Tóm tắt: Đầu thế kỷ XX, phong trào Đông Du do Phan Bội Châu khởi xướng và lãnh đạo là khuynh hướng mới trong phong trào giải phóng dân tộc ở Việt Nam. Nghệ-Tĩnh là một trong những địa phương có hoạt động của Duy Tân Hội và phong trào Đông Du phát triển mạnh. Trên cơ sở nghiên cứu tài liệu Báo cáo của chính quyền thực dân, một trong những cơ sở tin cậy, khách quan, làm rõ nét hơn về hoạt động của Phan Bội Châu và phong trào Đông Du trên địa bàn Nghệ-Tĩnh, chúng tôi muốn góp thêm ý kiến nhằm làm rõ hơn: nguồn kinh phí hỗ trợ; thành phần tham gia phong trào; số lượng thanh niên xuất dương du học; quy mô phong trào... Từ đó, góp thêm một số tư liệu, sự kiện về phong trào Đông Du ở Nghệ-Tĩnh.
1. Phan Bội Châu và xu hướng liên kết, mở rộng phong trào Đông Du
Phan Bội Châu là một trong những người đi tiên phong trong phong trào Đông Du. Đầu thế kỷ XX, Phan Bội Châu đã đi khắp Bắc, Trung, Nam để vận động sự ủng hộ của những người đồng chí hướng. Trong khoảng cuối năm Tân Sửu (1901), đầu Nhâm Dần (1902), lấy lý do vào Kinh để chuẩn bị đi thi Hội, Phan Bội Châu lợi dụng thời gian đó “Đi khắp các xứ Mường, Thanh-Nghệ-Tĩnh để tụ hội nhân tài. Những thổ hào, lục lâm, các đầu mục như họ Cầm, họ Mao thảy có đề đính tâm sự với nhau”1.
Tháng 11-1902, Phan Bội Châu đi Bắc Kỳ, gặp Đốc biện Khổng Định Trạch (đã từng làm đốc biện đảng cần Vương) ở Nam Định và gặp gỡ những người trong nghĩa đảng còn sót lại. Đến Yên Thế, không gặp được Hoàng Hoa Thám nhưng Phan Bội Châu được thuộc hạ và con trai đầu của Hoàng Hoa Thám (Cả Trọng) tiếp đón. Cả Trọng nói với cụ Phan rằng: “Như Trung Kỳ mà thủ xướng thì cụ cũng vui lòng làm quân ứng viện”2.
Mùa Xuân năm 1903, Phan Bội Châu mượn tiếng vào Huế học tại Quốc Tử Giám nhưng thực chất là mở rộng quan hệ với giới quan lại Huế và thu phục nhân tài ở Trung Kỳ. Ông đã tới làng Nam Tịnh, phủ Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam gặp gỡ Tiểu La Nguyễn Thành và được Nguyễn Thành gợi ý ba phương sách quan trọng: thu phục lòng người, góp số tiền lớn và sắm khí giới. Trong ba phương sách đó, quan trọng nhất là thu phục lòng người, mà muốn làm được điều đó phải tôn phò một người trong hoàng tộc. Phan Bội Châu đã về Huế, chọn Kỳ Ngoại hầu Cường Để. Tiếp đó, ông viết Lưu Cầu huyết lệ tân thư chỉ ra con đường cần thiết cho giới quan lại Huế. Nhờ áng văn này mà Phan Bội Châu đã có được mối giao hảo với nhiều chí sĩ nổi tiếng lúc bấy giờ như Phan Châu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng, Trần Quý Cáp...
Giữa năm 1903, Phan Bội Châu bắt đầu đi khắp Nam Kỳ và gặp được nhiều chí sĩ có tinh thần yêu nước. Tại Thất Sơn-một vùng núi sát biên giới Campuchia ông đã gặp và bàn việc với nhà sư Trần Nhật Thị3. Sau đó, Phan Bội Châu đã đi khắp các tỉnh châu thổ sông Cửu Long để tìm những người đồng chí hướng, gặp gỡ Nguyễn Thần Hiến-Hội đồng Sa Đéc, người sau này ủng hộ đắc lực phong trào Đông Du.
