Tóm tắt: Đại thắng mùa Xuân năm 1975 trở thành mốc son lịch sử dân tộc Việt Nam; là chiến thắng chung của cả nước và các dân tộc yêu chuộng hòa bình trên thế giới. Để đi đến thắng lợi to lớn này, trước hết phải khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng, yếu tố then chốt quyết định trong suốt tiến trình cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân Việt Nam trải qua 21 năm (1954-1975). Bài viết tập trung làm rõ những kinh nghiệm của Đảng trong lãnh đạo, chỉ đạo cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân năm 1975 thắng lợi, kết thúc cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân Việt Nam.
Từ khóa: Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975; Kinh nghiệm lãnh đạo của Đảng

45 năm đã trôi qua (1975-2020), cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975 mà đỉnh cao là Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử đã kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước vĩ đại của dân tộc ta. Đánh giá về sự kiện lịch sử trọng đại này, Nghị quyết Đại hội IV (12-1976) của Đảng khẳng định: “Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước là thành quả tổng hợp của một loạt nhân tố tạo nên sức mạnh vô địch của cách mạng Việt Nam. Nguồn gốc của mọi nhân tố ấy chính là sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng ta”1; mà “trước hết là thắng lợi của đường lối chính trị, đường lối quân sự độc lập, tự chủ, đúng đắn và sáng tạo của Đảng”2 .
Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước là cuộc đọ sức lịch sử quyết liệt giữa dân tộc Việt Nam với đế quốc Mỹ và chính quyền phản động tay sai ở miền Nam. Đó là một trong những cuộc chiến tranh giải phóng lâu dài nhất, vĩ đại trong lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc Việt Nam. Xét toàn cục về mặt chiến lược, nhân tố quyết định làm nên thắng lợi vĩ đại đó là vai trò lãnh đạo, chỉ đạo tài tình của Đảng.
Đại thắng mùa Xuân năm 1975, đỉnh cao là Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, đã để lại một số bài học kinh nghiệm sau:
Trước hết, Trung ương Đảng, Bộ Chính trị đã sớm đánh giá đúng kẻ thù, có chủ trương, đường lối lãnh đạo đúng đắn, sáng tạo, từng bước đánh bại cuộc chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ.
Ngay trong khi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của nhân dân Việt Nam chưa kết thúc, đế quốc Mỹ đã bộc lộ rõ dã tâm xâm lược Việt Nam và đàn áp phong trào giải phóng dân tộc, ngăn chặn sự phát triển của CNXH ở khu vực Đông Nam Á. Nhận thức đúng bản chất, âm mưu xâm lược của đế quốc Mỹ, ngay sau khi Hiệp định Giơnevơ (21-7-1954) về chấm dứt chiến tranh và lập lại hòa bình ở Đông Dương được ký kết, HNTƯ 6 khóa II (7-1954) của Đảng cho rằng: “Đế quốc Mỹ là kẻ thù chính của nhân dân yêu chuộng hòa bình thế giới và hiện đang trở thành kẻ thù chính, trực tiếp của nhân dân Đông Dương”3. Đến HNTƯ 15 khóa II (1959) của Đảng tiếp tục khẳng định: “Mỹ-Diệm chẳng những là kẻ thù của nhân dân miền Nam đang bị chúng thống trị mà còn là kẻ thù của cả dân tộc Việt Nam, của nhân dân miền Bắc đã được giải phóng”4. Đại hội III (9-1960) của Đảng chỉ rõ: “Nhân dân ta từng chịu đau khổ vì bọn đế quốc và ngày nay còn bị bọn Mỹ-Diệm chia cắt đất nước, giày xéo miền Nam. Ngày nào mà chưa đuổi được đế quốc Mỹ ra khỏi miền Nam nước ta, chưa giải phóng miền Nam khỏi ách thống trị tàn bạo của Mỹ-Diệm thì nhân dân ta vẫn chưa thể ăn ngon ngủ yên”5.
Để đánh đuổi đế quốc Mỹ, trên quan điểm xem xét khoa học, biện chứng và cách mạng, HNTƯ 15 khóa II của Đảng chỉ rõ: “lấy sức mạnh của quần chúng, dựa vào lực lượng chính trị của quần chúng là chủ yếu, kết hợp với lực lượng vũ trang để đánh đổ quyền thống trị của đế quốc và phong kiến, dựng nên chính quyền cách mạng của nhân dân”6. Hội nghị cho rằng, Mỹ và tay sai có quân đông nhưng không có cơ sở chính trị sâu rộng và vững chắc, tuy quân sự chúng còn mạnh, nhưng chính trị của chúng lại rất yếu mà yếu nhất là ở nông thôn. Từ đó, Hội nghị xác định: “Con đường phát triển cơ bản của cách mạng Việt Nam ở miền Nam là khởi nghĩa giành chính quyền về tay nhân dân”7.
