Tóm tắt: Trong tháng 12-1972, cuộc đàm phán giữa Việt Nam và Mỹ tại Paris để kết thúc chiến tranh bị gián đoạn bởi chính quyền R. Nixon dùng máy bay B-52 ném bom Hà Nội, Hải Phòng và các khu vực lân cận trong 12 ngày đêm nhằm buộc Việt Nam phải chấp nhận một hiệp định có lợi cho Mỹ. Qua nghiên cứu những nguồn tài liệu trong, ngoài nước, cả từ báo chí Mỹ, bài viết làm rõ thêm cuộc đấu tranh ngoại giao dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Bộ Chính trị Trung ương Đảng trước bước leo thang tột cùng về quân sự của chính quyền R. Nixon.

1. Tình hình đàm phán trước ngày Mỹ mở chiến dịch tập kích đường không bằng B-52 trong 12 ngày đêm
Ngày 17-9-1972, Bộ Chính trị Trung ương Đảng Lao động Việt Nam họp quyết định đẩy nhanh cuộc đàm phán ở Paris đi đến ký kết trước tháng 11-1972 và đề ra hai yêu cầu trong đợt đàm phán này: Một là, rút hết quân Mỹ và chư hầu ra khỏi miền Nam Việt Nam; chấm dứt chiến tranh bằng không quân, thả thủy lôi phong tỏa miền Bắc. Hai là, lực lượng vũ trang ở miền Nam Việt Nam ở nguyên tại chỗ1. Đđt được yêu cầu đó, Việt Nam không cần đòi xóa chính quyền Sài Gòn, đòi Nguyễn Văn Thiệu phải từ chức, mà chỉ cần một hình thức cơ cấu chính quyền hòa hợp, hòa giải dân tộc theo phương án thấp nhất.
Sau đợt gặp riêng vào cuối tháng 9 tại Paris, Bộ Chính trị nhận định ý đcủa Mỹ là chưa muốn ký kết để chấm dứt chiến tranh trước ngày bầu cử. R.Nixon chỉ muốn nuôi dưỡng đàm phán nhằm phục vụ tuyển cử. Tuy về chiến lược, Mỹ phải rút khỏi về quân sự nhưng vẫn ngoan cố giữ ngụy quyền Sài Gòn2. Bộ Chính trị quyết định cần tranh thủ khả năng chấm dứt chiến tranh trước ngày bầu cử Tổng thống Mỹ. Vì vậy, đoàn Việt Nam cần chủ động đưa ra dự thảo hiệp định đề xuất thảo luận để ký kết. Ngày 3-10, Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Duy Trinh điện cho đoàn đàm phán: “Hiệp định này nhằm yêu cầu chủ yếu là chấm dứt sự dính líu về quân sự của Mỹ và chỉ nêu ra một số nguyên tắc về vấn đề nội bộ miền Nam”3.
Trước trận đánh chống cuộc tập kích đường không bằng B-52 của Mỹ, một bản Dự thảo Hiệp định đã được hai bên Việt Nam và Mỹ trong đợt gặp riêng từ ngày 8 đến ngày 12-10-1972, đồng ý về nội dung và kế hoạch ký kết. Nội dung cơ bản của bản Dự thảo Hiệp định này là: Mỹ tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam; Mỹ rút quân, chấm dứt dính líu quân sự; ngừng bắn ở cả hai miền Nam, Bắc; công nhận ở miền Nam Việt Nam có hai chính quyền, hai quân đội, hai vùng kiểm soát; công nhận quyền tự quyết của nhân dân miền Nam Việt Nam; công nhận các quyền tự do dân chủ ở miền Nam Việt Nam. Thời gian biểu thực hiện được thông qua với việc ký tắt Hiệp định vào ngày 19-10 tại Hà Nội và ký chính thức vào ngày 26-10 tại Paris.
Ngày 20-10, Tổng thống R. Nixon gửi thông điệp cho Thủ tướng Phạm Văn Đồng, hoan nghênh thiện chí của phía Việt Nam và nhận định “văn bản Hiệp định bây giờ có thể xem là đã hoàn thành”. Như vậy có thể coi ngày 20-10, Hiệp định đã được thỏa thuận ký ở cấp cao nhất. Nhưng chính quyền Nixon đã lấy lý do phía Mỹ không thỏa thuận được với chính quyền Sài Gòn nên đề nghị hai bên phải tiếp tục đàm phán để giải quyết.
