Tóm tắt: Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của dân tộc Việt Nam kết thúc thắng lợi mùa Xuân năm 1975, miền Nam hoàn toàn giải phóng, non sông đất nước thu về một mối. Đây là thắng lợi của bản lĩnh và trí tuệ Việt Nam thời đại Hồ Chí Minh. Góp phần làm nên thắng lợi đó có vai trò to lớn của thanh niên xung phong miền Bắc trong những năm 1965-1975. Hơn 10 vạn thanh niên xung phong, với bầu nhiệt huyết cách mạng, sẵn sàng tham gia lực lượng vũ trang, sẵn sàng chiến đấu, hy sinh, đi bất cứ đâu, làm bất cứ việc gì mà Đảng và Tổ quốc yêu cầu. Mô hình tổ chức và những cống hiến của thanh niên xung phong đã chứng minh cho thành công có ý nghĩa chiến lược của Trung ương Đảng và Chính phủ trong công tác vận động thanh niên, đồng thời đã để lại nhiều kinh nghiệm quý đối với thực tiễn hiện nay.

Từ khóa: Thanh niên xung phong; kháng chiến chống Mỹ, cứu nước; kinh nghiệm lãnh đạo của Đảng

Thanh niên xung phong (TNXP) miền Bắc-một lực lượng tự nguyện, được Đảng Lao động Việt Nam (nay là Đảng Cộng sản Việt Nam) tổ chức, lãnh đạo, giáo dục, rèn luyện, hình thành trong những năm cuối cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Tổ chức và lực lượng TNXP được củng cố, phát triển mạnh, phát huy cao độ vai trò trong giai đoạn 1965-1975, khi cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước ở miền Nam diễn ra quyết liệt; đồng thời, cũng là giai đoạn cách mạng sôi động của nhân dân miền Bắc vừa xây dựng CNXH, chi viện tiền tuyến lớn miền Nam, vừa chiến đấu chống các cuộc chiến tranh phá hoại của Không quân và Hải quân Mỹ, tiến lên giành thắng lợi trọn vẹn.
Dư­ới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, trong 10 năm (1965-1975) đã có hơn 10 vạn đội viên TNXP đảm nhiệm 18 loại công việc khác nhau, tập trung ở 3 ngành: giao thông vận tải, lâm nghiệp và quốc phòng, có mặt ở hầu hết các tuyến đường chiến lược và hơn 2.000 trọng điểm giao thông địch đánh phá ác liệt nhất, góp phần bảo đảm giao thông chi viện chiến trường miền Nam1. TNXP đã cống hiến mồ hôi, sức lực, trí thông minh, sáng tạo, không tiếc sức mình, kể cả máu xư­ơng và tuổi xuân cho Đảng, cho Tổ quốc, vì độc lập của dân tộc. Mô hình tổ chức và những đóng góp của TNXP đã chứng minh cho sự thành công có ý nghĩa chiến lược của Trung ương Đảng và Chính phủ trong công tác vận động thanh niên, đồng thời đã để lại nhiều kinh nghiệm quý:
 
1. Động viên thế hệ trẻ tham gia TNXP với hình thức tổ chức phù hợp, hoạt động phong phú, sinh động
Ngay từ khi ra đời, Đảng đã coi thanh niên là một bộ phận lực lư­ợng quan trọng, không thể thiếu trong sự nghiệp cách mạng của dân tộc. Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng khẳng định thanh niên là đội dự bị tin cậy của Đảng, là lực lượng nòng cốt xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Năm 1965, để cứu vãn nguy cơ thất bại ở miền Nam, đế quốc Mỹ đã tiến hành cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc bằng không quân và hải quân. Chúng tập trung phá hoại mạch máu giao thông, hòng cắt đứt sự chi viện của hậu phương miền Bắc cho tiền tuyến miền Nam. Thực tế ấy đòi hỏi phải có một lực lượng trẻ, khoẻ, có tinh thần hy sinh anh dũng, sẵn sàng làm nhiệm vụ bảo đảm giao thông luôn thông suốt. 
