Tóm tắt: Thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội là thời kỳ lịch sử đặc biệt, thể hiện tính chất, đặc điểm, con đường, phương pháp cách mạng nhằm thực hiện các mục tiêu của sự nghiệp xây dựng xã hội mới-xã hội chủ nghĩa trên toàn thế giới. Kiên định và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, trải qua nhiều khó khăn, thử thách, Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Hiện nay, việc tiếp tục nghiên cứu những quan điểm, tư tưởng Hồ Chí Minh về thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội có ý nghĩa to lớn cả về lý luận và thực tiễn, soi sáng con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.
1. Tư tưởng Hồ Chí Minh về thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam
Những quan điểm, tư tưởng của Hồ Chí Minh về thời kỳ quá độ lên CNXH là một nội dung hết sức quan trọng, quyết định thắng lợi của sự nghiệp xây dựng CNXH ở Việt Nam. Đó là sản phẩm sáng tạo của trí tuệ Hồ Chí Minh trên cơ sở kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống dân tộc, tiếp thu kinh nghiệm cách mạng XHCN trên thế giới, là sự vận dụng sáng tạo lý luận Mác-Lênin về CNXH và thời kỳ quá độ lên CNXH vào thực tiễn Việt Nam. Quan điểm đó được thể hiện trên những nội dung cơ bản sau:
Hồ Chí Minh khẳng định tính tất yếu, đặc điểm, mâu thuẫn và nhiệm vụ của thời kỳ quá độ lên CNXH ở Việt Nam. Người khẳng định tính tất yếu của thời kỳ quá độ lên CNXH ở Việt Nam là thời kỳ cải biến cách mạng từ xã hội thuộc địa nửa phong kiến sang xã hội XHCN. Cương lĩnh đầu tiên của Đảng do Hồ Chí Minh soạn thảo năm 1930 đã khẳng định chủ trương: “làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản”1. Đặc điểm và mâu thuẫn của thời kỳ quá độ lên CNXH ở Việt Nam đã được Hồ Chí Minh chỉ rõ, là “từ một nước nông nghiệp lạc hậu tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội, không phải kinh qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa”2. Đặc điểm này chi phối và tác động đến mọi lĩnh vực của đời sống xã hội và làm nảy sinh nhiều mâu thuẫn. Mâu thuẫn cơ bản nhất trong thời kỳ quá độ lên CNXH ở Việt Nam là mâu thuẫn giữa nhu cầu phát triển cao của đất nước và thực trạng kinh tế-xã hội thấp kém. Do đó: “xây dựng chủ nghĩa xã hội là một cuộc đấu tranh cách mạng phức tạp, gian khổ và lâu dài”3, bởi vì: “chúng ta phải xây dựng một xã hội hoàn toàn mới xưa nay chưa từng có trong lịch sử dân tộc ta. Chúng ta phải thay đổi triệt để những nếp sống, thói quen, ý nghĩ và thành kiến có gốc rễ sâu xa hàng ngàn năm... biến nước ta từ một nước nông nghiệp lạc hậu thành một nước công nghiệp”4. Người chỉ rõ: “Tiến lên chủ nghĩa xã hội, không thể một sớm, một chiều. Đó là cả một công tác tổ chức và giáo dục”5; “Việt Nam ta vốn là một nước nông nghiệp lạc hậu, công cuộc đổi xã hội cũ thành xã hội mới gian nan, phức tạp hơn việc đánh giặc”6; “Chủ nghĩa xã hội không thể làm mau được mà phải làm dần dần”7.
Nhận thức đúng tính chất lâu dài, gay go, phức tạp của thời kỳ quá độ là cơ sở khách quan để ngăn ngừa những biểu hiện chủ quan, nóng vội, duy ý chí muốn có ngay CNXH mà bất chấp quy luật khách quan. Đồng thời chỉ ra yêu cầu cần phải nắm vững đặc điểm này để tìm ra phương thức, con đường, hình thức bước đi và các biện pháp phù hợp để xây dựng thành công CNXH.
Nhiệm vụ lịch sử của thời kỳ quá độ lên CNXH ở Việt Nam theo Hồ Chí Minh gồm: Một là, xây dựng nền tảng vật chất và kỹ thuật, xây dựng các tiền đề kinh tế, chính trị, văn hoá cho CNXH; Hai là, cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới, kết hợp xây dựng với cải tạo, trong đó lấy xây dựng làm trọng tâm, làm nội dung cốt yếu, lâu dài. Đề cập các nhiệm vụ nói trên, Người viết: “... phải xây dựng nền tảng vật chất và kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội... Trong quá trình cách mạng xã hội chủ nghĩa, chúng ta phải cải tạo nền kinh tế cũ và xây dựng nền kinh tế mới, mà xây dựng là nhiệm vụ chủ chốt và lâu dài”8.