Từ ngày 20-11, tại Paris, hai bên đã dành nhiều thời gian để thảo luận, đấu tranh trên từng câu chữ của văn bản. Đến ngày 13-12, văn bản Dự thảo mới của Hiệp định chỉ còn một số vấn đề chưa thống nhất, trong đó quan trọng nhất là vấn đề khu phi quân sự (ở lần Dự thảo trước không có) và cách ký. Về khu phi quân sự, theo yêu cầu của chính quyền Sài Gòn, phía Mỹ đề nghị ghi vào Hiệp định là hai miền Nam, Bắc phải tôn trọng khu phi quân sự, không nói gì về việc đi lại trong quan hệ giữa hai miền với ý đcó thể hiểu miền Nam Việt Nam là một quốc gia riêng. Việt Nam kiên quyết bác bỏ đề nghị của Mỹ và đưa cách viết mà Bộ Chính trị đã thông qua: Hai miền sẽ thỏa thuận về quy chế khu phi quân sự và định ra thể thức qua lại giới tuyến quân sự tạm thời. Về cách ký, phía Mỹ đề nghị hai bên Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (VNDCCH) và Mký, còn chính quyền Sài Gòn và Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam (CPCMLTCHMNVN) chỉ gửi thư tham gia. Việt Nam không tán thành cách gửi thư tham gia vì nó không ràng buộc trách nhiệm của mỗi bên, nên đề nghị cả bốn bên tham gia hội nghị cùng ký Hiệp định sau khi ký hai bên. Ngày 13-12, hai bên tạm dừng cuộc gặp riêng để về nước xin ý kiến.
 
2. Chiến dịch tập kích đường không bằng máy bay B-52
Trước đó, ngày 6-4-1972, M đã mở chiến dịch Linebacker, bắn phá trở lại miền Bắc Việt Nam để hỗ trợ quân đội Việt Nam Cộng hòa chống lại cuộc tiến công Xuân - Hè của Quân giải phóng. Chiến dịch Linebacker được tạm dừng từ các cuộc gặp tháng 10 để hai bên đàm phán hình thành Dự thảo Hiệp định. Ngày 14-12, R. Nixon ra lệnh sau ba ngày tới tiếp tục rải thủy lôi Cảng Hải Phòng, dùng B-52 tấn công nhiều trọng điểm khu vực Hà Nội, Hải Phòng. Đmở đường cho dư luận về cuộc tập kích này, ngày 16-12, tại Oasinhtơn, H. Kissinger họp báo, đổ lỗi cho VNDCCH kéo dài đàm phán. Ngày 18-12, không quân Mỹ thực hiện cuộc tập kích bằng B-52 vào Hà Nội, Hải Phòng và một số địa điểm khác của miền Bắc Việt Nam. Người Mỹ gọi đây là chiến dịch Linebacker II, hay “các đợt ném bom Giáng sinh”4.
“Pháo đài bay” B-52 được Mỹ đưa vào sử dụng ở miền Nam Việt Nam từ tháng 6-1965. Đến năm 1966, B-52 đã thả 8.000 tấn bom xuống các vị trí của quân giải phóng ở miền Nam Việt Nam mỗi tháng. Trong 12 ngày đêm của Linebacker II (18 - 30-12-1972), các máy bay B-52 đã thực hiện 729 phi vụ, thả 15.000 tấn bom mìn xuống miền Bắc5. Đã quen đi phó với các chiến dịch “hòa bình” trước đây của Mỹ vừa ném bom vừa đề nghị đàm phán, và cảnh giác trước bước leo thang chiến tranh tột cùng của chính quyền Nixon, nên các nhà lãnh đạo VNDCCH không bị bất ngờ trước việc Mỹ phát động chiến dịch Linebacker II. Các lực lượng phòng không và không quân VNDCCH đã dũng cảm đánh trả các đợt không kích bằng B-52. Trong 12 ngày đêm, Việt Nam đã bắn rơi 81 máy bay hiện đại của Mỹ6.
