021-2030”. Các bộ, ngành, địa phương đẩy mạnh hoàn thiện thể chế kinh tế, cải cách hành chính, tư pháp; cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh theo chuẩn mực quốc tế; đảm bảo vận hành hiệu quả các loại thị trường; thúc đẩy thị trường hóa các nhân tố sản xuất; tập trung khắc phục bất cập về cơ sở hạ tầng, nguồn nhân lực; phát triển hệ thống doanh nghiệp trong nước.

Một số kết quả đạt được
Trong những năm 2006-2010, đầu tư nước ngoài tại Việt Nam đã có đóng góp quan trọng vào tốc độ tăng trưởng nền kinh tế Việt Nam. Tỷ trọng của khu vực FDI đóng góp vào GDP các năm từ 2006 đến 2010 lần lượt là: 16,98%; 17,96%; 18,43%; 18,33%; 18,72%. Đầu tư nước ngoài thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu theo hướng CNH, HĐH. Vốn đầu tư nước ngoài tập trung chủ yếu vào sản xuất công nghiệp. Các năm từ 2006 đến 2010 khu vực doanh nghiệp FDI có vốn chiếm trong toàn ngành công nghiệp tương ứng là 52,3%; 50,7%; 50,7%; 52,5%; 44%. Tốc độ tăng trưởng của khu vực FDI ngành công nghiệp đạt bình quân gần 18%/năm, cao hơn tốc độ tăng trưởng toàn ngành. Đến năm 2014, khu vực FDI đã tạo ra gần 45% giá trị sản xuất toàn ngành công nghiệp, đồng thời góp phần hình thành một số ngành công nghiệp chủ lực của nền kinh tế như viễn thông; thăm dò, khai thác, chế biến dầu khí; sản xuất các sản phẩm điện tử; công nghệ thông tin; sản xuất thép, xi măng,...14.
Giai đoạn 2011-2022, đóng góp của FDI đối với xuất, nhập khẩu và thu ngân sách nhà nước luôn chiếm tỷ lệ cao: Tỷ trọng của khu vực FDI trong tổng kim ngạch xuất khẩu đã tăng nhanh chóng, từ mức 54% (kể cả dầu thô) vào năm 201015 lên 65% giai đoạn 2011 - 2015 và khoảng 71% giai đoạn 2016 - 2020.  Trong đó, năm 2020 chiếm 72,3%, đạt 204,43 tỷ USD; xuất siêu đạt 33,845 tỷ USD, bù đắp 13,9 tỷ USD nhập siêu của doanh nghiệp trong nước, tạo ra kỉ lục xuất siêu 19,9 tỷ USD. Năm 2021, kim ngạch xuất khẩu của khu vực FDI đạt 246,88 tỷ USD, tăng 20,7% so với năm 2020 và chiếm 73,4% tổng kim ngạch xuất khẩu cả nước, xuất siêu gần 28,5 tỷ USD, bù đắp 25,5 tỷ USD nhập siêu của khu vực doanh nghiệp trong nước tạo ra xuất siêu 3 tỷ USD. Năm 2022 đạt khoảng 276,76 tỷ USD, chiếm 74,4%, xuất siêu khoảng 41,9 tỷ USD, bù đắp 30,7 tỷ USD nhập siêu của khu vực doanh nghiệp trong nước tạo ra xuất siêu ước tính 11,2 tỷ USD16, góp phần giúp Việt Nam chuyển dịch từ nước liên tục nhập siêu sang xuất siêu với mức thặng dư thương mại đạt mức kỉ lục và chủ yếu xuất siêu sang các khu vực thị trường có tiêu chuẩn cao (Hoa Kỳ, châu Âu), góp phần tích cực làm lành mạnh cán cân thanh toán và ổn định kinh tế vĩ mô, tạo động lực trực tiếp thúc đẩy khu vực sản xuất, kinh doanh trong nước.
Đối với thị trường lao động, khu vực FDI đã góp phần giải quyết việc làm, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và đem lại nguồn thu nhập khả quan cho người lao động. Năm 2010, lao động làm việc trong các doanh nghiệp FDI là 1,44 triệu người (lao động nữ chiếm 66,8%); năm 2016, tăng 1,75 lần so với năm 2010, với tổng số 3,78 triệu người (lao động nữ chiếm 67,9%); đến năm 2022, lao động làm việc trong các doanh nghiệp này tiếp tục tăng 1,35 lần so với năm 2016, đạt 5,09 triệu người (lao động nữ chiếm 61,2%). Đội ngũ công nhân lao động tại các doanh nghiệp FDI được bồi dưỡng, nâng cao tay nghề, tiếp cận công nghệ tiên tiến, rèn luyện ý thức tổ chức, tác phong công nghiệp17. Ngoài ra, các doanh nghiệp FDI còn tạo ra nhiều việc làm khác một cách gián tiếp do tác động kích thích đầu tư trong nước như phát triển doanh nghiệp vệ tinh, các ngành nghề cung cấp hàng hóa và dịch vụ.