Hồ Chí Minh xác định các nội dung chủ yếu của thời kỳ quá độ lên CNXH ở Việt Nam. Người tiếp cận CNXH từ những đặc trưng, bản chất của CNXH. Theo cách tiếp cận này cho thấy, CNXH không chỉ đơn thuần là một xã hội khác, trái với CNTB mà bản chất của CNXH là một xã hội vừa cao hơn về trình độ, vừa “đẹp hơn”, ưu việt hơn CNTB trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, từ kinh tế, chính trị, xã hội đến văn hóa, đạo đức. Là sự nghiệp cách mạng mang tính toàn diện trên những nội dung chủ yếu sau:
Về kinh tế, theo Hồ Chí Minh là phải xây dựng nền tảng vật chất kỹ thuật của CNXH... có công nghiệp và nông nghiệp hiện đại; nhấn mạnh tăng năng suất lao động trên cơ sở công nghiệp hóa XHCN... Người chủ trương phát triển kinh tế nhiều thành phần trong thời kỳ quá độ. Trong đó, đặc biệt ưu tiên phát triển kinh tế quốc doanh và các hình thức sở hữu tập thể của nhân dân lao động, làm nền tảng cơ sở kinh tế-xã hội cho CNXH. Trong tổ chức hợp tác xã, Người nhấn mạnh nguyên tắc dần dần, từ thấp đến cao, tự nguyện cùng có lợi. Đảng, Nhà nước chú trọng hướng dẫn, giúp đỡ các nhà tư sản công thương nghiệp cải tạo theo CNXH bằng hình thức tư bản nhà nước, góp phần xây dựng nước nhà.
Hồ Chí Minh rất coi trọng mối quan hệ phân phối và quản lý kinh tế, khẳng định chủ trương thực hiện nguyên tắc phân phối theo lao động: làm nhiều hưởng nhiều, làm ít hưởng ít, không làm không hưởng; bên cạnh đó, chú ý thực hiện chính sách ưu tiên người có công với cách mạng, tương trợ, giúp đỡ đồng bào có hoàn cảnh khó khăn… Năm 1957, khi đề cập vấn đề khoán trong sản xuất, Người viết: “Chế độ làm khoán là một điều kiện của chủ nghĩa xã hội... Làm khoán là ích chung và lại lợi riêng...; làm khoán tốt thích hợp và công bằng dưới chế độ ta hiện nay”9. Đây là quan điểm quan trọng, thể hiện tầm nhìn trong việc giải phóng sức sản xuất, tạo động lực cho kinh tế phát triển, vận hành theo đúng quy luật tự nhiên, phù hợp với điều kiện kinh tế-xã hội Việt Nam trong giai đoạn này.
Về chính trị, theo Hồ Chí Minh, trong thời kỳ quá độ, Đảng Cộng sản Việt Nam là Đảng cầm quyền, trước hết phải giữ vững, phát huy và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng. Mối quan tâm hàng đầu của Người là làm sao cho Đảng thật trong sạch, không bị các bệnh quan liêu, xa dân, thoái hoá biến chất... làm mất lòng tin của dân, làm suy giảm năng lực lãnh đạo của Đảng. Đặc biệt, chú trọng đào tạo, bồi dưỡng, xây dựng đội ngũ cán bộ của Đảng, Nhà nước, đoàn thể từ Trung ương tới cơ sở “vừa hồng, vừa chuyên”, xứng đáng là người lãnh đạo, người đầy tớ trung thành, công bộc tận tụy của dân. Đồng thời, nâng cao vai trò quản lý của Nhà nước, xây dựng Nhà nước ngày càng trong sạch, vững mạnh, hoạt động hiệu quả, hiệu lực, thực sự là Nhà nước của dân, do dân, vì dân; thể chế hóa và hiến định các quyền của công dân, kể cả quyền tham chính; việc thực thi quyền lực nhà nước do dân ủy quyền của các quan chức, công chức phải được giám sát, kiểm soát. Phát huy dân chủ, thực hành dân chủ rộng rãi, chăm lo dân sinh, nâng cao dân trí, tôn trọng nhân quyền và dân quyền. Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm việc củng cố mở rộng Mặt trận dân tộc thống nhất với nòng cốt là liên minh công nhân-nông dân-trí thức, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam nhằm không ngừng tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân vì sự nghiệp xây dựng CNXH.
Về văn hoá-xã hội, Hồ Chí Minh khẳng định phải triệt để xóa bỏ nền văn hóa nô dịch, lạc hậu, xây dựng nền văn hóa mới XHCN, xây dựng lối sống mới và con người mới XHCN. Người nhấn mạnh vai trò của nền văn hóa mới văn hóa soi đường cho quốc dân đi, đặc biệt nhấn mạnh xây dựng con người mới, đề cao vai trò của văn hóa, giáo dục và khoa học kỹ thuật trong phát triển đất nước, coi trọng việc nâng cao dân trí, đào tạo, sử dụng nhân tài trong xây dựng CNXH.