 
3. Đấu tranh ngoại giao của Việt Nam
Cuộc không kích Hà Nội, Hải Phòng và một số khu vực khác bằng B-52 của Mỹ bị quân và dân Việt Nam lập tức đáp trả, không chỉ trên mặt trận quân sự, mà cả trên mặt trận ngoại giao. Ngay sau đêm đầu tiên Mỹ tiến hành đợt không kích, ngày 19-12, Bộ Ngoại giao VNDCCH ra tuyên bố “nghiêm khắc lên án và cực lực tố cáo trước dư luận thế giới hành động leo thang chiến tranh điên cuồng của đế quốc Mỹ xâm lược”. Tuyên bố viết cuộc không kích của Mỹ là “một bước leo thang chiến tranh cực kỳ nghiêm trọng”, “là có tính toán trước nhằm thực hiện âm mưu kéo dài và tăng cường chiến tranh xâm lược và đàm phán trên thế mạnh”7.
Sau khi H. Kissinger tổ chức họp báo đổ lỗi cho Việt Nam muốn kéo dài đàm phán, đoàn đàm phán của VNDCCH tại Paris ra tuyên bố ngày 17-12, cáo buộc H. Kissinger đã bóp méo sự thật trong cuộc họp báo. Tuyên bố vạch rõ việc nối lại vụ ném bom diễn ra trong thời gian ngắn sau cuộc họp báo đã chứng tỏ rằng Mỹ chỉ đang kiếm cớ để leo thang chiến tranh. “Như chúng tôi đã nói trong nhiều trường hợp, chính quyền Nixon nói về hòa bình thì giả tạo nhưng gây chiến tranh là thực sự”, “Chính vì lý do này, phía Hoa Kỳ đã không đàm phán nghiêm túc, đi ngược lại các cam kết của mình, bỏ qua những thay đổi trong văn bản của hiệp định mà Hoa Kỳ cho là đã hoàn tất vào ngày 20-10. Tất cả các hành động của chính quyền Nixon chứng tỏ rằng Hoa Kỳ đang điên cuồng leo thang chiến tranh xâm lược, ngoan cố tiếp tục chính sách “Việt Nam hóa” và âm mưu thực hiện chủ nghĩa thực dân mới ở miền Nam Việt Nam”8.
Tối 18-12, Trưởng đoàn đàm phán VNDCCH Xuân Thủy, sau khi nhận được tin về cuộc không kích bằng B-52 của Mỹ, nói rằng cuộc ném bom mới ở miền Bắc đã tạo ra “một tình huống cực kỳ nghiêm trọng” và khả năng đàm phán trở lại sẽ phụ thuộc vào diễn biến của nó. Điều này “về cơ bản phụ thuộc vào những gì phía Mỹ sẽ quyết định”. Trưởng đoàn đàm phán CPCMLTCHMN Nguyễn Thị Bình nói rằng, ông Kissinger và ông Lê Đức Thọ đã cam kết không tiết lộ nội dung cuộc hội đàm, nhưng ông H. Kissinger, người đã t chức một cuộc họp báo hôm thứ bảy tuần trước, lại đưa ra bản tiếng Mỹ về những gì đã làm9.
Ngày 19-12, Trưởng đoàn đàm phán VNDCCH Xuân Thủy tổ chức một cuộc họp báo kéo dài hơn hai giờ để trả lời các cáo buộc của H. Kissinger. Trưởng đoàn Xuân Thủy chỉ rõ ông khi H. Kissinger trở lại Paris vào ngày 20-11 đđàm phán về Dự thảo Hiệp định được đưa ra vào tháng 10, Mỹ đã đxuất 126 thay đổi trong văn bản. Ngoài một số rất nhỏ là chi tiết hoặc kỹ thuật, là những thay đổi ảnh hưởng đến các điểm “quan trọng cơ bản”. Vào hôm đó, H. Kissinger nói nhẹ về những thay đổi mà Hoa Kỳ đã yêu cầu, coi đó là những thay đổi khiêm tốn. Trưởng đoàn Xuân Thủy nhiều lần nói rằng, những thay đổi do Hoa Kỳ đề xuất là rất quan trọng và nhắc lại nhiều lần yêu cầu Mỹ ngừng chiến tranh không quân mở rộng và ký vào bản dự thảo ngừng bắn như đã được đàm phán vào tháng 10-1972. Trong khi đó, tối 19-12, tại một cuộc họp quần chúng ở Paris, Trưởng đoàn Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam Nguyễn Thị Bình lên án Hoa Kỳ đã đàm phán “với sự thiếu tin tưởng và lá mặt lá trái”10.