Đến tháng Giêng năm 1904, trên đường về miền Trung, Phan Bội Châu điều tra tình hình tại các tỉnh Phú Yên, Bình Định, sau khi dự kỳ thi Hội tại Huế, ông tiếp tục vận động đồng bào Thiên Chúa giáo từ Quảng Bình trở ra Bắc, xây dựng những cơ sở đầu tiên ủng hộ phong trào Đông Du sau này.
Thượng tuần tháng 4-1904, Phan Bội Châu và khoảng 20 người họp tại nhà Nguyễn Thành ở Quảng Nam, lập Duy Tân Hội với ba kế hoạch hành động: phát triển thế lực của hội cả về nhân lực lẫn tài chính; gấp rút chuẩn bị bạo động và những công việc sau bạo động; xác định phương châm và biện pháp xuất dương cầu viện.
Tháng 12-1904, tại nhà Tiểu La Nguyễn Thành, Phan Bội Châu cùng với nhóm mật hữu gồm có: ông Trình Ô Da (còn có tên Trình Hiền), Tôn Thất Thoại, Chu Thư Đồng họp bàn kế hoạch xuất dương. Những thành viên tham dự cuộc họp đã nhất trí cử Phan Bội Châu cùng các ông Tăng Bạt Hổ, Đặng Tử Kính đi Nhật Bản. Nguyễn Thành (Quảng Nam), Đặng Thái Thân (Nghệ An) ở lại phụ trách những hoạt động trong nước, nhanh chóng hình thành các trung tâm tuyển chọn, đưa đón người xuất dương trong suốt thời kỳ Đông Du. Ở Bắc Kỳ, có các trung tâm là Nam Định, Thái Bình, Lạng Sơn, Hà Nội. Ở Trung Kỳ có trung tâm Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Nam. Ở Nam Kỳ là trung tâm Sài Gòn, Vĩnh Long, Hà Tiên...
Tháng 2-1905, sau một thời gian chuẩn bị, phái đoàn xuất dương đi từ Hải Phòng, Quảng Ninh, Móng Cái sang Trung Hoa, rồi từ Trung Hoa tới Nhật Bản. Trong Báo cáo gửi Khâm sứ của Toà Công sứ Vinh năm 1907, qua khẩu cung của Nguyễn Văn Hiên4, chính quyền thực dân nhận thấy hoạt động của Phan Bội Châu đã có sự chuẩn bị và kết nối rộng rãi ra vùng Bắc Kỳ. Phan Bội Châu đã gặp Đào Nguyên Phổ và các nhà Nho bên Tòa sứ Hà Đông, cùng nhau bàn bạc việc sang Nhật Bản bằng tàu thuyền buôn của Trung Quốc với điểm xuất phát là Hải Phòng5.
2. Hoạt động của phong trào Đông Du ở Nghệ-Tĩnh
Nghệ An, Hà Tĩnh là trung tâm hoạt động của phong trào Đông Du ở Trung Kỳ, là vùng đất có truyền thống yêu nước và cách mạng. Việc đưa thanh niên ưu tú yêu nước của Việt Nam sang học tập tại Nhật Bản, nơi được coi là “trung tâm văn hóa-chính trị” của Đông Nam Á lúc bấy giờ nhằm đào tạo nhân tài cứu nước, đặng giúp nước nhà tiến kịp với các nước văn minh trên thế giới, đó là mục đích tối thượng của phong trào Đông Du. Từ Nhật Bản, Phan Bội Châu đã viết nhiều thơ văn yêu nước gửi về tuyên truyền chống thực dân Pháp. Tại Nghệ-Tĩnh, lớp trí thức nhanh chóng chuẩn bị tổ chức, vận động các đối tượng tham gia, đóng góp kinh phí hoạt động...
Theo Báo cáo của Công sứ Nghệ-Tĩnh gửi Toàn quyền Đông Dương cho biết: công cụ tuyên truyền tại vùng đất này được tiến hành bằng “công kích”, “thóa mạ” và “những tập tài liệu phổ biến” ở khắp Trung Kỳ đã được in tại Nhật. Năm 1906 phát ra lời kêu gọi đầu tiên của Phan Bội Châu “Huyết thư của một người An Nam”. Những bức ảnh của Hoàng thân Cường Để, Phan Bội Châu trong trang phục quân đội Nhật được lưu hành trong dân chúng, nó được truyền tay nhau ở Nghệ-Tĩnh6.
