Tóm tắt: Những năm đầu kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Đảng bộ Liên khu V chịu tổn thất nặng nề, nhiều tổ chức cơ sở của Đảng bị vỡ, nhưng Liên khu ủy V luôn kiên trì, quyết tâm bám sát quần chúng, xây dựng cơ sở, lãnh đạo phong trào. Tháng 7-1959, HNTƯ 15 của Đảng ra Nghị quyết “Về tăng cường đoàn kết, kiên quyết đấu tranh giữ vững hòa bình, thực hiện thống nhất nước nhà”. Nghị quyết 15 là một luồng gió mới thổi bùng lên ngọn lửa đấu tranh, để cán bộ, đảng viên và nhân dân Liên khu V nhất tề hành động, quyết tâm chuyển phong trào lên thế tiến công, xây dựng thế và lực, tạo nên cục diện mới cho cách mạng Liên khu V. Cùng với phong trào cách mạng của nhân dân, Đảng bộ Liên khu V ra sức khôi phục, củng cố các tổ chức đảng, phát triển đảng viên, giữ vững tư tưởng, nêu cao ý chí quyết tâm kháng chiến trong toàn Đảng bộ và nhân dân Liên khu.

Từ khóa: Đảng bộ; Liên Khu V; tổ chức đảng

1. Chủ trương của Trung ương Đảng và Liên khu ủy V
Sau Hiệp định Giơnevơ, tình hình cách mạng Liên khu V có thay đổi lớn: từ chiến tranh chuyển sang hòa bình; từ đấu tranh vũ trang chuyển sang đấu tranh chính trị; từ vùng tự do rộng lớn chuyển thành vùng địch kiểm soát; từ một Đảng nắm chính quyền, có quân đội, có đội ngũ đảng viên trên 20 vạn, hoạt động công khai phải chuyển vào bí mật...
Đế quốc Mỹ và chính quyền Sài Gòn phá hoại Hiệp định Giơnevơ, tiến hành chiến dịch “tố cộng” khủng bố, đàn áp phong trào cách mạng. Bị địch đánh phá ác liệt, cơ sở đảng và cốt cán quần chúng bị tổn thất nặng nề. Từ năm 1954 đến năm 1958, trên 20 vạn người bị địch bắt, giết và tù đày, trong đó có nhiều cán bộ nòng cốt, cơ sở quần chúng trung kiên của Đảng. Tính đến cuối năm 1958, các tỉnh đồng bằng Liên khu V có 3/4 cán bộ xã, 2/3 cán bộ huyện, 1/3 cán bộ tỉnh bị địch bắt, hoặc sát hại1. Thực trạng đó, ngoài nguyên nhân khách quan do địch đánh phá ác liệt là chủ yếu, Đảng bộ Liên khu V cũng có những khuyết điểm, lúng túng trước tình hình mới.
Theo nhận định của Trung ương Đảng tại Hội nghị 15 (mở rộng, đợt 1, tháng 1-1959), Đảng bộ Liên khu V thiếu kiên quyết và chưa kịp thời chuyển hướng tổ chức, hoạt động và lãnh đạo đấu tranh khi tình hình đã thay đổi; chưa giữ vững nguyên tắc bí mật, chưa tạo được thế hợp pháp cho quần chúng đấu tranh và che giấu lực lượng của Đảng2. Trong một thời gian khá dài, Đảng bộ lãnh đạo quần chúng đấu tranh với những khẩu hiệu chính trị cao, ra mặt đối lập với địch, làm bộc lộ lực lượng trong khi địch khủng bố dữ dội, phong trào cách mạng bị tổn thất.
Ngày 15-7-1959, Hội nghị 15 (đợt 2), thông qua Nghị quyết “Về tăng cường đoàn kết, kiên quyết đấu tranh giữ vững hòa bình, thực hiện thống nhất nước nhà”. Nghị quyết khẳng định: Để đảm bảo cho cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam thành công, sự lãnh đạo của một Đảng Mác-Lênin vững mạnh là một nhân tố quyết định. Không ngừng củng cố và phát triển đảng, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, tăng cường mối quan hệ khăng khít giữa Đảng và quần chúng, đó là vấn đề chủ yếu có tính chất quyết định cho sự thắng lợi của cách mạng3.