Tại Paris, trong phiên họp toàn thể lần thứ 171 của Hội nghị Paris về Việt Nam, sáng 21-12, Phó đoàn VNDCCH Nguyễn Minh Vỹ đã phát biểu cực lực tố cáo và nghiêm khắc lên án những hành động đầy tội ác của Mỹ và đòi chính phủ Mỹ chấm dứt ngay việc ném bom, thả mìn phong tỏa và mọi hành động chiến tranh khác chống nước VNDCCH. Ông nói rằng việc Hoa Kỳ cáo buộc Hà Nội đang chuẩn bị một cuộc tấn công lớn là “một sự vu khống trơ ​​trẽn”. Ông so sánh nó với sự kiện Vịnh Bắc Bộ do giới cầm quyền Hoa Kỳ bịa đặt để lấy cớ ném bom miền Bắc và đưa quân đội Mỹ vào miền Nam Việt Nam. Người phát ngôn của đoàn VNDCCH Nguyễn Thành Lê tố cáo phía Mỹ đã đe dọa leo thang ném bom và cắt đứt các cuộc gặp riêng. Ông cho biết, tại một cuộc họp trong vòng đàm phán cuối cùng, từ ngày 4 đến 13-12, phía Hoa Kỳ đã lặp lại lời đe dọa 6 lần. Nguyễn Thành Lê nói: “Hoa Kỳ đang ảo tưởng nghiêm trọng”, “Người dân Việt Nam sẽ không bao giờ khuất phục trước một tối hậu thư kiểu này”. Nguyễn Thành Lê đã dùng cách nói hình ảnh của Kissinger nhưng với nghĩa ngược lại: “Hòa bình không còn trong tầm tay. Bàn tay đẫm máu đó đang thả những loạt bom lên các khu dân cư của Hà Nội và Hải Phòng”11. Phó Trưởng đoàn CPCMLTCHMN Đinh Bá Thi phát biểu vạch rõ, Mỹ không muốn hòa bình, vẫn tiếp tục đẩy mạnh chính sách “Việt Nam hóa chiến tranh”, kéo dài và mở rộng sự dính líu của họ về Việt Nam. Bước leo thang mới điên cuồng và liều lĩnh mà Mỹ đang tiến hành hiện nay là bằng chứng hiển nhiên về điều đó. Phía Việt Nam vẫn đề nghị phiên họp sau vào ngày 28-12. Để biểu thị sự phản đối, đoàn CPCMLTCHMN tuyên bố ngừng phiên họp 171 tại đây12.
Ngày 23-12, trả lời phỏng vấn của chương trình “Những vấn đề và trả lời”, Công ty phát thanh và truyền hình Mỹ, được phát công khai vào tối ngày 24-12, Trưởng đoàn VNDCCH Xuân Thủy cho biết Chính phủ VNDCCH sẽ không nối lại đàm phán với Hoa Kỳ chừng nào Chính quyền Nixon còn tiếp tục ném bom phía Bắc vĩ tuyến 20 của Việt Nam. Ông nói “Đàm phán không thể tiến hành dưới một trận oanh kích với bom rơi đạn nổ”. Ông nhắc lại quan điểm của VNDCCH rằng Oasinhtơn chứ không phải Hà Nội phải chịu trách nhiệm về sự thất bại trong đàm phán, rằng Hoa Kỳ đang sử dụng các cuộc ném bom tăng cường để cố gắng “buộc nhân dân Việt Nam chấp nhận các điều khoản của Hoa Kỳ”; “Trong điều kiện như vậy, người Việt Nam sẽ không bao giờ chấp nhận điều đó”. Trưởng đoàn Xuân Thủy giải thích rằng những nỗ lực để đạt được một giải pháp đàm phán đã thất bại, H. Kissinger đã tìm kiếm những thay đổi đáng kể trong Dự thảo Hiệp định đã được đàm phán và thỏa thuận vào tháng 10. Ông nói tiếp: “Tôi có thể nói rằng trong các cuộc đàm phán giữa Việt Nam và Hoa Kỳ vào tháng 11 và tháng 12 năm 1972, phía Hoa Kỳ đã nhất quyết đòi sửa đổi các nguyên tắc về nội dung, về bản chất của hiệp định”. Ông Xuân Thủy cáo buộc ông Kissinger đã đưa ra “mọi yêu cầu của chính quyền Sài Gòn”13.