Thành phần tham gia xuất dương du học ở Nghệ-Tĩnh gồm đông đảo con em gia đình trí thức Nho học, văn thân, sĩ phu yêu nước, trong đó tiêu biểu là gia đình cụ Nguyễn Thức Tự, Đặng Thúc Hứa, Đặng Tử Kính, (Nghệ An),.. cùng nhiều giáo dân yêu nước như Mai Lão Bạng, Lưu Song Tử, Lý Trọng Mậu... Đa số lưu học sinh ở Nghệ-Tĩnh sang Nhật Bản đều được tiếp nhận vào trường Đồng Văn thư viện (Tokyo Dubun Shoin) là một trường trực thuộc Hội Đông Á đồng văn và Trường Chấn Võ học hiệu. Chúng tôi có đối chiếu, khảo cứu lại lịch sử các huyện ở Nghệ An, Hà Tĩnh và một số bài viết trên các tạp chí, các cuốn sách như: 157 nhân vật xuất dương trong phong trào Đông Du (Nguyễn Thúc Chuyên, Nxb Nghệ An 2000); Việt Nam nghĩa liệt sử, của soạn giả Đặng Đoàn Bằng, xuất bản 1972 cùng với tài liệu lưu trữ của Pháp thì thấy rằng, số lượng thanh niên ở Nghệ An, Hà Tĩnh tham gia học tập tại trường Đồng Văn thư viện khoảng gần 40 người, trong số 150 người xuất dương hiện học ở Nhật Bản7.
Quá trình học tập và rèn luyện của thanh niên học sinh Việt Nam nói chung, Nghệ-Tĩnh nói riêng tại các trường học ở Nhật Bản được đánh giá rất cao. Theo nhận xét của Kashiwabara, Phó Viện trưởng phụ trách Trường Đồng Văn: “Các học sinh Việt Nam nhập học vào năm 1907 học tốt, thuộc vào nhóm giỏi”8. Hơn nữa, học sinh An Nam còn thể hiện sự nhiệt tình trong học tập quân sự với lòng kiên trì bền bỉ nung nấu ý chí phục quốc.
Để tạo nguồn kinh phí hỗ trợ cho hoạt động Đông Du, các trí thức yêu nước ở Nghệ-Tĩnh thành lập thương điếm do các sĩ phu lãnh đạo và góp vốn kinh doanh như ở Chợ Trổ (Đức Thọ, Hà Tĩnh), hiệu buôn Mộng Hanh của Lê Phú Thành (em trai Lê Văn Huân), “Triêu Dương Thương Quán” ở Vinh của Đặng Nguyên Cẩn, Ngô Đức Kế, Đặng Văn Bá, Lê Văn Huân. Hoạt động của “Triêu Dương Thương quán” được ghi chép trong Báo cáo năm 1906 của Công sứ Hà Tĩnh như sau: “... Vào tháng 4 năm Thành Thái thứ 18 (1906), Đặng Nguyên Cẩn và Ngô Đức Kế bắt đầu vận động góp vốn để mở hiệu buôn, nhưng chỉ nhằm để che dấu động cơ chính là gửi tiền sang Nhật”9. Cùng với hoạt động của Triêu Dương Thương quán là hệ thống các cửa hàng buôn bán nội hóa hình thành như ở Đông Thái, Đức Thọ, chợ huyện Can Lộc (Hà Tĩnh), Diễn Châu (Nghệ An). Trại Cày ở Nam Đàn, Thanh Chương, trại Dâu Tằm ở Hưng Nguyên (Nghệ An)... được xây dựng, mở rộng nhằm hỗ trợ cho Đông Du.