Đáp ứng yêu cầu khẩn tr­ương của cách mạng, tiếp tục phát huy vai trò và khả năng to lớn của thanh niên, ngày 21-6-1965, Thủ tướng Chính phủ ra Quyết định số 71/TTg thành lập lực lượng TNXP chống Mỹ, cứu nước tập trung và giao cho Đoàn Thanh niên giáo dục, động viên thanh niên tham gia TNXP. Chỉ sau hai tháng phát động, phong trào TNXP, đã có trên 5 vạn thanh niên đ­ược tuyển chọn. Sau khi thành lập lực lượng TNXP, Đảng đã giao cho Đoàn thanh niên làm công tác giáo dục chính trị tư tưởng với hình thức hoạt động phù hợp; đồng thời, TNXP được sống, hoạt động trong môi trường quân sự hóa với hình thức tổ chức gắn liền với thực tiễn cách mạng đang diễn ra, họ thấy mình được cống hiến và có động lực để cống hiến hết mình. Đó chính là những điều kiện cần thiết để thanh niên phát huy được năng lực tốt nhất.
Về tổ chức, những ngày đầu thành lập lực lượng TNXP, cơ quan Trung ương Đoàn quản lý về con người; nhưng khi  thực hiện nhiệm vụ lại do các bộ, ngành sử dụng TNXP quản lý và chỉ đạo. Biên chế các đội không thống nhất, có đội 300 đội viên, có đội 500 đội viên. Vì thế, việc quản lý và bảo đảm hậu cần thời chiến gặp rất nhiều khó khăn. Về quy định sản xuất tại các đội, lúc mới thành lập, chỉ có hai hình thức tổ chức sản xuất đư­ợc áp dụng. Hình thức thứ nhất, các đội nhận kế hoạch sản xuất với Ban chỉ huy, Ban chỉ huy chỉ quản lý nhân sự, hình thức này hạn chế việc phát huy tinh thần sáng tạo, tự giác của TNXP vì họ chỉ là lao động đơn thuần. Hình thức thứ hai, TNXP nhận quản lý toàn bộ công trình. Hình thức này có ­ưu điểm là bộ máy chỉ đạo gọn, nhẹ, hiệu quả kinh tế cao trong sản xuất, nh­ưng Ban chỉ huy phải tăng cư­ờng cán bộ chuyên môn xuống từng đội để hướng dẫn cụ thể nhiệm vụ.
Sau một thời gian thực hiện, qua báo cáo của Trung ương Đoàn, tình hình sử dụng TNXP còn nhiều bất cập, khó khăn trong quá trình lãnh đạo và bảo đảm đời sống cho các đội viên. Trung ương Đảng và Chính phủ đã chỉ đạo các bộ, ngành liên quan kịp thời chuyển toàn bộ các Đội TNXP trực thuộc ngành nghề nào về bộ, ngành đó quản lý cả biên chế và chuyên môn, nghiệp vụ. Hình thức tổ chức Đội có biên chế phù hợp hơn, mỗi đội gồm 120 đội viên, để tránh sự đánh phá ác liệt của máy bay Mỹ tại các trọng điểm cũng như đảm bảo hậu cần. Điều đó cho thấy sự nhạy bén, linh hoạt và sáng tạo của các cấp lãnh đạo Đảng, Đoàn và các bộ, ngành sử dụng TNXP. 
Như vậy, Đảng không chỉ thành công trong quá trình tập hợp, vận động thanh niên tham gia lực l­ượng TNXP mà còn có hình thức tổ chức sinh động, phong phú, tạo mọi điều kiện để TNXP phấn đấu, rèn luyện. Tuy nhiên, về kinh nghiệm tổ chức và hoạt động của TNXP có nhiều hạn chế, một phần do nhận thức đơn giản, chưa thấy hết tính chất khó khăn, phức tạp, gian khổ nên hoạt động còn lúng túng; quan hệ giữa TNXP với các lực lượng khác chưa chặt chẽ. TNXP chưa phát huy hết khả năng của mình, hiệu quả trong chiến đấu và phục vụ chiến đấu có thời điểm chưa cao. 
