Tóm tắt: Thắng lợi to lớn của quân và dân hai miền Nam - Bắc trong năm 1968 đã làm thất bại chiến lược “Chiến tranh cục bộ”, buộc đế quốc Mỹ phải ngồi vào bàn đàm phán với ta ở Hội nghị Paris và từng bước chuyển sang thực hiện chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh”, rút quân Mỹ và quân Đồng minh của Mỹ ra khỏi chiến trường Việt Nam. Nhằm đoàn kết các lực lượng chống đế quốc Mỹ và chính quyền thân Mỹ ở miền Nam, đáp ứng yêu cầu phát triển của cách mạng, nhất là trong đấu tranh ngoại giao, Trung ương Đảng chủ trương thành lập Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam. Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam ra đời là một sự kiện quan trọng có ý nghĩa to lớn của nhân dân miền Nam.
Từ khóa: Sự lãnh đạo của Đảng; Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam
Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam ra mắt, tháng 6-1969
1. Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1968 của quân miền Nam và những thắng lợi của miền Bắc đánh bại cuộc chiến tranh phá hoại lần thứ nhất của đế quốc Mỹ đã mở ra những thời cơ mới đối với cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ và tay sai của nhân dân Việt Nam. Để tăng cường hơn nữa sức mạnh khối đoàn kết, thống nhất của nhân dân miền Nam chống đế quốc Mỹ và chính quyền tay sai, Trung ương Đảng chủ trương thành lập chính phủ cách mạng kháng chiến ở miền Nam. Để thực hiện mục tiêu này, Đảng đã đã chỉ đạo mở hội nghị hiệp thương giữa Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam với Liên minh các lực lượng dân tộc, dân chủ và hoà bình Việt Nam và các đối tượng khác ở miền Nam. Ngày 24-1-1969, Bộ Chính trị gửi đồng chí Phạm Hùng, Bí thư Trung ương Cục miền Nam bức điện số 32, kèm Bản dự thảo Lời kêu gọi của Ban vận động hiệp thương. Nội dung bức điện chỉ rõ chủ trương của Bộ Chính trị về việc mở Hội nghị hiệp thương gồm 3 bước:
Bước 1: Mở Hội nghị hiệp thương (không công khai) giữa Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam với Liên minh các lực lượng dân tộc, dân chủ và hoà bình Việt Nam nhằm thống nhất nhận định, chủ trương và phương hướng đấu tranh cho việc lập một nội các hoà bình ở Sài Gòn.
Bước 2: Tổ chức vận động để tranh thủ được nhiều nhóm và cá nhân trong và ngoài nước tham gia hiệp thương chính thức. Trong quá trình triển khai cần có hiệp thương trù bị thay đổi giữa Liên minh các lực lượng dân tộc, dân chủ và hoà bình Việt Nam với các nhóm hoặc các nhân vật. Các cuộc hiệp thương này có thể công bố công khai hoặc không công bố. Quá trình vận động và hiệp thương trù bị sẽ đưa tới việc thành lập một Ban vận động gồm một số vị trong liên minh, các nhóm, các nhân vật khác để quyết định nội dung, thời gian, địa điểm tổ chức hội nghị hiệp thương chính thức. Việc tổ chức hiệp thương chính thức được sớm hay muộn, rộng hay hẹp là do kết quả công tác của bước này.
Bước 3: Mở hội nghị hiệp thương chính thức nhằm đề ra một chương trình hành động tối thiểu phù hợp với tình hình trước mắt, có khả năng tập hợp đông đảo lực lượng, đẩy phong trào đấu tranh đánh đổ liên minh giữa Nguyễn Văn Thiệu với Nguyễn Cao Kỳ, lập nội các hoà bình, thương lượng với Mặt trận Dân tộc giải phóng, thúc đẩy hội nghị Paris đi đến kết quả, đem lại hoà bình, độc lập, chủ quyền, trung lập cho miền Nam. Trước mắt, phải đề ra một chương trình hành động nhằm vào mục tiêu tự do, dân chủ và cải thiện đời sống nhân dân, đồng thời lập một ban hành động và ra lời kêu gọi để đấu tranh thực hiện nghị quyết của hội nghị hiệp thương chính thức1.