Giáo dân ở Nghệ An, Hà Tĩnh cũng có những hoạt động thương mại riêng, các linh mục Đậu Quang Lĩnh, Nguyễn Tường, Nguyễn Thần Đồng... đã vận động thanh niên Công giáo yêu nước xuất dương, khuyến khích giáo dân thành lập các hội kinh tế như: Hội buôn nước mắm Thuận Nghĩa (Quỳnh Lưu), Hội Tiên Long (Đức Bùi, Đức Thọ), Hội buôn lá nón (Kẻ Tùng, Đức Thọ), Hội tằm (thành phần hội là những người cùng trồng dâu, nuôi tằm, dệt vải) ở Mỹ Dụ của Nguyễn Văn Hộ (Hưng Nguyên), Hội buôn Yên Phú (Yên Thái, Đức Thọ)… Hàng hoá buôn bán của các hội này phong phú và đa dạng với đủ các loại như đường, mật, cau khô, lá nón, tơ tằm, củi...
Ngoài việc làm kinh tế, Hội Duy Tân ở Nghệ-Tĩnh lập các Ban liên lạc quyên góp tiền ủng hộ cho Phong trào Đông Du. Tham gia vào ban này có Vương Thúc Quý, Võ An, Vương Thúc Loan, Trần Thị Lụa (Nghệ An); Phan Thị Hét, Phan Huy Diễn, Nguyễn Đình Kiên, Phan Trọng, Đội Quyên, Đội Phấn (Hà Tĩnh). Ủng hộ tích cực cho hoạt động này còn có sự tham gia của phụ nữ ở huyện Quỳnh Lưu, Yên Thành, Nghi Lộc, Nam Đàn (Nghệ An), trong đó tiêu biểu như: Bà Ngô Thị Khôn Duy10, Bà Nguyễn Thị Thanh11 (Nam Đàn), bà Tôn Thị Chiêm12 (Thanh Chương)...
Bên cạnh đó, Duy Tân Hội ở Nghệ-Tĩnh còn tổ chức quyên góp tiền bạc trong nhân dân nhằm ủng hộ phong trào. Các tổ chức yêu nước ở địa phương đã thực hiện trấn áp chức sắc, hào lý giàu có để thu gom lương thực và tiền bạc phục vụ cho hoạt động Đông Du. Mật thám Pháp ở Nghệ-Tĩnh đã ghi lại diễn biến của hoạt động như sau: “Ngày 20-8-1907, Chánh tổng và Phó Chánh tổng Nam Kim, huyện Thanh Chương được báo có một nhóm 5 người lạ mặt đến nhà lý trưởng Đa Lộc đòi các chức sắc cấp lương thực và tiền bạc. Ba tên trong bọn đã bị tuần đinh bắt và giải xuống Vinh. Được hỏi cung chúng khai là được Đề đốc Cao Đạt phái đến đưa thư, hăm dọa và thu tiền góp được. Cao Đạt là một trong những kẻ cầm đầu phiến loạn cũ nổi tiếng nhất...”13.
Để đánh giá hoạt động của Hội buôn trên địa bàn Nghệ An, Hà Tĩnh, chính quyền Pháp đã theo dõi, ghi trong báo cáo chính trị năm 1906 như sau: “... Bề ngoài là một hội buôn nhưng thực chất là để thu nhận các khoản đóng góp, có khi bằng bạo lực, dùng cung cấp cho đông đảo người xuất dương sang Nhật. Hội viên của nhóm này thuộc mọi tầng lớp xã hội, có nhiều quan lại đang tại chức ở Hà Tĩnh, những nhà Nho đã đỗ tú tài, cử nhân, tiến sĩ. Cuối cùng là những tay cường đạo mà công việc chính là ép đám nhà giàu tham gia vào công cuộc phục hưng đất nước. Trong số đó có Tiến sĩ Ngô Đức Kế, cử nhân Đặng Văn Bá, cử nhân Lê Văn Huân, thủ lĩnh cầm đầu các vụ cướp có Đội Quyên, tú tài Phạm Văn Ngôn”14.