Với việc xác định đúng kẻ thù và đề ra chủ trương về phương pháp cách mạng đúng đắn đó, phong trào Đồng Khởi ở miền Nam Việt Nam đã nổ ra, nhanh chóng phát triển thành cao trào, khởi nghĩa từng phần và giành thắng lợi, đưa cách mạng miền Nam từng bước tiến lên đến ngày toàn thắng ngày 30-4-1975.
Hai là, về sự lãnh đạo, chỉ đạo tạo thời cơ và nắm thời cơ giành thắng lợi quyết định trong Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử mùa Xuân 1975.
Chiến dịch Hồ Chí Minh là thời điểm chín muồi của thời cơ, thế trận, và lực lượng để tiến lên giành thắng lợi cuối cùng, kết thúc cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, thực hiện thống nhất đất nước. Thời cơ đó là: lúc này ý chí xâm lược của đế quốc Mỹ đã bị tan tan rã do những thất bại trên chiến trường và những khó khăn trong nội tại nước Mỹ. Còn chính quyền và quân đội Sài Gòn thì hoang mang đến cực độ do những thất bại dồn dập trên chiến trường. Thời cơ của Chiến dịch Hồ Chí Minh là do nhiều yếu tố, trong đó yếu tố quyết định là sự lãnh đạo của Đảng, sự nỗ lực của toàn quân và dân ta, đã kiên cường anh dũng chiến đấu bền bỉ trong suốt 21 năm, đã tạo ra những thay đổi căn bản có lợi cho ta trong cán cân so sánh lực lượng giữa ta và địch, đã đập tan ý chí xâm lược của đế quốc Mỹ, tạo thời cơ thuận lợi để kết thúc chiến tranh. Thời cơ trong Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975, mà đỉnh cao là Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử được tạo bởi những đóng góp, sự hy sinh của nhiều người dân Việt Nam, trên cả hai miền đất nước từ năm 1954 đến năm 1975.
Sau khi Hiệp định Paris ngày 27-1-1973, quân Mỹ rút về nước, các đơn vị vũ trang miền Bắc vào Nam chiến đấu tiếp tục ở lại miền Nam làm cho so sánh lược lượng giữa quân giải phóng và quân ngụy Sài Gòn có thay đổi lớn, có lợi cho cách mạng. Trước tình hình đó, Bộ Chính trị Ban Chấp hàng Trung ương Đảng chủ trương xây dựng kế hoạch giải phóng miền Nam, đồng thời tiếp tục thực hiện một số chiến dịch quân sự để tìm hiểu phản ứng của Mỹ và sức mạnh của quân đội Sài Gòn như: Chiến dịch Nông Sơn - Thượng Đức (từ ngày 17-7 đến ngày 25-8-1974), La Sơn-Mỏ Tàu (từ ngày 28-8 đến ngày 28-9-1974). Cuối tháng 9 đầu tháng 10-1974, trên cơ sở đánh giá tình hình so sánh lực lượng trên chiến trường, Hội nghị Bộ Chính trị khẳng định: “Chúng ta đang có thời cơ. Hai mươi năm chiến đấu mới tạo được thời cơ này, chúng ta phải biết nắm lấy để đưa sự nghiệp giải phóng dân tộc đến thắng lợi hoàn toàn...”8. Hội nghị nhấn mạnh: “Động viên những nỗ lực lớn nhất của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ở cả hai miền, mở cuộc tổng tiến công và nổi dậy cuối cùng, đưa chiến tranh cách mạng phát triển đến mức cao nhất, tiêu diệt và làm tan rã toàn bộ quân nguỵ, đánh chiếm Sài Gòn, sào huyệt trung tâm của địch cũng như tất cả các thành thị khác, đánh đổ nguỵ quyền ở trung ương và các cấp, giành toàn bộ chính quyền về tay nhân dân, giải phóng hoàn toàn miền Nam, hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân trong cả nước, tiến tới thống nhất nước nhà. Ngay từ giờ, phải tiến hành mọi công việc chuẩn bị thật khẩn trương, tạo điều kiện và cơ sở vật chất đầy đủ nhất để đánh mạnh, đánh nhanh, thắng gọn và thắng triệt để trong hai năm 1975-1976”9.. Đến cuối tháng 12-1974 và đầu năm 1975, Bộ Chính trị tiếp tục họp bàn về kế hoạch giải phóng miền Nam. Hội nghị xác định Kế hoạch hoạt động năm 1975, trong đó Tây Nguyên được chọn làm hướng tiến công chủ yếu trong năm 197510 .