Công tác tổ chức của Đảng phải gắn bó mật thiết với quần chúng, nắm vững phương châm khéo công tác, khéo che giấu lực lượng, bảo tồn cơ sở và tích trữ lực lượng để có thể đấu tranh lâu dài và giành  thắng lợi cuối cùng, càng đấu tranh càng mở rộng cơ sở và mở rộng phong trào, chứ không thể làm tiêu hao lực lượng và bó hẹp phong trào, phải khéo léo kết hợp các hình thức đấu tranh hợp pháp nửa hợp pháp và không hợp pháp. Vấn đề củng cố và tăng cường sự lãnh đạo của các cấp đảng bộ, nhất là của chi bộ là điểm mấu chốt, có ý nghĩa hết sức cấp bách đối với sự nghiệp cách mạng dân tộc dân chủ ở miền Nam.
Tình hình cách mạng và công tác xây dựng Đảng ở Liên khu V được Trung ương sát sao chỉ đạo. Ngày 28-4-1960, Trung ương Đảng gửi điện mật cho Xứ ủy Nam Bộ và Liên khu ủy V, nêu rõ: trong lúc phong trào đồng khởi đang diễn ra hết sức mạnh mẽ, nhất là ở đồng bằng Nam Bộ và miền núi Liên khu V, hệ thống chính quyền cơ sở của địch đang rệu rã, suy sụp, khí thế cách mạng của đảng viên và quần chúng đang lên rất cao, ta vẫn cần “tiếp tục duy trì tổ chức Đảng tuyệt đối bí mật, tổ chức quần chúng công khai và hợp pháp; Đảng thông qua những phần tử trung kiên mà lãnh đạo các tổ chức quần chúng”4.
Nắm sát những chuyển biến trong phong trào cách mạng và xây dựng Đảng của Đảng bộ Liên khu V, trong Chỉ thị, ngày 24-1-1961, “Về phương hướng và nhiệm vụ trước mắt của cách mạng miền Nam”, Bộ Chính trị nhận định: cơ sở của Đảng và quần chúng ở vùng rừng núi Khu V đã mạnh hơn trước nhưng chưa thật đầy đủ, ở đô thị và vùng đồng bằng Liên khu V còn yếu. Bộ Chính trị yêu cầu, phải ra sức xây dựng cơ sở của Đảng và quần chúng, nhất là ở những nơi còn yếu như ở vùng đồng bằng, ở các thị xã và dọc các trục giao thông quan trọng. Việc xây dựng lực lượng ở những nơi này vừa phải thận trọng, vừa phải khẩn trương. Phải nắm vững đường lối giai cấp, nguyên tắc bí mật trong việc xây dựng Đảng. Cần chọn một số đảng viên có điều kiện để đưa về các vùng cơ sở đảng còn yếu. Đồng thời phải tăng cường công tác tư tưởng, đẩy mạnh xây dựng lực lượng, mạnh dạn phát động quần chúng đấu tranh về mọi mặt, không rụt rè, chậm trễ; tích cực tiêu diệt sinh lực địch, sẵn sàng mọi điều kiện để nhân thời cơ thuận lợi kịp thời giành thắng lợi lớn cho cách mạng. Đồng thời phải đề phòng tư tưởng nôn nóng, phiêu lưu mạo hiểm, không thấy tính chất khó khăn, phức tạp, lâu dài trên bước đường phát triển của cách mạng. Phải đề cao tinh thần tự lực cánh sinh... quyết tâm khắc phục khó khăn, vững lòng tin tưởng, đưa cách mạng đến toàn thắng5.
Quán triệt sự chỉ đạo của Trung ương Đảng, tháng 5-1960, Hội nghị Liên khu ủy V mở rộng họp, bàn về chủ trương đưa phong trào cách mạng tiếp tục tiến lên. Nghị quyết Hội nghị đề ra 5 công tác chính, trong đó đặt mục tiêu công tác xây dựng Đảng: “Xây dựng Đảng vững mạnh về tư tưởng và tổ chức, gắn chặt vào quần chúng, đủ sức lãnh đạo phong trào”6.