Số tiền và tên tuổi cá nhân ủng hộ cho hoạt động Đông Du ở Nghệ-Tĩnh được ghi chép lại trong tài liệu Pháp cụ thể như sau: Đến tháng 7-1906, “đầu xứ Thân (Đặng Thái Thân) đã góp 2.000$00 ($ ký hiệu viết tắt của đồng tiền Đông Dương) cho Lương (tức Lương Tam Kỳ). Tháng Giêng 1907, Đặng Thái Thân và người chú (bác) đã góp 800$00 cho Lương Tam Kỳ. Đặng Nguyên Cẩn và Ngô Đức Kế định gửi thêm vào tháng 5, tháng 6 năm nay, nhưng Cẩn đã bị chuyển đi Phan Thiết. Khi ra đi ông đã chuyển tiền quản lý cho Ngô Đức Kế. Tại Hà Tĩnh còn có Phan Hoa Huân, Cân Ky, Cửu Triêm, Cửu Huy, Thông Dai và Thương Bông, mỗi người đã góp 100$00 cho Ngô Đức Kế. Tu sĩ Xước ở Tuần Lệ 200$00, tú Giu cùng làng quyên được 60$00 trong đám học viên. Nguyễn Duy Phương tức Tú Phương người Hà Linh 150$00, Tú Dao ở Hà Đông 100$00 (quyên được) Cô Luân đã góp (không rõ bao nhiêu). Ba Tri ở Ban Châu 200 nén bạc”15.
Từ năm 1906 đến năm 1908, hoạt động quyên tiền hỗ trợ và đưa người xuất dương du học ở Nghệ-Tĩnh diễn ra liên tục. Hàng chục thanh niên đã tham gia xuất dương sang Nhật Bản, trong đó có những gương mặt tiêu biểu như: Hồ Học Lãm, Nguyễn Thái Bạt (xuất dương năm 1906); Phan Lại Lương, Trần Lợi Tế, Hoàng Văn Tiếu, Hoàng Xuân Viễn (xuất dương năm 1907); Hoàng Trọng Mậu, Nguyễn Thức Đường, Mai Lão Bạng, Trần Đông Phong, Trần Hữu Lực xuất dương vào năm 1908. Theo nhiều nguồn tài liệu, từ năm 1905 đến năm 1908, số học sinh xuất dương trong cả nước khoảng 200 người, trong đó Nam Kỳ có hơn 100 người, Trung Kỳ có 50 người và Bắc Kỳ có hơn 50 người. Khảo cứu, đối chiều, thống kê từ các công trình nghiên cứu, số lượng thanh niên ở Nghệ An tham gia xuất dương là 34 người, Hà Tĩnh là 14 người. Trong số 28 tín đồ Công giáo xuất dương du học và hoạt động tại Nhật Bản, ở Nghệ-Tĩnh có 12 người, trong đó tiêu biểu là ba vị linh mục: Nguyễn Tường, Nguyễn Thần Đồng ở làng Nhân Hoà (Nghi Lộc, Nghệ An), Đỗ Văn Lĩnh16, Mai Lão Bạng là đại biểu cho giáo hội tại Nhật Bản17.
Chính quyền thực dân nhận thấy những người đứng đầu tổ chức có liên hệ mật thiết với dân chúng tại Nghệ-Tĩnh đã báo cáo lên cấp trên, bắt với tội danh “âm mưu phản loạn”. Danh sách những người bị bắt gồm có: Tiến sĩ Ngô Đức Kế; Cử nhân Đặng Văn Bá; Cử nhân Lê Văn Huân; Cử nhân Võ Bá Hợp; Tú tài Phạm Văn Ngôn, Đào Văn Huân; Tú tài Nguyễn Sĩ Vận; Nho sinh Nguyễn Tân Khiêm; Nho sinh Nguyễn Khắc Hoàng; Cựu chánh tổng: Nguyễn Đống, Phan Hữu Nghị, Đào Sự...18. Đối với thành phần công giáo, trong Báo cáo của Công sứ Vinh gửi cho Khâm sứ Trung Kỳ số 8 ngày 26-6-1909 đã ghi: “... Tôi đã phải ra lệnh bắt giam ba linh mục bản xứ ngày 12 tháng trước, vì đã vi phạm nghiêm trọng việc liên lạc với những kẻ thù của chúng ta đang lẩn trốn tại Nhật Bản và Thái Lan và đã dùng những lời dụ dỗ, lạc quyên tại các gia đình và các làng mạc công giáo, những khoản tiền bạc khác quan trọng để chuyển gửi cho những người nói trên và chi dùng vào việc đào tạo các thanh niên công giáo được gửi sang du học tại các trường của Nhật Bản”19.