Thực hiện chủ trương trên của Bộ Chính trị, tháng 3-1975, quân và dân ta liên tiếp mở các Chiến dịch Tây Nguyên, chiến dịch Trị Thiên-Huế-Đà Nẵng giành thắng lợi cực kỳ to lớn, hàng chục tỉnh, thành phố, thị xã đã được giải phóng, gần một nửa binh lực của quân đội Sài Gòn trên toàn miền Nam bị tiêu diệt và tan dã. Trong quá trình đó, căn cứ vào diễn biến nhanh chóng của tình hình chiến trường có lợi cho ta, Bộ Chính trị đã chủ trương thúc đẩy nhanh quá trình giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước. Ngay khi Chiến dịch Tây Nguyên chưa kết thúc, ngày 18-3-1975, Bộ Chính trị đã hạ quyết tâm giải phóng hoàn toàn miền Nam ngay trong năm 1975 và chuyển kế hoạch hoạt động năm 1975 thành Tổng tiến công và nổi dậy trong toàn miền Nam. Đến ngày 31-3-1975, khi Chiến dịch Đà Nẵng trên đà thắng lợi, Bộ Chính trị xác định giải phóng miền Nam trong tháng 4-1975. Và, ngày 14-4-1975, Bộ Chính trị quyết định mở Chiến dịch Sài Gòn-Gia Định đánh thẳng vào sào huyệt của địch, kết thúc chiến tranh, giành thắng lợi trọn vẹn.
Những chủ trương trên của Bộ Chính trị được thực hiện bằng cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân năm 1975 diễn ra trong thời gian ngắn, trên tất cả các địa bàn miền Nam, với ba đòn chiến lược-ba chiến dịch kế tiếp: Chiến dịch Tây Nguyên, Chiến dịch Huế-Đà Nẵng và Chiến dịch Hồ Chí Minh. Thực chất, đây là ba đòn tiến công có ý nghĩa chiến lược, đánh dấu sự phát triển đến đỉnh cao nhất của nghệ thuật quân sự Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Trong đó, chiến dịch Hồ Chí Minh (từ ngày 26-4 đến ngày 30-4-1975) là một điển hình của chiến dịch tiến công hiệp đồng tác chiến giữa các lực lượng vũ trang nhân dân quy mô lớn.
Ba là, nét nổi bật về nghệ thuật chỉ đạo kết hợp chặt chẽ giữa tiến công và nổi dậy. Đó là sự kết hợp giữa những đòn tiến công quân sự bằng các trận đánh hiệp đồng binh chủng quy mô lớn của bộ đội chủ lực đánh thẳng vào các đô thị, trung tâm đầu não, căn cứ quân sự lớn của địch và kết hợp chặt chẽ với sự nổi dậy mạnh mẽ của quần chúng cách mạng, đập tan bộ máy kìm kẹp của nguỵ quân, ngụy quyền ở địa phương, cơ sở để giành quyền làm chủ. Để chỉ đạo các lực lượng đẩy nhanh tiến công, trong Điện gửi vào chiến trường 18 giờ 00 ngày 27-3-1975, Bộ Chính trị đã chỉ thị: “Phải nhanh chóng phát động quần chúng vũ trang nổi dậy, đập tan các lực lượng kìm kẹp ở cơ sở, chiếm lĩnh các công sở... và vận động binh sĩ địch bỏ súng đầu hàng, làm tan rã các đơn vị quân ngụy”11 . Sự nổi dậy mạnh mẽ của đông đảo nhân dân trên các địa bàn từ nông thôn đến thành thị đã tạo thuận lợi cho bộ đội chủ lực tập trung lực lượng vào mục tiêu chủ yếu của cuộc Tổng tiến công, nhanh chóng đập tan sự kháng cự của địch. Lực lượng du kích đã cùng nhân dân bao vây, bức hàng, vận động địch ra trình diện, giữ trật tự an toàn vùng mới giải phóng, bảo vệ các nhà máy, công sở, không để địch phá hoại v.v.. Để chuẩn bị cho giải phóng Sài Gòn-Gia Định, Trong Điện gửi Trung ương Cục miền Nam, 15 giờ 30 ngày 22-4-1975, Bộ Chính trị chỉ thị: “... Sẵn sàng phát động quần chúng nổi dậy kết hợp với các cuộc tiến công của quân đội. Sự hợp đồng giữa các hướng cũng như giữa tiến công và nổi dậy sẽ thực hiện trong quá trình hành động”12 .