Về tư tưởng, phải thấm nhuần đường lối, phương châm; nêu cao dũng khí quyết tâm thắng địch; vượt mọi gian khổ, khắc phục tư tưởng rụt rè, nôn nóng; tăng cường đoàn kết nhất trí nội bộ; nâng cao phương pháp công tác, nhất là công tác bí mật, đi đúng đường lối quần chúng; học tập kinh nghiệm thực tế; kết hợp học tập lý luận, nâng cao lập trường tư tưởng.
Về tổ chức lực lượng, tại các địa bàn cơ sở, phải tích cực phát triển lực lượng và xây dựng tổ chức, trước hết nhằm vào những vùng giáp ranh, nơi phong trào khá nhưng bị đứt, ở đồng bằng nơi đông dân, dọc các đường giao thông, những thành phố quan trọng, nơi có cơ sở ở miền núi.
Xây dựng, phát triển chi bộ thành hạt nhân phong trào và tiến đến tự động công tác. Xây dựng chi bộ ở những nơi có cơ sở, có phong trào quần chúng. Thường xuyên bồi dưỡng, củng cố chi bộ: bền bỉ chiến đấu, gan góc chịu đựng, nắm vững đường lối phương châm, sách lược, giữ vững bí mật, đề phòng nội gián, gọn, nhẹ, trọng chất hơn lượng, được quần chúng che chở, liên hệ mật thiết với quần chúng và lãnh đạo quần chúng thông qua trung kiên, đoàn kết nhất trí, có lực lượng dự bị để sẵn sàng thay thế. Chú trọng xây dựng chi bộ, đồng thời phải tích cực sử dụng đảng viên đơn tuyến, nhất là đối với thành phố và nông thôn đồng bằng, chú ý xây dựng Đoàn Thanh niên Lao động.
Xã ủy là trung tâm lãnh đạo phong trào ở xã, nên nơi nào có hai chi bộ trở lên cần thành lập xã ủy; phải đặc biệt bồi dưỡng các đồng chí vững vàng, dày dạn kinh nghiệm, bố trí tham gia xã ủy; tổ chức giao thông liên lạc giữa xã ủy với chi bộ, xây dựng kế hoạch thoát ly cho xã ủy viên khi bị lộ. Tăng cường sự chỉ đạo ở các cấp, nắm sát tình hình từ dưới lên trên, chỉ đạo thông suốt và nhanh chóng từ trên xuống dưới. Phải xây dựng hành lang, kiện toàn và phát triển giao thông liên lạc bằng mọi phương tiện, nhất là giữa tỉnh, huyện, xã, tận dụng mọi khả năng giao thông hợp pháp ở đồng bằng, thành thị. Đề cao ý thức tổ chức và kỷ luật, chấp hành nghiêm chỉnh chế độ báo cáo, thỉnh thị; tổng kết kinh nghiệm, trao đổi và phổ biến kịp thời; bảo đảm dân chủ, tăng cường vai trò của cấp ủy.
Tiếp đó, Thường vụ Liên khu ủy V ra Chỉ thị về “Ra sức xây dựng Đảng vững mạnh về tư tưởng, tổ chức, gắn chặt vào quần chúng, đủ sức lãnh đạo phong trào”, xác định: “Xây dựng Đảng vững mạnh về tư tưởng và tổ chức, gắn chặt vào quần chúng, đủ sức lãnh đạo phong trào là nhiệm vụ công tác trung tâm có tính chất quyết định”7. Phương châm xây dựng Đảng: “Tinh gọn, bí mật, vững chắc, trọng chất hơn lượng, gắn chặt vào quần chúng. Đối với từng vùng cần chú ý: ở thành phố, tổ chức cơ sở chặt phải thật vững, hết sức bí mật để tồn tại lâu dài; ở nông thôn, đồng bằng phải gọn, nhẹ, bí mật, khéo công tác, khéo che giấu; ở miền núi, tổ chức và sinh hoạt Đảng, Đoàn phải bí mật, các lực lượng thoát ly không được bộc lộ và giữ vững kỷ luật bí mật. Xây dựng tư tưởng là chủ yếu, đồng thời chú trọng tổ chức nhất là tổ chức cơ sở Đảng. Vừa củng cố vừa phát triển (tức là vừa ra sức giáo dục, chỉnh đốn và bảo vệ tổ chức sẵn có, vừa hết sức nỗ lực phát triển). Gắn liền công tác xây dựng Đảng với những nhiệm vụ căn bản khác và phong trào đoàn kết đấu tranh của quần chúng; trên cơ sở phong trào quần chúng được củng cố và phát triển mà xây dựng, củng cố và phát triển Đảng”8.