Như vậy, từ báo cáo của chính quyền thực dân, bức tranh phong trào Đông Du trên địa bàn Nghệ-Tĩnh hiện lên rõ nét hơn. Thứ nhất, với nguồn kinh phí hỗ trợ cho Đông Du ở Nghệ-Tĩnh tuy không có các nhà hào phú giàu lòng yêu nước như các tỉnh ở Nam Kỳ, không nhiều hiệu buôn gây quỹ như ở Bắc Kỳ, nhưng bên cạnh cuộc vận động kinh tế từ các hội buôn là sự kết hợp vận động trong dân chúng với nhiều phương thức, trong đó góp phần không nhỏ là những “tay phiến loạn” (theo cách gọi của Pháp). Chính quyền Pháp cho rằng, số tiền quyên góp từ hai tỉnh này cho phong trào là “món tiền lớn”. Thứ hai: Thành phần tham gia hoạt động kinh tế trên địa bàn là đông đảo các nhà nho, quan lại tại chức, tú tài, cử nhân đến cả những giáo dân yêu nước. Lớp trí thức vừa có vai trò tuyên truyền, vừa trực tiếp quyên góp tiền của. Lực lượng giáo dân tham gia phong trào và thực hiện sôi nổi quyên góp kinh phí đến xuất dương. Hoạt động song hành của các vị linh mục và những giáo dân yêu nước đã góp phần khuấy động phong trào Đông Du ở Nghệ-Tĩnh mạnh mẽ hơn những vùng khác trong cả nước. Thứ ba: số lượng thanh niên du học và quy mô phong trào ở Nghệ-Tĩnh là sâu rộng và có sức lan tỏa từ thành thị đến nông thôn. Lớp thanh niên du học ở Nghệ-Tĩnh đông nhất Trung Kỳ, có tinh thần nhiệt huyết, mạnh mẽ, “kiên quyết bất biến” và đã tập hợp thành một lực lượng kháng Pháp hùng hậu, chuẩn bị đầy đủ về mặt tinh thần cho các cuộc đấu tranh ở giai đoạn tiếp sau. Trong Báo cáo gửi lên Khâm sứ Trung Kỳ, Công sứ Hà Tĩnh đã viết: phong trào ở đây có mục đích chống chính quyền rất đặc trưng, so với phong trào các tỉnh miền Trung chủ yếu là do mong muốn được giảm thuế cho dân chúng 20.
Cuối năm 1908, đầu năm 1909, Chính phủ Nhật bắt tay với Pháp, ra lệnh trục xuất Phan Bội Châu cùng các học sinh Việt Nam ra khỏi đất Nhật. Các năm 1909-1910, các ông Đặng Thúc Hứa, Đặng Tử Kính, Hồ Vĩnh Long đã xây dựng Trại Cày ở Bản Thầm (vùng đất mượn của Thái Lan thuộc tỉnh Pác Nam Phô) để làm ăn, sinh sống. Theo tấm gương Đặng Thúc Hứa, thanh niên Nghệ-Tĩnh tiếp tục sang Xiêm, rồi sang Trung Quốc, tham gia vào các tổ chức cách mạng và học tập tại các trường quân sự, trong đó có Hữu Mai (Hà Tĩnh), Võ Trọng Cảnh (Nghệ An)...
Để ngăn chặn hoạt động xuất dương, chính quyền thực dân đã phải tăng cường quân số của đội ở Linh Cảm, Phúc Trạch, tăng cường các phân đội các đồn về phía Lào do “tình hình nhộn nhịp” ở biên giới Xiêm21.