Thực hiện chủ trương của Bộ Chính trị, Trung ương Cục miền Nam tiếp tục lãnh đạo các lực lượng cách mạng miền Nam đẩy mạnh đấu tranh quân sự và chính trị, chuẩn bị các điều kiện tiến tới mở hội nghị hiệp thương ở miền Nam. Chỉ thị số 71/CTNT, ngày 31-1-1969 của Thường vụ Trung ương Cục miền Nam nêu rõ: “Đấu tranh đòi vãn hồi hòa bình, chấm dứt chiến tranh xâm lược, đòi lật đổ Thiệu - Kỳ - Hương, lập nội các hòa bình, đòi thương lượng nghiêm chỉnh với Mặt trận giải phóng đã trở thành câu chuyện thời sự và là khẩu hiệu bức thiết của các từng lớp nhân dân”2. Trung ương Cục miền Nam đề ra nhiệm vụ của đợt tấn công Xuân 1969, trong đó có mục tiêu: “mở rộng mặt trận liên hiệp hành động đòi vãn hồi hòa bình, lật đổ Thiệu - Kỳ - Hương, lập nội các hòa bình và đàm phán nghiêm chỉnh với Mặt trận giải phóng, phối hợp chặt chẽ với đấu tranh ngoại giao”.
Nhằm tiếp tục đẩy mạnh công tác chuẩn bị tiến tới hội nghị hiệp thương ở miền Nam, ngày 11-2-1969, Bộ Chính trị tiếp tục gửi điện cho đồng chí Phạm Hùng, Bí thư Trung ương Cục miền Nam khẳng định: “Bộ Chính trị đồng ý với Trung ương Cục về việc đẩy mạnh phong trào đấu tranh của quần chúng ở các thành thị đòi hoà bình, thúc đẩy việc hình thành và lập mặt trận thứ ba gồm những lực lượng đứng giữa các xu hướng yêu nước chân chính chống bọn phản động cực đoan tay sai của đế quốc Mỹ...”3. Để thúc đẩy cuộc đấu tranh của đồng bào đô thị miền Nam và thành lập mặt trận thứ ba, Bộ Chính trị cho rằng: Trong quá trình vận động thành lập mặt trận thứ ba, ta nên tổ chức hiệp thương giữa Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam và Liên minh các lực lượng dân tộc, dân chủ và hoà bình Việt Nam để thảo luận việc lập Chính phủ liên hiệp lâm thời và đề ra cương lĩnh hành động của chính phủ đó. Có thể làm theo hai mức: mức thấp là đề ra cương lĩnh của Chính phủ liên hiệp lâm thời và tiến hành vận động cho việc thành lập chính phủ đó; mức cao là tuyên bố thành lập Chính phủ lâm thời có cương lĩnh hành động và người giữ các chức vụ cụ thể trong Chính phủ. Chủ trương này là một mũi tấn công sách lược lớn của ta, góp phần triệt để phân hoá địch, đẩy mạnh phong trào quần chúng ở các thành thị miền Nam, thúc đẩy việc hình thành và sớm lập được mặt trận thứ ba, làm cho Mỹ càng thêm lúng túng, bị động; đối với thế giới thì làm sáng tỏ thiện chí của ta. Phải chuẩn bị tốt về nhân sự và phải thăm dò khả năng các nước xã hội chủ nghĩa công nhận chính phủ này như thế nào; phải có kế hoạch vận động chu đáo, bảo đảm có một tác động quốc tế quan trọng khi Chính phủ lâm thời tuyên bố thành lập4.
Đến tháng 4-1969, Bộ Chính trị ra Nghị quyết về tình hình và nhiệm vụ trước mắt của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta, nêu rõ các mục tiêu chiến lược, xác định tiếp tục đánh đổ và làm suy yếu ngụy quyền các cấp; thành lập chính quyền cách mạng ở trung ương5.