Những định hướng của Trung ương, và quan điểm chỉ đạo cụ thể của Đảng ủy Liên khu V là cơ sở để Đảng bộ, nhân dân Liên khu xúc tiến xây dựng, khôi phục tổ chức đảng, giữ vững vai trò lãnh đạo, đưa phong trào cách của nhân dân Liên khu phát triển mạnh mẽ giành những thắng lợi vang dội trong phong trào Đồng khởi.

2. Khôi phục, phát triển tổ chức Đảng tại Liên khu V
Cuối năm 1958, qua nhiều lần bị địch khủng bố, hầu hết các chi bộ đều bị vỡ, phải tái lập nhiều lần, số còn lại cũng bị đứt liên lạc. Ở đồng bằng, các tỉnh khá như Quảng Trị chỉ còn gần 20 chi bộ thôn; Quảng Ngãi còn khoảng 15 chi bộ; các tỉnh còn lại trung bình chỉ còn từ 3 đến 5 chi bộ, mỗi chi bộ cũng chỉ còn 3, 4 đảng viên; có tỉnh không còn chi bộ, chỉ có đảng viên đơn tuyến; có tỉnh chỉ còn một số ban cán sự hội, đoàn thể quần chúng ở thôn. Riêng ở miền núi địch chưa kiểm soát hết, cán bộ, đảng viên có điều kiện bám sát làm công tác thượng du vận nên đã củng cố tổ chức và xây dựng thêm được một số chi bộ. Tuy vậy, số đảng viên và chi bộ còn quá ít, tỉnh nhiều như Gia Lai có khoảng 300 đảng viên nhưng phát triển không đều, chỉ có ở vùng căn cứ và vùng cơ sở cũ9.
Về cán bộ: Ở Tây Nguyên và miền Tây các tỉnh bị tổn thất ít, khoảng 30 cán bộ kể cả tỉnh, huyện, xã. Ở vùng trung châu và thành phố, cán bộ bị tổn thất nặng, mất 90% cán bộ xã, có nơi gần 100%; cán bộ huyện bị tổn thất trên 70%, có nơi 80%, có những huyện gần như hết sạch; số cán bộ tỉnh bị tổn thất ít hơn, khoảng trên 30%, có tỉnh cũng đến 70%. Cấp liên tỉnh, cấp khu cũng có những đồng chí bị bắt hoặc bị hy sinh.
Trong số đồng chí bị bắt, có nhiều đồng chí tỏ ra gan dạ, anh dũng đã có tác dụng rất lớn trong việc phát huy ảnh hưởng Đảng gây tin tưởng trong quần chúng. Nhưng cũng có những cán bộ đảng viên non kém hoặc đầu hàng, khai báo hoặc xoay ra tố cộng, thậm chí có cán bộ tỉnh ủy viên, huyện ủy viên phản cách mạng làm tay sai cho địch, gây tác hại rất lớn cho phong trào quần chúng.
Về các cơ quan chỉ đạo của Đảng, ở miền núi được duy trì và củng cố, giữ được hệ thống chỉ đạo từ tỉnh đến cơ sở; ở trung châu cấp liên khu và cấp tỉnh còn duy trì được nhưng đến cấp huyện thì rất còn rất ít. Những huyện khá là còn khoảng 5 đến 7 huyện ủy viên và từ 3 đến 5 cán bộ xã, phần nhiều chỉ còn được 3, 4 huyện ủy viên và vài ba cán bộ xã, có những huyện không còn huyện ủy viên và cán bộ xã nào.