Hồ Chí Minh chỉ ra bước đi, biện pháp và động lực của thời kỳ quá độ đi lên CNXH ở Việt Nam. Trên cơ sở nhận thức đúng đắn tính chất khó khăn, lâu dài, phức tạp của thời kỳ quá độ, Người xác định bước đi trong xây dựng CNXH ở nước ta phải: dần dần, thận trọng từng bước một, từ thấp đến cao, không được chủ quan nôn nóng, đốt cháy giai đoạn. Phải thực hiện “Đi bước nào phải thật vững chắc bước ấy”10.
Về bước đi trong cải tạo nông nghiệp, “...lúc đầu là cải cách ruộng đất, sau tiến lên một bước là tổ chức tổ đổi công sao cho tốt, cho khắp, lại tiến lên hình thức hợp tác xã dễ dàng, rồi tiến lên hợp tác xã cao hơn...”11. Về bước đi trong phát triển công nghiệp, Hồ Chí Minh sớm nhắc nhở phải đề phòng bệnh duy ý chí, chủ quan, nóng vội. Mặc dù đề cập việc tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên CNXH, nhưng Người lưu ý “Tiến nhanh, tiến mạnh không phải là phiêu lưu, làm ẩu. Phải thiết thực đi từng bước, phải tiến vững chắc. Phải nắm vững quy luật phát triển của cách mạng, phải tính toán cẩn thận những điều kiện cụ thể, những biện pháp cụ thể”12.
Cùng với việc xác định bước đi, Hồ Chí Minh còn chỉ ra những biện pháp hết sức quan trọng để xây dựng CNXH, đó là: cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới, kết hợp giữa cải tạo với xây dựng, lấy xây dựng làm chính, giữa xây dựng và bảo vệ, giữa tự lực cánh sinh là chính đồng thời ra sức tranh thủ sự giúp đỡ của Liên Xô, Trung Quốc, các nước XHCN và nhân dân tiến bộ trên thế giới. Cần phải: đem tài dân, sức dân, của dân để làm lợi cho dân, cái gì có lợi cho dân hết sức làm, cái gì có hại cho dân hết sức tránh. Biện pháp xây dựng CNXH phải rất phong phú, năng động, sáng tạo mới có thể hoàn thành tốt được.
Theo Hồ Chí Minh, xét đến cùng, nhân tố quyết định thắng lợi công cuộc xây dựng CNXH trong thời kỳ quá độ ở nước ta chính là con người, mà động lực thúc đẩy hoạt động của họ là những lợi ích vật chất và tinh thần. Nhận thức đúng và giải quyết hài hòa các lợi ích vật chất và tinh thần, lợi ích cá nhân với lợi ích tập thể, sẽ tạo động lực tích cực cho sự phát triển xã hội. Hồ Chí Minh luôn yêu cầu phải chống chủ nghĩa cá nhân, coi đây là chống kẻ thù nguy hiểm của CNXH vì chủ nghĩa cá nhân đẻ ra trăm thứ bệnh, trong đó có bệnh quan liêu, tham ô, lãng phí. Người nhắc nhở đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân nhưng không được giày xéo lên lợi ích cá nhân mà ngược lại phải chăm lo lợi ích cá nhân chính đáng của mỗi người.
2. Giá trị lý luận, thực tiễn của tư tưởng Hồ Chí Minh về thời kỳ quá độ và những vấn đề đặt ra
Những nội dung trong tư tưởng Hồ Chí Minh về thời kỳ quá độ đi lên CNXH ở Việt Nam là cơ sở khoa học và lý luận và để khẳng định: con đường đi lên CNXH bỏ qua chế độ TBCN mà Đảng và nhân dân ta đã lựa chọn, thực hiện là hoàn toàn đúng đắn; chỉ rõ tính chất lâu dài, khó khăn, phức tạp phải trải qua; Đảng cầm quyền phải khắc phục khuynh hướng chủ quan duy ý chí; củng cố niềm tin vào con đường đi lên CNXH ở Việt Nam.
Trong công cuộc đổi mới đất nước theo định hướng XHCN ở Việt Nam, khi CNĐQ và các thế lực thù địch không ngừng từ bỏ âm mưu “diễn biến hòa bình” trong lĩnh vực tư tưởng, lý luận, nhằm phủ định giá trị những nguyên lý của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về thời kỳ quá độ, cán bộ, đảng viên cần nhận thức rõ hơn, sâu sắc hơn vấn đề này trên cơ sở khoa học và cách mạng, đó là:
- Thấy rõ những khó khăn của thời kỳ quá độ ở Việt Nam là những khó khăn trong cuộc đấu tranh giữa cái cũ và cái mới trên mọi phương diện; nhận thức đúng về những tác động của các yếu tố khách quan và chủ quan trong mỗi giai đoạn cách mạng. Trên cơ sở đó, xác định đúng mục tiêu, nhiệm vụ, động lực và giải pháp, những bước đi của thời kỳ quá độ.