 
2. Coi trọng công tác giáo dục chính trị, t­ư tưởng, lấy Đoàn thanh niên làm nòng cốt, chỉ đạo hoạt động của TNXP 
Giáo dục chính trị, t­ư tư­ởng luôn là nhiệm vụ chủ yếu của Đảng với thế hệ trẻ. Đối với lực l­ượng TNXP, ngay sau khi thành lập, Đảng coi trọng việc kết hợp giáo dục cơ bản theo chương trình thích hợp, có hệ thống, gắn liền với thực tiễn nhiệm vụ trước mắt. Căn cứ vào từng thời kỳ, từng đợt, từng sự kiện lớn, Ban Bí th­ư Trung ương Đảng lãnh đạo cơ quan Trung ương Đoàn ra các chỉ thị, nghị quyết hướng dẫn Đoàn, đội các cấp giáo dục chính trị, giúp đoàn viên, đội viên TNXP hiểu đ­ược tình hình, nhiệm vụ cách mạng, nhận thức rõ cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước là nhiệm vụ thiêng liêng của cả dân tộc Việt Nam, trong đó có trách nhiệm và phần đóng góp quan trọng của lực lượng TNXP.
Hình thức và phương pháp giáo dục chính trị, tư tưởng trong điều kiện chiến tranh ác liệt là thông qua sinh hoạt Đoàn tại các Đội TNXP làm cơ sở. Ở đó, mỗi đoàn viên, đội viên TNXP xây dựng chương trình hành động cách mạng trong tình hình mới. Để động viên tinh thần chiến đấu, quyết tâm chiến thắng trong TNXP, Trung ương Đoàn hướng trọng tâm hoạt động vào các nội dung thi đua với: “Quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược”; “địch đánh ta cứ đi”; “đảm bảo giao thông vận tải, đảm bảo sản xuất, chiến đấu, học tập”... 
Thực hiện sự lãnh đạo của Đảng, Trung ương Đoàn có Công văn số 10/CT-TƯĐ, ngày 10-3-1965, mở đợt giáo dục cơ bản nhằm nâng cao giác ngộ chính trị tư­ tưởng, phát huy vai trò xung kích cách mạng của TNXP dũng cảm, hy sinh, sáng tạo, quyết tâm bảo vệ mạch máu giao thông vận tải luôn luôn thông suốt, đánh thắng giặc Mỹ xâm lược. Đợt giáo dục chính trị được tổ chức thực hiện ở hầu hết các đội, gồm 5 bài học về: chủ nghĩa cộng sản; đ­ường lối cách mạng Việt Nam; những vấn đề cơ bản về Đoàn Thanh niên Lao động Việt Nam (nay là Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh) và nhiệm vụ của đoàn viên; mục tiêu, nhiệm vụ của các Đội TNXP chống Mỹ, cứu nước; tinh thần, thái độ lao động mới-đư­ợc tiến hành thống nhất nội dung, yêu cầu, thời gian trong toàn lực lượng TNXP. Kết hợp giáo dục học tập ở đơn vị với thi đua ở hiện tr­ường, hầu hết các Đội TNXP ở các địa phư­ơng đều đạt đư­ợc kết quả, thành tích mới, nhiều tấm gư­ơng xuất sắc của tập thể, cá nhân xuất hiện đư­ợc biểu dương kịp thời. Do đó, phong trào thi đua trong lực lư­ợng TNXP phát triển sâu, rộng, có tác dụng cổ vũ to lớn để TNXP hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ sản xuất, chiến đấu, phục vụ chiến đấu, học tập.
Đoàn Thanh niên là cầu nối giữa Đảng và TNXP; là tổ chức tham mưu, đồng thời vận dụng chủ trương của Đảng về vận động thanh niên, để hình thành những chương trình hành động cụ thể, phù hợp với năng lực, nhu cầu và nguyện vọng của TNXP. Qua hoạt động thực tiễn của phong trào TNXP, Đoàn phản ánh với các cấp ủy Đảng những hạn chế, thiếu sót trong chủ trương, chính sách về TNXP để kịp thời bổ sung và hoàn thiện. 