Do hoạt động trong hoàn cảnh chiến tranh, khó khăn, ác liệt, trên địa bàn đặc thù đông đồng bào thiểu số, cán bộ chưa có điều kiện học tập, nên nhiều cán bộ đảng viên chưa thấm nhuần đường lối, phương châm tổ chức, hoạt động trước tình hình có nhiều thay đổi. Có nơi cấp ủy còn lúng túng, chưa quyết tâm tấn công địch để bảo vệ và phát triển lực lượng. Phương pháp công tác tuy có tiến bộ nhưng chưa theo kịp với tình hình mới. Tư tưởng rụt rè hoặc nôn nóng, hành động lộ liễu, chưa nắm vững nguyên tắc bí mật bộc lộ trên nhiều mặt công tác. Công tác giáo dục tinh thần tự lực cánh sinh, công tác tư tưởng ở cơ sở tiến hành chậm chạp, lúng túng. Cơ sở đảng phát triển chưa đều giữa các địa phương: ở đồng bằng, chi bộ còn ít, lực lượng trung kiên và cơ sở quần chúng còn yếu nên chưa mở rộng được địa bàn hoạt động. Những vùng bàn đạp, giáp ranh, miền núi, vùng dân tộc... cơ sở yếu hoặc chưa có. Cán bộ, đảng viên, cơ sở hoạt động ở thành thị, trong binh lính và trong chính quyền địch còn rất mỏng. Nhiều cán bộ cơ sở chưa trải qua thử thách, hiểu biết về Đảng còn ít; thiếu kinh nghiệm lãnh đạo, hạn chế trong vận động quần chúng đấu tranh. Đảng bộ Liên khu chưa kịp thời tổng kết thực tiễn, phổ biến kinh nghiệm10.
Sau khi Nghị quyết 15 được quán triệt, công tác Đảng ở Liên khu V có những chuyển biến tích cực, thúc đẩy mọi mặt công tác của Liên khu lên một bước mới. Phong trào đấu tranh giành quyền làm chủ của nhân dân miền Tây các tỉnh đồng bằng ven biển Liên khu V và các tỉnh Tây Nguyên đã tạo điều kiện thuận lợi, tạo tiền đề cho sự xây dựng và phát triển lực lượng chính trị, lực lượng vũ trang và công tác xây dựng Đảng.
Cùng với sự phát triển của phong trào cách mạng, tổ chức cơ sở đảng được củng cố, khôi phục, mở rộng; cán bộ đã dựa vào quần chúng, bám sát, chỉ đạo phong trào; cơ sở ở vùng dân tộc bắt đầu phát triển.
Đầu năm 1959, toàn Đảng bộ Liên khu V có 3.600 đảng viên và 530 chi bộ11. Đầu năm 1960, miền Tây Quảng Nam có 523 đảng viên với 83 chi bộ và nhiều đảng viên hoạt động đơn tuyến. Tháng 2-1960, Đảng bộ Quảng Ngãi có 2.766 đảng viên. Giữa năm 1960, Đảng bộ Thừa Thiên-Huế đã xây dựng được 15 chi bộ xã, 2 chi bộ giao thông với 150 đảng viên ở miền núi của tỉnh và nhiều cơ sở ở đồng bằng, đô thị. Tỉnh Kon Tum đã xây dựng và phát triển được 524 đảng viên trong 82 chi bộ. Tỉnh Bình Định khôi phục được 200 đảng viên, 476/646 thôn đã có cơ sở. Cuối năm 1960, toàn tỉnh Gia Lai có 902/1.062 làng xây dựng được cơ sở đảng, cơ sở chính trị.
 Đội ngũ cán bộ được rèn luyện, trưởng thành. Một số đồng chí được đề bạt vào các cấp ủy. Về điều kiện hoạt động, cán bộ sống hợp pháp có nhiều cơ hội được đào tạo, cán bộ dân tộc đã trưởng thành, nhiều cơ sở, cán bộ tại chỗ đã tự đảm nhiệm công việc ở xã và có đồng chí tham gia cấp ủy cấp trên. Cơ quan tỉnh ủy, huyện ủy đã được kiện toàn, năng lực chỉ đạo thực tiễn, thực hiện đường lối quần chúng, nguyên tắc tập trung dân chủ có tiến bộ.