3. Đôi điều suy ngẫm
Phong trào Đông Du trong cả nước, Đông Du ở Nghệ-Tĩnh cuối cùng thất bại. Tuy nhiên, chúng tôi cho rằng không nên coi phong trào này như là kết quả của sự nghiệp giải phóng dân tộc, để rồi đồng nghĩa sự thất bại hay chưa thành công của Đông Du như là sự thất bại của sự nghiệp giải phóng dân tộc. Mà, sự thực đã cho thấy, Phong trào Đông Du và Phan Bội Châu trên đất Nhật Bản đầu thế kỷ XX đã tác động, ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống tư tưởng và phong trào yêu nước của nhân dân Việt Nam, tạo nên bầu không khí cách mạng sôi nổi khắp ba miền Bắc-Trung-Nam, thông qua hoạt động của phong trào đã hình thành một “nguồn lực” quan trọng, làm phong phú “nội lực” cho quê hương đất nước, tạo tiền đề khả năng “phát huy nội lực” trong tương lai không xa. Không chỉ là một phong trào xuất dương cầu học đơn thuần, đây còn là một phong trào chính trị, cách mạng, là một trường rèn luyện cách mạng cho thanh niên Việt Nam. Qua Phong trào Đông Du, Nghệ-Tĩnh đã đào tạo được một số cán bộ cách mạng, cung cấp cho phong trào chống Pháp ở Việt Nam đầu thế kỷ XX như: Nguyễn Thức Canh, Đặng Tử Kính, Hoàng Trọng Mậu, Trần Hữu Lực... và nhiều gương mặt thanh niên ưu tú khác.
Phong trào Đông Du ở Nghệ-Tĩnh đầu thế kỷ XX cho thấy, trong thời cận-hiện đại của lịch sử Việt Nam, để cứu nước, để phát triển xã hội, những nhà ái quốc, trong đó Phan Bội Châu đã không tự giam mình trong phạm vi quốc gia, mà phải tiếp cận với thế giới, phải tiếp xúc và giao lưu bên ngoài; từ đó có thể hiểu mình, hiểu người, hiểu rõ thực trạng đất nước, tìm ra giải pháp đúng cho đất nước. Thực tế tiễn cho thấy đông đảo thanh niên, trí thức Nghệ-Tĩnh tham gia phong trào với tinh thần nhiệt huyết, mạnh mẽ cùng sự phối hợp chặt chẽ, ăn ý giữa những hoạt động trong nước và nước ngoài, giữa các vùng miền cả nước để cùng hành động. Phong trào Đông Du ở Nghệ-Tĩnh không chỉ là nơi cung cấp con người và tài chính, mà còn là nơi tiếp nhận và truyền bá những tư tưởng của phong trào đến với các tầng lớp nhân dân, nơi tập hợp một lực lượng kháng Pháp khá hùng hậu, chuẩn bị đầy đủ về mặt tinh thần cho các cuộc đấu tranh ở giai đoạn tiếp sau.
Ở vùng Trung Kỳ, Nghệ-Tĩnh là nơi diễn ra Phong trào Đông Du sôi nổi, mạnh mẽ nhất, có số lượng thanh niên tham gia đông đảo. Số lưu học sinh tham gia du học Nhật Bản được đánh giá là những học sinh xuất sắc, có tiếng thông minh, chịu đựng gian khổ, không chịu khuất phục. Khi Phong trào Đông Du tan rã, nhiều du học sinh ở Nghệ-Tĩnh không về nước, có người ở lại Nhật Bản để tiếp tục cầu học, có người sang Trung Quốc hoạt động hay sang Xiêm để cùng Phan Bội Châu ẩn náu chờ thời.
Hoạt động của Phong trào Đông Du ở Nghệ-Tĩnh còn cho thấy sự kết nối bởi tính dân tộc bền chặt và được xem như sợi chỉ đỏ gắn kết các thế hệ trong dòng họ, giữa dòng họ này với dòng họ khác tại các làng quê. Những dòng họ nổi tiếng trong vùng như họ Nguyễn Thức, họ Hồ, họ Nguyễn Sỹ, họ Phan... đều là những dòng họ khoa bảng, có nhiều người đỗ đạt, tích cực tham gia các hoạt động chống xâm lược. Phát huy truyền thống yêu nước của quê hương, gia tộc, lớp lớp thanh niên Nghệ-Tĩnh đã nhiệt tình hưởng ứng và tham gia xuất dương du học không chỉ với mục đích cầu học thuần túy mà thực chất là muốn tìm một kế sách cứu nước mới. Điều đó cho thấy lớp trí thức tiến bộ ở Nghệ-Tĩnh đã phát huy truyền thống yêu nước, mạnh mẽ vượt qua hạn chế của thời đại, của tư tưởng phong kiến, tiếp nhận tư tưởng mới với mục đích cao cả vì độc lập tự do cho dân tộc. Họ chính là thế hệ tiếp nối tinh thần yêu nước của lớp sĩ phu cuối thế kỷ XIX, trở thành cầu nối cho thế hệ sau trên con đường cách mạng vô sản của cách mạng Việt Nam.