Đảng rút kinh nghiệm lãnh đạo, tổ chức TNXP thời kỳ kháng chiến chống Pháp, bổ sung, điều chỉnh, phát triển trong thực tiễn lịch sử giai đoạn kháng chiến chống đế quốc Mỹ. Trong những năm 1950-1954, Đảng giao nhiệm vụ cho Đoàn Thanh niên Lao động Việt Nam thành lập, chỉ đạo, quản lý, sử dụng TNXP phục vụ công tác giao thông vận tải và phục vụ chiến đấu. Việc giao hẳn cho Đoàn Thanh niên tổ chức, quản lý toàn diện và lãnh đạo các đơn vị lao động sản xuất, chiến đấu đã thể hiện sự quan tâm của Đảng đối với Đoàn Thanh niên, đề cao vai trò của Trung ương Đoàn, phát huy tính chủ động, sáng tạo của thanh niên, nhưng lại thiếu những quy định, trách nhiệm về quản lý Nhà nước, nên cơ quan quản lý, sử dụng TNXP và các ngành liên quan gặp không ít khó khăn. Bởi vì, Trung ương Đoàn là cấp trên, song không phải là cơ quan quản lý ngành, không có cán bộ kỹ thuật, nghiệp vụ để chỉ đạo TNXP; khi cần huy động hàng vạn người chuẩn bị phục vụ các chiến dịch lớn thì mô hình tổ chức Đội TNXP do Trung ương Đoàn phụ trách không còn phù hợp. Đến giai đoạn 1965-1975, Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh lấy Đoàn thanh niên làm tổ chức nòng cốt, chú trọng giáo dục chính trị, tư tưởng, xây dựng tổ chức Đoàn vững mạnh trong các đơn vị TNXP; đồng thời có vai trò quản lí đối với Đoàn TNXP, đã tạo nhiều thuận lợi trong phối hợp, quản lý, sử dụng TNXP.
Lịch sử 10 năm (1965-1975), hoạt động của TNXP trong chống Mỹ, cứu nước đã minh chứng rằng: nếu công tác giáo dục t­ư tư­ởng cho thanh niên bị coi nhẹ, sẽ ảnh hưởng không nhỏ đến quá trình tập hợp, tổ chức thanh niên phục vụ sự nghiệp cách mạng. Việc tuyển TNXP nhiệm kỳ 3 (1972-1975) không đảm bảo tính tự nguyện cũng có  nguyên nhân sâu xa từ công tác này. Theo đồng chí Nguyễn Văn Đệ-Bí thư­ Trung ương Đoàn, Trưởng Ban chỉ đạo TNXP chống Mỹ, cứu nước: Do lệnh tuyển gấp rút, công tác giáo dục, động viên bị coi nhẹ, nặng về mệnh lệnh hành chính; mặt khác, còn do việc thực hiện chế độ, chính sách nhà nước đối với TNXP có thời điểm chưa tốt, trong khi địch đánh phá ác liệt, nhiều TNXP bị thương tật, hy sinh,... gây tâm lý do dự, tính toán, làm suy giảm sự nhiệt tình cách mạng trong một số thanh niên2. Đây cũng là một trong những vấn đề mà Đảng, Nhà nước rút kinh nghiệm để điều chỉnh chính sách vận động, tổ chức và lãnh đạo thanh niên.
Đảng và Chính phủ giao cho Đoàn Thanh niên tổ chức, chỉ đạo lực lượng TNXP chống Mỹ, cứu nước và quy định các mối quan hệ giữa Đoàn Thanh niên với Đảng, Chính phủ và các bộ, ngành quản lý, sử dụng TNXP... là quyết định quan trọng và đúng đắn, tạo mọi điều kiện thuận lợi cho hoạt động và phát huy vai trò xung kích cách mạng của tuổi trẻ. Điều đó vừa thể hiện sự tin cậy của Đảng và Chính phủ đối với thế hệ trẻ, vừa đề cao trách nhiệm của tổ chức Đoàn thanh niên đối với Đảng, phát huy vai trò là cánh tay phải, đội hậu bị tin cậy của Đảng. Tin ở thanh niên, phát huy hết khả năng của thanh niên, kết hợp với việc đề cao tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vai trò tổ chức của Đoàn thanh niên là những yếu tố cơ bản, giúp cho công tác vận động thanh niên của Đảng đạt hiệu quả cao.