Đến cuối năm 1960, ở Tây Nguyên và miền Tây các tỉnh đồng bằng có 5.721 thôn thì có 1.682 thôn có sơ sở đảng, với 765 chi bộ, 5.130 đảng viên, 5.250 đoàn viên thanh niên nhân dân cách mạng và 23.000 trung kiên, nòng cốt và 12.000 du kích12.
Ở vùng đồng bằng, cơ sở cách mạng và cơ sở đảng cũng được khôi phục và phát triển. Đến cuối năm 1960, từ Quảng Trị đến Bình Thuận, trong tổng số 3.829 thôn, có 904 thôn có tổ chức cơ sở, xây dựng lại 102 chi bộ với 761 đảng viên, 600 đoàn viên thanh niên nhân dân cách mạng, 5.100 cốt cán quần chúng, 310 tự vệ mật13. Cuối năm 1961, ở vùng trung châu đồng bằng có khoảng 1.000 thôn có cơ sở cách mạng trong tổng số trên 3.000 thôn với 761 đảng viên và 661 đoàn viên trong tổng số 5.310 cơ sở trung kiên cốt cán quần chúng. Tổng số đảng viên vùng Nam Tây Nguyên là 800, trong số đó, từ đường 21 trở đi vào có 443 đảng viên.
Đến cuối năm 1961, Đảng bộ Liên khu V có khoảng 12.000 đảng viên, trong đó có 5.891 đảng viên ở cơ sở (miền núi 5.130, đồng bằng 761), trên 3.000 đảng viên trong lực lượng vũ trang. Về cơ quan lãnh đạo các cấp, mỗi tỉnh ủy có từ 7 đến 14 tỉnh ủy viên; mỗi huyện ủy có từ 5 đến 9 huyện ủy viên. Ở một số xã căn cứ có xã ủy, số xã còn lại ở miền núi và đồng bằng mỗi xã có từ 2 đến 3 cán bộ thoát ly phụ trách14.
Tổ chức chi bộ, vẫn tiếp tục lấy thôn làm cơ sở. Toàn Liên khu có 867 chi bộ, trong đó có 765 chi bộ ở miền núi, 102 chi bộ ở đồng bằng. Chi bộ cơ sở có chi ủy, mỗi chi bộ có từ 3 đến 12 đảng viên. Riêng chi bộ đồng bằng chỉ có bí thư, mỗi chi bộ có từ 3 đến 5 đảng viên; và có khá đông đảng viên sinh hoạt đơn tuyến15. Về thành phần, đảng viên bần cố nông chiếm hơn 50%. Đảng viên mới kết nạp sau hòa bình chiếm 50%. Đa số đảng viên đã trải qua thử thách, được rèn luyện qua công tác, thực tiễn đấu tranh; kiên định lập trường tư tưởng.
Ở miền núi, phong trào phát triển mạnh nên số lượng đảng viên và chi bộ tăng. Đảng viên và chi bộ ở miền núi đã đảm đương việc tổ chức và lãnh đạo quần chúng thực hiện các nhiệm vụ công tác cách mạng. Có những chi bộ, đảng viên không chỉ lãnh đạo sản xuất giỏi, vận động học tập văn hóa khá, đoàn kết nhân dân tốt mà còn lãnh đạo nhân dân bố phòng chiến đấu tốt. Đảng viên trong các đơn vị bộ đội, cơ quan, ngành giao thông liên lạc tương đối đều, phổ biến là tỷ lệ 15%...