Ngày 23-12, tại ngoại ô Gif-sur-Yvette, Đoàn VNDCCH đề nghị hoãn cuộc họp cấp chuyên gia thảo luận về các khía cạnh của cuộc đàm phán. Ngày 26-12, tại Paris, người phát ngôn của đoàn VNDCCH Nguyễn Thành Lê tuyên bố, nếu muốn giải quyết chiến tranh bằng con đường thương lượng nghiêm túc thì “Mỹ phải chấm dứt ngay các hành động leo thang chiến tranh chống nước VNDCCH, từ bỏ đe dọa bằng vũ lực và trước hết là quay trở lại tình trạng hiện có trước ngày 18 tháng 12”14. Tuyên bố kết thúc với lời cảnh báo rằng nếu Hoa Kỳ “từ chối đàm phán nghiêm túc và tìm cách khuất phục nhân dân Việt Nam bằng sức mạnh của bom đạn, thì nhân dân Việt Nam quyết tâm tiếp tục kháng chiến và trừng phạt đích đáng kẻ xâm lược”15. Ngày 27- 12, đoàn VNDCCH tiếp tục từ chối đề nghị của Mỹ về một cuộc họp ở cấp chuyên gia tại Paris. Thông điệp gửi cho phía Mỹ của VNDCCH nói rõ: “Khi tình hình trước ngày 18 tháng 12 năm 1972 được khôi phục, các cuộc họp của các đại diện và chuyên gia sẽ được nối lại16.
Oasinhtơn vẫn gia tăng áp lực, nhưng tổn thất về máy bay, đặc biệt là B-52 và phi công mỗi ngày một tăng. Tính đến ngày 28-12, đã có 33 máy bay B-52 bị bắn hạ (phía Mỹ nhận là 14). R. Nixon viết trong hồi ký của mình: “Nỗi lo chính của tôi trong tuần đầu cuộc ném bom không phải là làn sóng chỉ trích gay gắt ở trong nước và quốc tế mà tôi đã dự liệu, mà là những tổn thất lớn về máy bay B-52”17.
 VNDCCH cũng chịu nhiều tổn thất về người và vật chất do cuộc không kích kéo dài của Oasinhtơn gây ra, trong đó có Bệnh viện Bạch Mai, Khu dân cư phố Khâm Thiên,.v.v..
Trong điều kiện nói trên, Cộng hòa Pháp, nước chủ nhà của Hội nghị Paris, đã có những cố gắng góp phần để cuộc đàm phán giữa Hoa Kỳ và VNDCCH tiếp tục được diễn ra. Bộ trưởng Ngoại giao Pháp Maurice Schumann đã lần lượt gặp đại diện của các bên: ngày 27-12, gặp Võ Văn Sung, đại diện thường trực của VNDCCH tại Paris; ngày 28-12, gặp Jack B. Kubisch đại biện lâm thời Mỹ tại Paris và ngày 29-12, gặp Đại sứ William J. Porter, Trưởng đoàn đàm phán M18.
Ngày 30-12, tại cuộc họp báo ở Nhà Trắng, Gerald L. Warren, Phó Thư ký báo chí của Tổng thống Nixon, thông báo tuyên bố của Tổng thống R. Nixon chấm dứt ném bom khu vực Hà Nội - Hải Phòng và nối lại các cuộc đàm phán riêng tại Paris: “Tổng thống đã yêu cầu tôi thông báo vào sáng nay rằng các cuộc đàm phán giữa cố vấn của Tổng thống là Tiến sĩ Kissinger, với cố vấn đặc biệt Lê Đức Thọ và Bộ trưởng Xuân Thủy, sẽ được nối lại tại Paris vào ngày 8-1. Các cuộc đàm phán kỹ thuật giữa các chuyên gia của hai bên sẽ được nối lại vào ngày 2-1. Đó là toàn bộ phạm vi thông báo”19. Phạm vi thông báo ngắn gọn, không có chữ “ngừng ném bom”, nhưng đầu đề cũng như tiểu dẫn của các báo đều ghi “Cuộc họp báo ở Nhà Trắng về ngừng ném bom”. Việc “ngừng ném bom” được Warren nhắc lại trong khi trả lời báo chí ngay sau thông báo.