Với sự tham gia của các doanh nghiệp FDI, Việt Nam cũng nâng dần tỷ trọng xuất khẩu hàng công nghệ cao trong tổng xuất khẩu, từ 44,3% năm 2016 lên 49,8% năm 2020, bình quân giai đoạn 2011 - 2020 là khoảng 35,9%, thấp hơn so với Philippines, Singapore, Malaysia nhưng cao hơn nhiều nước trong khu vực. Trong suốt giai đoạn này, chỉ có 4 nước ASEAN có hàm lượng xuất khẩu công nghệ cao trung bình trên 30% là Philippines, Singapore, Malaysia và Việt Nam; riêng trong 3 năm (2017- 2019), cũng chỉ có 4 nước này có hàm lượng trên 40%. Tỷ trọng hàng hóa xuất khẩu qua chế biến trong tổng giá trị xuất khẩu tăng từ 65% năm 2016 lên 85% năm 2020 và 86,2% năm 202118.
Đóng góp quan trọng nữa rất được quan tâm của nguồn vốn FDI là tạo ra tác động lan tỏa công nghệ, góp phần nâng cao trình độ công nghệ thông qua chuyển giao công nghệ phục vụ phát triển sản xuất, kinh doanh, từng bước nâng cao trình độ công nghệ sản xuất trong nước. Một số ngành đã tiếp thu được công nghệ tiên tiến của thế giới như: Bưu chính - viễn thông, ngân hàng, dầu khí, xây dựng, giao thông, cầu đường... và chuyển giao kỹ năng quản lý cho người Việt Nam, tạo sức ép cạnh tranh, đổi mới công nghệ đối với các doanh nghiệp trong nước, qua đó thúc đẩy tăng năng suất lao động, không ngừng đầu tư nâng chất lượng sản phẩm, đầu tư bao bì, mẫu mã đẹp, thay thế hàng nhập khẩu với giá cả hợp lý, được người tiêu dùng trong nước ưu tiên sử dụng và từng bước xâm nhập thị trường thế giới,
Mặc dù có những đóng góp tích cực, nhưng hoạt động của các dự án đầu tư nước ngoài thời gian qua cũng nảy sinh những vấn đề bất cập, như hiện tượng một số doanh nghiệp FDI chuyển giá, trốn thuế tại Việt Nam, làm cho Nhà nước thất thu thuế; doanh nghiệp trong nước gặp khó khan trong cạnh tranh.
Tác động lan toả của các doanh nghiệp FDI chưa được như kỳ vọng, các doanh nghiệp Việt Nam có rất ít cơ hội trở thành đối tác cung cấp linh kiện, phụ kiện cho các doanh nghiệp FDI, nên việc tiếp thu công nghệ sản xuất và kinh nghiệm quản lý còn mờ nhạt. Một số công trình nghiên cứu đã chỉ ra rằng, hiện chỉ có 21% doanh nghiệp vừa và nhỏ tham gia vào chuỗi cung ứng toàn cầu trong khi ở Thái Lan trên 30% và ở Malaysia là 46%19; do vậy doanh nghiệp nhỏ và vừa ít được hưởng lợi từ hiệu ứng lan tỏa của doanh nghiệp FDI thông qua chuyển giao công nghệ, kiến thức và nâng cao năng suất.
Một số doanh nghiệp chưa tuân thủ tốt các quy định về môi trường của pháp luật Việt Nam, tạo ra nhiều hệ lụy cho xã hội. Nổi bật là vụ doanh nghiệp xả thải trái phép năm 2016, gây ô nhiễm vùng biển miền Trung; vụ xả thải gây ô nhiễm nặng nề sông Thị Vải năm 2009. Đây là những lời cảnh tỉnh về rủi ro tiềm tàng đối với môi trường mà các dự án FDI có thể gây ra nếu không được quản lý, giám sát tốt.