__________________
1, 2, 3, 17. Phan Bội Châu Toàn tập, Nxb Thuận Hóa, Huế, 1990, T. 6, tr. 61, 63, 69, 154
4. Quê làng Nghĩa An, tổng Việt An, huyện La Sơ, phủ Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh, đã công nhận có mối quan hệ với Phan Bội Châu năm 1905. Bản thân đã cùng Phan Bội Châu đến Bắc Giang gặp Hoàng Hoa Thám
5. Xem Rapport A.M. Le Résident Supérieur, Vinh, le 3 Septembre 1907. KH 253RSA/RP, lưu tại Trung tâm lưu trữ Quốc gia IV
6. Xem Rapport A.M Le Gouverneur general (15mai 1908). KH 265 RSA/RP, lưu tại Trung tâm lưu trữ Quốc gia IV
7. Xem Nguyễn Phan Quang: “Góp thêm tư liệu phong trào Duy Tân-Đông Du đầu thế kỷ XX (theo hồ sơ của Mật thám Pháp)” đăng trong Việt Nam 100 năm phong trào Đông Du và hợp tác Việt-Nhật để bảo tồn, phát triển di sản văn hóa Huế, Nxb CTQG, H, 2009, tr. 320
8. Dẫn theo Nguyễn Tiến Lực: “Phong trào lưu học sinh của Thanh niên Việt Nam ở Nhật Bản (1905-1909)”, Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, số 1-1995, tr. 26
9, 13. Résidence de Hà Tĩnh: Interrogatiore de Tác Lanh (Résumé). KH 240 RSA/RP, lưu tại Trung tâm lưu trữ Quốc gia IV
10. Con gái của Ngô Quảng, vợ của Hồ Học Lãm
11. Con gái đầu của cụ Nguyễn Sinh Sắc, chị gái của Chủ tịch Hồ Chí Minh
12. Vợ của Lê Kim Tường, là người yêu nước tích cực ở làng Nguyệt Bổng, huyện Thanh Chương. Đây chính là nhà mà cụ Nguyễn Sinh Sắc đã chọn gửi ông Nguyễn Sinh Khiêm ăn học
14. Rapport A.M. Le Résident Supérieur, Vinh, le 3 Septembre Résidence de Ha Tinh: Rapport A.M.Le. Résidence Supérieur Vinh, KH 262RSA/RP, lưu tại Trung tâm lưu trữ Quốc gia IV
15. Rapport A.M. Le Résident Supérieur, Vinh, le 3 Septembre Résidence de Ha Tinh: Interrogatiore de Tác Lanh (Résumé). KH 240 RSA/RP, lưu tại Trung tâm lưu trữ Quốc gia IV
16. Đặng Đoàn Bằng, Phan Thị Hán, Việt Nam nghĩa liệt sử, Nxb Văn học, Hà Nội, 1972, tr. 189
18. Xem Résidence Superieur en An Nam, Provinc’e de Vinh. KH A2506, lưu tại Phòng Địa chí Thư viện tỉnh Nghệ An
19. Dẫn theo Vương Đình Ái (sưu tầm và biên dịch): Ba vị linh mục yêu nước của giáo phận Vinh, Nxb Hà Nội, H, 1996, tr. 6
20. Xem Résidence de Ha Tinh, Rapport A.M. le Résident Supérieur, KH 252 RSA/RP, lưu tại Trung tâm lưu trữ Quốc gia IV
21. Xem Situation Politique Generrale de la Circonscription. KH 206 RSA/RP, lưu tại Trung tâm lưu trữ Quốc gia IV.
TS DƯƠNG THỊ THANH HẢI
Trường Đại học Vinh