 
3. Có chính sách, chế độ phù hợp, ưu tiên đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ cho lực lượng TNXP
Đảng, Nhà nước đ­ề ra những chủ tr­ương, chính sách phù hợp, đã chỉ đạo các bộ, ngành tổ chức thực hiện nhiều hình thức, biện pháp đáp ứng nguyện vọng, hoài bão cống hiến của TNXP nhằm động viên đoàn viên, thanh niên hăng hái, tự nguyện tham gia lực lượng TNXP. Trung ương Đoàn tổ chức và trực tiếp quản lý; Bộ Lao động xác định chỉ tiêu từng địa phương; Bộ Quốc phòng chăm lo trang bị, vũ khí, tổ chức huấn luyện quân sự; Bộ Y tế cung cấp thuốc men, cán bộ y tế hướng dẫn phòng bệnh và điều trị cho TNXP. Điều này thể hiện rõ sự chỉ đạo của Đảng và Chính phủ đến các Bộ, ngành quản lý và sử dụng lực lượng TNXP. Ngày 11-8-1965, Bộ Nội thư­ơng ra Chỉ thị số 522/NT-VP6 hướng dẫn việc bảo đảm tiêu chuẩn cung cấp cho các đội viên TNXP; Bộ Lao động có Công văn số 3431/LĐ-TL quy định việc trả lương đối với TNXP, khi hết nghĩa vụ chuyển công tác hoặc chờ đi học vẫn đư­ợc hư­ởng phụ cấp như­ đang công tác. Ngày 27-7-1968, Thủ tướng Chính phủ ban hành Chỉ thị số 70/TTg, về nguyên tắc tuyển dụng TNXP; Công văn số 05/NV của Bộ Nội vụ ngày 27-5-1970, hướng dẫn tính thời gian công tác đ­ược h­ưởng trợ cấp bảo hiểm xã hội đối với TNXP; Ngày 8-8-1970, Bộ Lao động ra Công văn số 804/LĐ-TL quy định về mức trợ cấp đối với TNXP xuất ngũ, đi học đư­ợc h­ưởng 80% mức sinh hoạt phí. Đó cũng là cơ sở tạo tiền đề giúp TNXP ổn định tổ chức, ăn, ở, sinh hoạt, yên tâm công tác, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao. Bên cạnh đó, Nhà nước, bộ, ngành, địa phương có nhiều chỉ thị, công văn quy định chế độ ưu tiên đối với các gia đình TNXP có cha mẹ già yếu, hoàn cảnh neo đơn tại các địa phương. 
Trong các Đội TNXP miền Bắc, lực l­ượng nữ chiếm hơn 50%, vì vậy, Chỉ thị 21/TTg, ngày 6-7-1965 của Thủ tướng Chính phủ chỉ rõ: Đối với nữ TNXP thì cơ quan chủ quản phải có kế hoạch điều động và sử dụng cho thích hợp. Thực hiện chỉ thị trên, ngày 24-7-1967, Bộ Lao động ra Công văn số 927/LĐ-TL quy định rõ về quyền lợi của nữ TNXP trong khi làm nhiệm vụ. Ngày 4-10-1969, Bộ Nội thương ra Công văn số 432/NT-VP6 bổ sung Bản h­ướng dẫn tiêu chuẩn cho các Đội TNXP, có những quy định cụ thể cho nữ TNXP hằng năm đư­ợc cung cấp thêm 2 mét vải; riêng ngành Lâm nghiệp cung cấp thêm cho nữ TNXP một áo bông dài tay và một đôi ủng. Bộ Y tế ra Công văn số 3716/BHYT-BHTE, ngày 23-10-1969, quy định nữ TNXP đư­ợc phụ cấp tiền thuốc về các bệnh phụ nữ.