Trong hoàn cảnh chiến tranh, công tác xây dựng tổ chức đảng ở Liên khu V được tiến hành thường xuyên, liên tục. Trong những năm 1959-1961,  Đảng bộ Liên khu V vừa xây dựng tổ chức, lực lượng, vừa lãnh đạo phong trào cách mạng; đồng thời từ trong phong trào cách mạng, các tổ chức đảng, nhất là cấp cơ sở, đã nhanh chóng được khôi phục và phát triển. Nhưng do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan, công tác xây dựng Đảng ở Liên khu V còn nhiều khuyết điểm, phải khắc phục trong thời gian dài; nhiều vấn đề bất cập nảy sinh trong thực tiễn công tác đòi hỏi phải chỉnh đốn, củng cố, kiện toàn. Đó là tình trạng phần đông cán bộ, đảng viên chưa có điều kiện học tập, nâng cao trình độ lý luận, huấn luyện chính trị, nên trình độ, năng lực lãnh đạo quần chúng của đảng viên trong một số khu vực, địa bàn còn nhiều bất cập so với yêu cầu kháng chiến. Đảng bộ đã có nhiều tiến bộ trong xây dựng tổ chức, nhưng cơ sở đảng không đều. Địa bàn Bắc Tây Nguyên, cơ sở đảng chủ yếu được xây dựng mạnh ở khu vực đồng bào Thượng. Xây dựng chi bộ, phát triển đảng viên ở vùng trung châu đồng bằng và thành thị còn rất chậm, phong trào còn yếu, nguyên nhân là do quan điểm cầu toàn, đặt yêu cầu cao hơn so với điều kiện thực tế công tác. Cách thức, lề lối sinh hoạt đảng của chi bộ ở đồng bằng chưa kịp chuyển biến thích hợp với tình hình của phong trào đang chuyển lên16. Tỷ lệ đảng viên trong các đơn vị bộ đội còn thấp so với yêu cầu...
Thực tiễn cách mạng ở Liên khu V thời gian này cho thấy, từ sau khi Nghị quyết 15 đi vào thực tiễn, đã bùng lên cao trào Đồng khởi trên toàn miền Nam, cách mạng miền Nam chuyển từ thế giữ gìn lực lượng sang thế tiến công, phong trào cách mạng ở Liên khu V đã có những chuyển biến mạnh mẽ. Đảng bộ Liên khu từ chỗ bị thiệt hại nặng nề đã nhanh chóng được khôi phục và phát triển mạnh. Điều đó đòi hỏi Đảng bộ Liên khu V phải tạo được bước chuyển mạnh mẽ hơn nữa trong công tác xây dựng Đảng cả về tư tưởng, chính trị và tổ chức; tăng cường vai trò và sức mạnh của các cấp ủy, cấp bộ đảng trong toàn Liên khu, tích cực tổng kết thực tiễn, kịp thời đúc kết kinh nghiệm và sửa chữa, khắc phục quyết liệt hơn những vấn đề bất cập về lề lối, tác phong công tác, chú trọng vận động quần chúng... để đưa phong trào Liên khu phát triển mạnh mẽ hơn, góp phần đưa cách mạng miền Nam tiến lên giành thắng lợi trong giai mới với thế và lực mới, chủ động đối phó và đánh bại các chiến lược chiến tranh của đế quốc Mỹ.
 
 
1. Xem Ban Chấp hành Đảng bộ Khu V: “Báo cáo bổ sung những nét lớn về công tác xây dựng Đảng trong 19 năm qua và phương hướng, nhiệm vụ công tác xây dựng Đảng sắp tới của Đảng bộ Khu V”. Tài liệu lưu tại Viện Lịch sử Đảng, ký hiệu K5/26.5
2, 3. Xem Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập, Nxb CTQG, H, 2002, T.  20, tr. 52-53,85,
4, 6. Sđd, T. 21, tr. 302, 1124
5. Xem Sđd, T. 22, tr. 687-690
7, 8, 9, 11. Ban Chấp hành Đảng bộ Liên khu V: “Báo cáo tình hình công tác Đảng của Đảng bộ Liên khu V từ hòa bình lập lại đến nay (1961)”. Tài liệu lưu tại Cục Lưu trữ-Văn phòng Trung ương Đảng, P. 51, ML 01, ĐVBQ 188
10. Xem Ban Chấp hành Đảng bộ Liên khu V: “Chỉ thị về ra sức xây dựng Đảng vững mạnh về tư tưởng tổ chức, gắn chặt vào quần chúng, đủ sức lãnh đạo phong trào”. Tài liệu Lưu trữ tại viện Lịch sử Đảng, ký hiệu K5/13.3
12, 13, 14, 15, 16. Xem Ban Chấp hành Đảng bộ Liên khu V: “Báo cáo tình hình Liên khu V từ sau hòa bình lập lại đến nay (9-1961)”, Tài liệu lưu tại Cục Lưu trữ-Văn phòng Trung ương Đảng, P. 51, ML 01, ĐVBQ 190.