Bốn là, nắm vững tư tưởng chiến lược tiến công, lãnh đạo, chỉ đạo kiên quyết tiến hành cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975 giành thắng lợi trọn vẹn. Đầu năm 1975, trên cơ sở đánh giá, so sánh lực lượng giữa ta và địch, nắm bắt thời cơ chiến lược để giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước, Bộ Chính trị, Quân uỷ Trung ương nhận định: “Nắm chắc thời cơ chiến lược mới tranh thủ thời gian cao độ nhanh chóng tập trung lực lượng vào phương hướng chủ yếu, hành động táo bạo bất ngờ, làm cho địch không kịp dự kiến, không kịp trở tay, hoàn thành nhiệm vụ giải phóng Sài Gòn trước mùa mưa”13. Ngày 14-4-1975, Bộ Chính trị thông qua Kế hoạch giải phóng Sài Gòn-Gia Định mang tên Chiến dịch Hồ Chí Minh nhằm tới mục tiêu cuối cùng là giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước. Thực hiện tư tưởng chỉ đạo “Thần tốc, táo bạo, bất ngờ, chắc thắng”, các đơn vị chủ lực của quân đội ta đã thực hiện cuộc hành quân thần tốc, tiến về giải phóng Sài Gòn.
Trong Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975, để thực hiện cách đánh “thần tốc, táo bạo, bất ngờ, chắc thắng”, ta đã huy động tổng lực gồm các đơn vị chủ lực tinh nhuệ đánh thọc sâu, kết hợp các lực lượng tại chỗ đánh chiếm các địa bàn then chốt ven đô, mở đường cho những binh đoàn chủ lực cơ động tiến theo các trục đường, đánh thẳng vào các mục tiêu đã lựa chọn trong nội đô. Việc kết hợp các lực lượng đánh từ ngoài vào với đánh từ trong ra làm cho quân địch bị chia cắt, phân tán và nhanh chóng bị đập tan. Đó là nét độc đáo sáng tạo về nghệ thuật lãnh đạo, chỉ đạo tiến công thần tốc, táo bạo và bất ngờ trong Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử. Cách đánh đó đã đưa lại hiệu quả to lớn, giành thắng lợi trong một thời gian ngắn. Thực hiện sự chỉ đạo của Đảng, 5 cánh quân chủ lực (5 quân đoàn) hùng mạnh của ta đồng loạt thực hiện tổng tiến công Sài Gòn-Gia Định - trung tâm đầu não của bộ máy chính quyền Sài Gòn và quân đội tay sai. Cuộc Tổng tiến công Sài Gòn-Gia Định có sự phối hợp chiến đấu của lực lượng vũ trang địa phương và phong trào nổi dậy của quần chúng nhân dân. Cuộc Tổng tiến công đã nhanh chóng đập tan sự kháng cự của địch, buộc nội các chính quyền Sài Gòn phải tuyên bố đầu hàng vô điều kiện. Đúng 11h30 ngày 30-4-1975, lá cờ của Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam tung bay trên nóc Dinh Độc lập, Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử kết thúc thắng lợi.
 Đại thắng Mùa xuân 1975 đã đi qua 45 năm, nhưng những bài học về sự lãnh đạo, chỉ đạo sáng suốt, đúng đắn của Đảng vẫn còn nguyên giá trị đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Trong giai đoạn hiện nay, đất nước đang đẩy mạnh sự nghiệp đổi mới, thực hiện CNH, HĐH và hội nhập quốc tế, tình hình an ninh, chính trị trong khu vực đang có những diễn biến phức tạp, nhất là những tranh chấp liên quan đến chủ quyền biển đảo, sự cạnh tranh ảnh hưởng của một số nước lớn ở một số khu vực đang diễn ra khá mạnh mẽ, thì việc nâng cao năng lực lãnh đạo, bản lĩnh trí tuệ, sức chiến đấu của Đảng có ý nghĩa hết sức quan trọng.
45 năm đã trôi qua, nhưng ký ức hào hùng và niềm tự hào về Đại thắng mùa Xuân 1975 vẫn còn nguyên giá trị. Chiến thắng này mãi mãi là động lực tinh thần to lớn để chúng ta kiên định, vững bước trên con đường mà Đảng và nhân dân ta đã chọn: độc lập dân tộc và CNXH; tiếp tục công cuộc đổi mới, thực hiện thắng lợi hai nhiệm vụ chiến lược là xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN trong giai đoạn cách mạng mới.
 
 
 
1, 2. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng Toàn tập, Nxb CTQG, H, 2004, T.37, tr. 472, 484
3. Sđd, T.15, tr. 225
4, 6, 7. Sđd, T.20, tr. 59-60, 82, 82
5. Sđd, T.21, Tr 488
8, 9, 10. Sđd, T. 35, tr. 177, 185, 195
11, 12. Sđd, T. 36, tr. 90, 167
13. Xem: Đại tướng Hoàng Văn Thái: Những năm tháng quyết định, Nxb QĐND, H, 1990, tr. 210.