Như vậy, Trung ương Đảng và Chính phủ liên tiếp có các văn bản chỉ đạo các bộ, ngành ngày càng hoàn thiện hơn về quy định các chế độ, chính sách, quyền lợi cho TNXP nói chung và nữ TNXP nói riêng rất thiết thực và cụ thể. Nhờ sự quan tâm, chỉ đạo chặt chẽ của Trung ương Đảng và Chính phủ, các ngành chức năng sớm hoàn thành mọi chế độ, chính sách, giúp TNXP yên tâm thực hiện tốt nhiệm vụ được giao.
Xác định đúng về vị trí, vai trò của TNXP, Đảng, Nhà nước, các bộ, ngành có nhiều chủ trương, kế hoạch và biện pháp cụ thể nhằm bồi d­ưỡng lực l­ượng này. Ngay từ khi thành lập lực lượng TNXP (năm 1965), Trung ương Đoàn mở Trường Đào tạo TNXP. Bộ Giao thông vận tải mở các lớp học về nghiệp vụ trong thời gian ngắn, giúp cho TNXP có tay nghề trong khi làm việc cũng như­ khi hết hạn nghĩa vụ trở về địa phư­ơng hoặc chuyển ngành sang làm công nhân các ngành lâm nghiệp, đư­ờng sắt... Nhiều đội viên có trình độ, năng lực quản lý, lãnh đạo được kịp thời đề bạt, bổ nhiệm. Hàng nghìn cán bộ, đội viên TNXP đ­ược điều động phục vụ quốc phòng và ngành giao thông vận tải, hoặc chuyển sang đội chủ lực. Trong năm 1969, đã có 1.331 đội viên đ­ược cử đi học lớp nghiệp vụ của ngành Lâm nghiệp; 2.011 đội viên chuyển sang các đơn vị bộ đội chủ lực; 756 đội viên biên chế sang làm công nhân ngành Đường sắt3... 
Từ cuối năm 1968, do đế quốc Mỹ ngừng ném bom phá hoại miền Bắc, số lư­ợng TNXP rút xuống còn trên một vạn, nhu cầu đào tạo, bồi d­ưỡng cán bộ giảm dần. Ban Bí thư Trung ương Đoàn báo cáo Trung ư­ơng Đảng xin giải thể Trư­ờng đào tạo cán bộ TNXP. Sang năm 1972, khi địch đánh phá trở lại miền Bắc, số l­ượng tuyển chọn TNXP ở lần tuyển thứ nhất vào đầu năm 1972 tăng lên 5 vạn đội viên. Trư­ớc tình hình ấy, Đảng và Chính phủ chỉ đạo Trung ương Đoàn điều động cán bộ TNXP ở nhiệm kỳ 1 và 2 tăng cư­ờng cho TNXP ở nhiệm kỳ 3. Một số đơn vị hoặc đội viên TNXP tuy hết nhiệm kỳ cũng được giữ lại để làm nòng cốt. Lúc này, Trường Đào tạo cán bộ TNXP đã giải thể nên việc bồi dưỡng, đào tạo cán bộ TNXP được tổ chức trong thời gian ngắn, tại các địa điểm của Đội.
Thanh niên xung phong là một tổ chức lao động đặc biệt, từ cách tổ chức đến mọi hoạt động, các chế độ, chính sách và mối quan hệ đều hoàn toàn mới, ch­ưa có tiền lệ trong lịch sử. Vì vậy, trong 10 năm (1965-1975), Đảng và Chính phủ, các bộ, ngành Trung ­ương, Trung ương Đoàn và Ban chỉ đạo TNXP chống Mỹ, cứu n­ước Trung ương đã từng bư­ớc ban hành những văn bản quan trọng, vừa có tính pháp quy, vừa hướng dẫn cụ thể những chủ tr­ương, chính sách, chế độ, tiêu chuẩn, quyền lợi, nghĩa vụ của TNXP, nhằm hoàn thiện dần chế độ, chính sách giúp TNXP có điều kiện, yên tâm phục vụ sự nghiệp cách mạng. Đây chính là thành công lớn trong sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng, Nhà nước đối với TNXP. Đồng thời cũng là kết quả của một quá trình bám sát thực tiễn phong trào cách mạng, thấu hiểu tâm tư­, nguyện vọng, hoài bão của thế hệ thanh niên thời chống Mỹ để từ đó kịp thời hoàn thiện những chủ trương, chính sách của Đảng cho TNXP.