Những ngày cuối tháng 12-1972, Bộ Chính trị Trung ương Đảng Lao động Việt Nam đã họp, nhận định: “Mỹ dùng B-52 và thất bại, đó là bước đường cùng, chủ bài cuối cùng của đối phương đã vô dụng”, và quyết định Việt Nam nên gặp lại Mỹ để đi đến Hiệp định 20.
 Ngày 30-12 tại Paris, người phát ngôn của đoàn VNDCCH, Nguyễn Thành Lê, ra thông cáo: “Việc Mỹ ném bom trở lại miền Bắc Việt Nam trong lúc các cuộc thương lượng đang tiến hành đã không khuất phục được nhân dân Việt Nam mà còn bị những tổn thất nặng nề và bị dư luận thế giới rộng rãi nghiêm khắc lên án. Phía Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã nhiều lần tuyên bố là Mỹ phải trở lại tình hình trước ngày 18-12-1972 thì các cuộc nói chuyện giữa phía Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và phía Mỹ mới tiếp tục trở lại được.
Nay phía Mỹ đã trả lời là họ đồng ý chấm dứt mọi cuộc ném bom bắn phá từ vĩ tuyến 20 trở lên bắt đầu từ 19 giờ 00 ngày 29-12-1972 (giờ Oasinhtơn) tức là 7 giờ 00 ngày 30-12-1972 (giờ Hà Nội). Trên cơ sở đó, phía Việt Nam đồng ý nối lại các cuộc đàm phán giữa cố vấn đặc biệt Lê Đức Thọ, Bộ trưởng Xuân Thủy với tiến sĩ H. Kissinger và cuộc họp giữa các chuyên viên hai bên.
Phía Việt Nam Dân chủ Cộng hòa luôn luôn có thái độ nghiêm chỉnh và thiện chí, phía Mỹ cũng phải có thái độ như vậy thì mới nhanh chóng đi đến ký kết hiệp định chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam”21.
Ngày 3-1-1973, Cố vấn đặc biệt Lê Đức Thọ rời Hà Nội đi Paris, cùng với Bộ trưởng Xuân Thủy tiếp tục cuộc đàm phán riêng với H. Kissinger vào ngày 8-1-1973 để giải quyết những vấn đề còn lại của Dự thảo Hiệp định.
 
4. Mỹ thất bại của ý đồ thương lượng trên thế mạnh
Một số tác giả, chủ yếu thuộc giới quân sự Mỹ, cho rằng chiến dịch Linebacker II với việc phô trương sức mạnh của B-52 đã buộc Việt Nam trở lại đàm phán. Họ chỉ dựa vào sức mạnh hủy diệt có thật của B-52 đã gây ra cho VNDCCH, đặc biệt đối với dân thường và kết quả về sự kiện là đại biểu Việt Nam quay trở lại Paris để đàm phán sau cuộc không kích, để đưa ra kết luận đó.
Có mấy điểm sau đây là rõ ràng:
Một là, kết quả đàm phán trước trận oanh kích bằng B-52 là đáng khích lệ, chỉ còn một số vấn đề và hai bên thỏa thuận về nước báo cáo với chính phủ mình, tiếp tục liên lạc bằng thông điệp. Không hề có bên nào, trong đó có VNDCCH, tuyên bố bỏ hội nghị.
Hai là, về quân sự, ngay từ những ngày đầu tiên với số lượng B-52 bị bắn rơi, số phi công bị bắt ngày càng tăng, đã gây ra nỗi lo lắng cho chính Tổng thống Nixon như đã nói trên. Về ngoại giao, Mỹ vừa ném bom vừa đề nghị tiếp tục thương lượng nhưng đã bị VNDCCH bác bỏ và yêu cầu Mỹ phải trở lại tình hình trước ngày 18-12-1972. Mỹ đã phải tuyên bố ngừng ném bom để Việt Nam trở lại đàm phán.