- Nhận thức đúng đắn, cụ thể vấn đề con người trong thời kỳ quá độ. Không thể đưa ra yêu cầu quá cao đối với những “con người thời kỳ quá độ” ấy, nhưng những yếu tố vượt trước và với vai trò là chủ thể của lịch sử, cần tạo lập những yêu cầu, tiêu chí phù hợp với sự nghiệp xây dựng xã hội mới và yêu cầu mới của thời đại. Nhận thức và thực hiện giải pháp về con người cần phải đặt trong khung cảnh của thời kỳ quá độ; phải “xuất phát từ những con người bằng xương bằng thịt”13 đang có, hiện có với những đặc điểm, ưu điểm, hạn chế, nhược điểm trên toàn bộ các vấn đề cả về thể chất, sức khỏe, tâm sinh lý, văn hóa, tư tưởng, đạo đức, lối sống. So với nhiều nước trên thế giới và cả ở khu vực Đông Nam Á, con người và lao động Việt Nam hiện tại còn thấp về nhiều chỉ số: thể chất, sức khỏe, tay nghề, trình độ đào tạo, khả năng hội nhập, ý thức pháp luật...
Giải pháp về con người cần được xem xét là giải pháp quyết định hàng đầu, là giải pháp của mọi giải pháp. Chủ tịch Hồ Chí Minh nói, muốn xây dựng CNXH, trước hết cần phải có con người XHCN. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) của Đảng khẳng định: “Con người là trung tâm của chiến lược phát triển, đồng thời là chủ thể phát triển”14. Hiện tại và trong thời gian tới, chiến lược con người, đặc biệt là chiến lược phát triển nguồn nhân lực phải tiếp tục được đặt đúng tầm mức với sự phát triển quan trọng của nó. Trong đó, chiến lược cán bộ và nguồn nhân lực chất lượng cao phải coi là đột phá của mọi đột phá, bao gồm cả chiến lược xây dựng Đảng, xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên, đặc biệt là cán bộ cấp cao, cán bộ chủ chốt. Không làm tốt các vấn đề này thì không thể thực hiện thành công các vấn đề khác.
Kế thừa tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, mục đích của xã hội mà Đảng và nhân dân phấn đấu là làm cho con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện.
Những giải pháp, biện pháp để thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ của thời kỳ quá độ lên CNXH ở Việt Nam không phải là xa vời, mà là thực tế, hiện thực, xuất phát trực tiếp từ đời sống nhân dân và nhằm phục vụ nhân dân. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) đã chỉ rõ mô hình xã hội XHCN ở Việt Nam với đặc trưng thứ nhất là “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” là đặc trưng cơ bản nhất, cốt lõi nhất và biểu hiện tập trung nhất bản chất của CNXH mà nhân dân Việt Nam đang xây dựng.
Như vậy, tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về thời kỳ quá độ đi lên CNXH ở Việt Nam là cơ sở lý luận, nền tảng hình thành, phát triển đường lối cách mạng XHCN của Đảng là cơ sở để toàn Đảng, toàn dân kế thừa, vận dụng và phát triển lý luận về CNXH và con đường đi lên CNXH trong tình hình mới mới ở tầm cao mới. Thực hiện tư tưởng của Người trong thời gian tới tiếp tục tuyên truyền, giáo dục một cách thiết thực, có hiệu quả; kiên quyết đấu tranh chống những luận điểm xuyên tạc quan điểm, chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về thời kỳ quá độ, khắc phục những nhận thức mơ hồ về CNXH, hoài nghi về tính hiện thực của CNXH và con đường đi lên CNXH, nhằm mục tiêu xây dựng thành công và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN.
__________________
1. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập, Nxb CTQG, H, 1998, T. 2, tr. 2
2, 8. Hồ Chí Minh Toàn tập, Nxb CTQG, H, 2011, T. 12, tr. 411, 412
3, 4. Sđd, T. 11, tr. 216, 92
5, 6, 7, 9, 11. Sđd, T. 10, tr. 392, 405, 390, 537-538, 390
10. Sđd, T. 14, tr. 102
12. Sđd, T. 13, tr. 71
13. C.Mác và Ph.Ăngghen Toàn tập, Nxb CTQG, H, 1995, T. 3, tr. 37-38
14. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb CTQG, H, 2011, tr. 76.
TS NGUYỄN THỊ TUYẾT
Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
VŨ THỊ HUỆ
Trường Chính trị tỉnh Lai Châu