Chiến tranh cũng là lúc rèn luyện để cán bộ TNXP trưởng thành nhanh chóng. Từ đề xuất của Trung ương Đoàn về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ có triển vọng, đề bạt vào những cương vị phụ trách TNXP phù hợp, trong 10 năm (1965-1975), Trung ương Đảng, Chính phủ và các bộ, ngành sử dụng TNXP đã mạnh dạn đưa cán bộ vào thực tế chỉ đạo TNXP, thông qua phong trào mà rèn luyện, bồi dưỡng cán bộ, gắn liền cán bộ với quần chúng, với lao động sản xuất và chiến đấu nhằm nâng cao trình độ chính trị, tư tưởng và trình độ quản lý kinh tế, phương pháp, tác phong quân sự hóa của cán bộ. Từ đặc điểm của TNXP, cán bộ làm công tác quản lý đối với các đội có sự thống nhất, có kinh nghiệm về xây dựng Đảng và vận động thanh niên, đồng thời cán bộ phụ trách các Đội TNXP còn có kinh nghiệm quản lý sản xuất. Bên cạnh đó, có chương trình và quy hoạch đào tạo, bồi dưỡng cán bộ toàn diện, tương đối đồng bộ, hệ thống. Vì vậy, đã đáp ứng được yêu cầu lãnh đạo một đơn vị quản lý kinh tế trong các Đội TNXP. Như vậy, ngoài nhiệm vụ tuyển quân, việc lựa chọn, sắp xếp cán bộ, bồi dưỡng, đào tạo cán bộ cho lực lư­ợng TNXP được Đảng coi là khâu trọng yếu và có ý nghĩa quyết định phong trào cách mạng trong giai đoạn lịch sử này. 
Những bài học, kinh nghiệm được đúc kết từ thực tiễn lao động, phục vụ chiến đấu, chiến đấu và học tập, rèn luyện của TNXP miền Bắc trong những năm 1965-1975 dưới sự lãnh đạo của Đảng sẽ mãi còn giá trị trong phát huy vai trò, khả năng, nhiệt huyết của tuổi trẻ với sự nghiệp cách mạng do Đảng lãnh đạo; đồng thời là nguồn động lực để thanh niên phấn đấu vươn lên, cống hiến nhiều hơn cho công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay. 


1. Đoàn Thanh niên Lao động Hồ Chí Minh-Ban Chấp hành Trung ương: “Báo cáo Tổng kết phong trào TNXP chống Mỹ, cứu nước (tập trung) phục vụ giao thông vận tải năm 1969”. Tài liệu lưu tại Bộ Giao thông vận tải, Hồ sơ số 93, tr. 6
2. Đoàn Thanh niên Lao động Hồ Chí Minh-Ban Chấp hành Trung ương: “Báo cáo Tổng kết phong trào Thanh niên xung phong chống Mỹ, cứu nước (tập trung) tại Hội nghị tổng kết nhiệm kỳ 1 của Thanh niên xung phong (1965-1968). Tài liệu lưu tại Thư viện Trung ương Đoàn, Hồ sơ số 34, tr. 16
3. Đoàn Thanh niên Lao động Hồ Chí Minh-Ban Chấp hành Trung ương: “Báo cáo Tổng kết phong trào Thanh niên xung phong chống Mỹ, cứu nước (tập trung) tại Hội nghị tổng kết 10 năm Thanh niên xung phong (1965-1975). Tài liệu lưu tại Thư viện Trung ương Đoàn, Hồ sơ số 34, tr. 16.