Để khắc phục những tồn tại, hạn chế nêu trên, nhằm tiếp tục cải thiện mạnh mẽ môi trường đầu tư, kinh doanh, tăng cường thu hút và nâng cao chất lượng, hiệu quả dòng vốn đầu tư nước ngoài phục vụ công cuộc phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Việt Nam đã và đang chuẩn bị các điều kiện cần thiết để thu hút đầu tư như: rà soát, bổ sung quỹ đất sạch; rà soát lại quy hoạch điện; đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao; bổ sung chính sách để phát triển công nghiệp hỗ trợ; xây dựng các quy định, tiêu chuẩn như một bộ lọc mới nhằm lựa chọn các nhà đầu tư FDI có công nghệ tiên tiến, có khả năng chống chịu sức ép từ bên ngoài để phát triển bền vững. Bên cạnh đó, Việt Nam cũng đã chủ động, theo dõi, đánh giá xu hướng dịch chuyển dòng FDI vào Việt Nam, trên cơ sở đó điều chỉnh chính sách trong việc thu hút dòng vốn FDI có chất lượng, phù hợp với điều kiện phát triển của Việt Nam.
Trải qua 36 năm (1986-2022) thực hiện đường lối đổi mới, Đảng và Nhà nước đã có nhiều chủ trương, chính sách, pháp luật khuyến khích phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam. Qua đó, thành phần kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đã phát triển mạnh mẽ, trở thành bộ phận quan trọng của nền kinh tế đất nước. Bên cạnh đó, vẫn còn những hạn chế. Đảng và Nhà nước cần tiếp tục cải thiện mạnh mẽ môi trường đầu tư, kinh doanh, tăng cường thu hút và nâng cao chất lượng, hiệu quả đầu tư nước ngoài phục vụ công cuộc phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, ưu tiên lựa chọn những doanh nghiệp, dự án phù hợp, những dự án có hàm lượng khoa học, công nghệ cao gắn trách nhiệm đối với môi trường, lao động.




Ngày nhận bài 3/7/2023; ngày thẩm định 25/10/2023; ngày duyệt đăng 27/10/2023
1. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, Nxb ST, H, 1987, tr.193
2. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb ST, H, 2007, T.51, tr.179
3. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb CTQG, H, 1996 tr.197
4. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb CTQG, H, 2001, tr.321
5, 6. Theo: Lan Hương: https://quochoi.vn/UserControls/Publishing/News/BinhLuan/pFormPrint.aspx?UrlListProcess=/content/tintuc/List6s/News&ItemID=38756, đăng ngày 18-12-2018
7. Làn sóng thu hút vốn FDI thứ nhất diễn ra trong những năm 1991-1997, với 2.230 dự án, và tổng số vốn đăng ký 16,244 tỷ USD, vốn thực hiện 12,98 tỷ USD, trong đó, riêng năm 1997, vốn thực hiện đạt 3,115 tỷ USD, gấp 9,5 lần năm 1991.
8. Theo: Nguyễn Mại: https://www1.mpi.gov.vn/Pages/tinbai.aspx?idTin=19988&idcm=235, ngày 5-9-2012
9. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb CTQG, H, 2006 tr.204-205
10. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb CTQG, H, 2011 tr.111
11. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nxb CTQG, H, 2016, tr.292-293
12, Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb CTQGST, H, 2021, T.I, tr.130
13. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb CTQGST, H, 2021, T.II tr.127.
14. Xem: Tổng cục Thống kê: Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài giai đoạn 2006-2011, Nxb Thống kê, H, 2014, tr.10
15. https://dangcongsan.vn/kinh-te/danh-gia-hoat-dong-xuat-nhap-khau-nam-2010-57920.html, Báo Đảng Cộng sản Việt Nam điện tử, ngày 6-2-2011
16, 18. Theo: Vũ Huyền Trang: https://tapchinganhang.gov.vn/dong-gop-cua-dau-tu-truc-tiep-nuoc-ngoai-doi-voikinh-te-viet-nam-giai-doan-2016-2022-va-khuyen-nghi.htm, ngày 4-8-2023
17. Theo:  Phúc Minh: https://vneconomy.vn/techconnect//khu-vuc-fdi-thu-hut-binh-quan-moi-nam-360-000-lao-dong-moi.htm, ngày 17-10-2023
19. Theo: Trung tâm WTO và hội nhập: https://trungtamwto.vn/tin-tuc/14379-dong-nam-a-va-tham-vong-cong-xuong-the-gioi, ngày 22-11-2019.