Ba là, Mỹ muốn ép Việt Nam phải ký một hiệp định theo yêu cầu của Mỹ nhưng Hiệp định được ký kết sau đó vẫn giữ được nội dung chủ yếu của Dự thảo Hiệp định tháng 10-1972. Tờ Bưu điện Oasinhtơn viết: “Thất bại này buộc Tổng thống R. Nixon và cố vấn của ông ta phải chấp nhận những điều khoản mà trước đó họ đã bác bỏ”. Các nhà nghiên cứu Mỹ cũng nhận xét: “Quan trọng hơn cả, cuộc ném bom không đem lại một giải pháp khác hẳn một giải pháp mà Mỹ đã bác bỏ trước đó”22.
Đấu tranh ngoại giao của Việt Nam trong 12 ngày đêm tháng 12-1972 đáng ghi nhớ đã góp phần quan trọng đưa Mỹ trở lại đàm phán với Việt Nam, để đi đến ký kết Hiệp định.

 

1. Đoàn Huyên, “Hồi ức của nhà quân sự”, trong sách Mặt trận Dân tộc giải phóng - Chính phủ Cách mạng lâm thời tại Hội nghị Paris về Việt Nam, Nxb CTQG, H, 2000, tr. 286

2, 3. Lưu Văn Lợi, Nguyễn Anh Vũ: Các cuộc thương lượng Lê Đức Thọ - Kissinger tại Paris, Nxb CAND, H, 1996, tr. 274, 278
4. Và do đó, chiến dịch Linebacker mở ngày 6-4-1972 được gọi là Linebacker I
5. Klare, M. T. (2022). The B-52 bomber: The iconic U.S. instrument of nuclear combat and coercion. Arms Control Today, 52 (4), 6-11. Retrieved from https://www.proquest.com/scholarly-journals/b-52-bomber-iconic-u-s-instrument-nuclear-combat/docview/2659724748/se-2
6. Viện Nghiên cứu chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, Tập II (1954-1975),  Nxb CTQG, H, 1995, tr. 578
7. Xem: “Tuyên bố của Bộ Ngoại giao ta về việc đế quốc Mỹ xâm lược leo thang chiến tranh, đánh phá dã man Hà Nội, Hải Phòng và nhiều tỉnh ở miền Bắc Việt Nam”, Báo Nhân Dân, 20-12-1972, tr. 1. 3
8, 9. Flora Lewis: “Communists Hint Bombing May Bring Breakoff in Paris Talks”, The New York Times, December 19, 1972, p. 15, 15
10. Flora Lewis: “Thuy puts blame on U.S”, The New York Times, December 20, 1972, p. 79
11. Flora Lewis: “Communists quit session in Paris”, The New York Times, December 22, 1972, p. 1, 12.
12. Báo Nhân Dân, ngày 23-12-1972, tr. 4
13.  Bernard Gwertzman: “Thuy Rejects Peace Talks While U.S. Raids Continue”, The New York Times, December 25, 1972, p. 1
14, 15. “New U.S bombing asailed  by Hanoi”, The New York Times, December 27, 1972, p. 1, 1
16. “Hanoi rejects U.S. invitation for technical talks in Paris”, The New York Times, December 28, 1972,  p. 3
17. Nixon R.: The memoirs of Richard - Nixon, Grosset & Dunlap A Filmways Company Publisher, New York, 1978, p. 737
18. “Schumann Indicates Paris Is Trying to Renew Talks”, The New York Times, December 30, 1972, p. 5
19. “Transcript of White House News Conference on the Bombing Halt”, The New York Times, December 31, 1972, p. 3.
20. Đinh Nho Liêm: “Nhà ngoại giao xuất sắc Lê Đức Thọ”, trong sách  Nhớ về anh Lê Đức Thọ, Nxb CTQG, H, 2000, tr. 415
21. Báo Nhân Dân, ngày 2-1-1973, tr.1
22. G. C. Herring: Cuộc chiến tranh dài ngày nhất của nước Mỹ, Nxb CTQG, H, 1998, tr. 326.