Thực hiện những chủ trương trên, trong đợt Xuân 1969, quân và dân Nam Bộ tiếp tục đồng loạt tấn công 38 thành phố, thị xã, 100 thị trấn và chi khu, đánh vào hầu hết các căn cứ, sở chỉ huy lớn, nhỏ, 38 sân bay,… gây cho địch nhiều thiệt hại. Phong trào đấu tranh chính trị của các tầng lớp nhân dân mạnh lên. Trước những biến chuyển mới, ngày 18-4-1969, Thường vụ Trung ương Cục miền Nam ra Thông tri số 87/CTNT nêu rõ: “ngày càng có nhiều người trong ngụy quân, ngụy quyền, trong các phe phái và tôn giáo thấy rằng phải thừa nhận Mặt trận, phải thương lượng nghiêm chỉnh, phải chịu Chính phủ liên hiệp, phải thay đổi Thiệu - Kỳ - Hương và lập nội các hòa bình”6. Đến ngày 1-5-1969, đồng chí Nguyễn Văn Linh, Phó Bí thư Trung ương Cục miền Nam đã gửi điện số 281/TV cho đồng chí Mai Chí Thọ và Thành ủy Sài Gòn - Gia Định nêu rõ chủ trương sẽ thành lập chính quyền trung ương kháng chiến; thành lập chính quyền kháng chiến ở Sài Gòn7.
Trung ương Cục miền Nam đã tiến hành tổ chức các cuộc gặp trao đổi hiệp thương giữa Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam với Liên minh các lực lượng dân tộc, dân chủ và hoà bình Việt Nam. Những cuộc gặp này đã đạt được nhiều kết quả quan trọng. Ngày 12-5-1969, Thường vụ Trung ương Cục miền Nam điện gửi Bộ Chính trị (số 235/BC) về việc xúc tiến thành lập Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam, chỉ rõ nhân sự trong Chính phủ Cách mạng lâm thời gồm những người tiêu biểu có ảnh hưởng rộng trong các giới, được quần chúng cơ bản tin tưởng, có uy tín và khả năng liên hiệp rộng rãi. Để liên hiệp rộng, ta cần tổ chức hội đồng cố vấn gồm những người có uy tín của Mặt trận, của Liên minh, của các tôn giáo, dân tộc, trong đó có sự liên hiệp, có vai trò nòng cốt trong Mặt trận và Liên minh các lực lượng dân tộc, dân chủ và hoà bình Việt Nam.
Trung ương Cục đã chuẩn bị văn kiện của Đại hội quốc dân, gồm: Báo cáo chính trị của Đại hội, Lời hiệu triệu của đại hội, Thông báo kết quả của đại hội và công bố Chính phủ Cách mạng lâm thời, Tuyên ngôn của Chính phủ Cách mạng lâm thời. Trung ương Cục miền Nam dự kiến thời gian sớm nhất là ngày 5-6-1969, Chính phủ cách mạng lâm thời sẽ ra đời8.
2. Sau thời gian tích cực chuẩn bị, từ ngày 6 đến ngày 8-6-1969, tại khu rừng Tà Nốt - Tà Đạt (Tân Biên, Tây Ninh) diễn ra Đại hội Đại biểu quốc dân miền Nam, gồm đại diện của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam, Liên minh các lực lượng dân tộc, dân chủ và hòa bình Việt Nam, cùng đại biểu các lực lượng yêu nước khác ở miền Nam Việt Nam. Đại hội đã khẳng định những kết quả đạt được trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước và nhất trí cử ra Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam, do Kiến trúc sư Huỳnh Tấn Phát làm Chủ tịch, các Phó Chủ tịch là Bác sĩ Phùng Văn Cung (kiêm Bộ trưởng Bộ Nội Vụ), Giáo sư Nguyễn Văn Kiết (kiêm Bộ trưởng Giáo dục và Thanh niên) và cụ Nguyễn Đóa cùng 7 vị Bộ trưởng. Bên cạnh Chính phủ có Hội đồng cố vấn do Luật sư Nguyễn Hữu Thọ làm Chủ tịch; Luật sư Trịnh Đình Thảo làm Phó Chủ tịch và 11 ủy viên.
Báo cáo chính trị do Chủ tịch Nguyễn Hữu Thọ trình bày tại Đại hội nêu rõ: Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam nhằm đoàn kết toàn dân, toàn quân ta tiến lên đánh bại chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ, đánh đổ ngụy quyền tay sai giành lấy thắng lợi hoàn toàn, thực hiện một miền Nam Việt Nam hòa bình độc lập, dân chủ, trung lập, tiến tới hòa bình, thống nhất Tổ quốc.
Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam là chính phủ kháng chiến chống Mỹ, cứu nước giải phóng dân tộc, thực hành dân chủ đối với nhân dân, kiên quyết chống đế quốc Mỹ xâm lược và tay sai phản động bán nước. Chính phủ tiêu biểu cho khối đoàn kết toàn dân ta và thực hiện chính sách đoàn kết rộng rãi các tầng lớp nhân dân, các lực lượng chính trị, các dân tộc các tôn giáo và tất cả mọi người Việt Nam yêu nước9.
Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam công bố Chương trình hành động 12 điểm nhằm động viên toàn quân, toàn dân miền Nam đẩy mạnh sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước đến thắng lợi hoàn toàn. Chính phủ Cách mạng lâm thời ra Lời kêu gọi toàn quân, toàn dân, không phân biệt chính đảng tôn giáo, dân tộc, đoàn thể, công nhân, nông dân, thanh niên, phụ nữ, học sinh, sinh viên, các tổ chức công thương yêu nước, kiều bào ở nước ngoài và những cá nhân yêu nước trong ngụy quân, ngụy quyền… tất cả cùng tăng cường đoàn kết, cống hiến nhiều hơn nữa cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, tích cực ủng hộ Chính phủ Cách mạng lâm thời làm tròn sứ mệnh lịch sử.
Ngày 10-6-1969, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam họp phiên đầu tiên, dưới sự chủ tọa của Chủ tịch Huỳnh Tấn Phát. Chính phủ đã bàn biện pháp thực hiện Nghị quyết của Đại hội đại biểu quốc dân và thông qua Chương trình hành động của Chính phủ. Chương trình gồm các chính sách lớn, như chính sách đẩy mạnh cuộc chiến đấu chống Mỹ cứu nước, chính sách hòa hợp dân tộc, khôi phục và phát triển kinh tế, văn hóa, bảo đảm các quyền tự do dân chủ, trong đó chính sách về ruộng đất, khẩu hiệu “người cày có ruộng” được đặc biệt quan tâm. Đại bộ phận nông dân ở miền Nam đã có ruộng để cày cấy. Sản xuất nông nghiệp, thủ công nghiệp phát triển. Sự nghiệp văn hoá, giáo dục, y tế cũng đạt được những kết quả quan trọng.
Ngay khi tuyên bố thành lập, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam đã được sự đồng tình ủng hộ rộng rãi của bạn bè quốc tế. Chỉ tính trong tháng 6-1969, đã có 23 nước công nhận Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam, trong đó có 21 nước đặt quan hệ ngoại giao ở cấp đại sứ10.
Ngay sau khi Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam ra đời, ngày 9-6-1969, Ban Bí thư Trung ương Đảng đã gửi điện cho các bí thư khu uỷ và tỉnh uỷ, thành uỷ nêu rõ: Đại hội đại biểu quốc dân ở miền Nam do Đảng ta lãnh đạo đã thành công rực rỡ và đã cử ra Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam. Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam ra đời đánh dấu những thắng lợi to lớn của thời kì tổng tấn công và nổi dậy, sự trưởng thành của phong trào cách mạng miền Nam. Sự kiện lịch sử này có ý nghĩa chính trị rất quan trọng. Đó là nguồn cổ vũ, động viên rất lớn đối với quân và dân ta ở cả hai miền quyết tâm chống Mỹ, cứu nước, hoàn thành sự nghiệp giải phóng miền Nam. Đồng thời, đây là bước phát triển tất yếu trong quá trình đấu tranh cách mạng ở miền Nam nhằm giành chính quyền về tay nhân dân. Sự kiện này đã giáng một đòn mạnh vào âm mưu của đế quốc Mỹ cố bám vào chính quyền bù nhìn, vạch trần cái gọi là hợp hiến, hợp pháp của nguỵ quyền, khoét sâu những mâu thuẫn trong nội bộ Mỹ, nguỵ. Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam ra đời còn tạo điều kiện thuận lợi cho ta tranh thủ hơn nữa tầng lớp trung gian ở miền Nam, thúc đẩy phong trào đô thị, tạo điều kiện cho một chính phủ liên hiệp rộng rãi về sau ở miền Nam. Ban Bí thư yêu cầu các địa phương phải tuyên truyền rộng rãi nêu bật ý nghĩa chính trị của sự kiện này, đồng thời nêu cao sự nhất trí ủng hộ cách mạng miền Nam11.
Như vậy, chỉ sau 6 tháng tập trung lãnh đạo, chỉ đạo quyết liệt của Bộ Chính trị, Ban Chấp hành Trung ương, mà trực tiếp là Trung ương Cục miền Nam, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam đã được thành lập. Đây là kết quả của sự lãnh đạo tập trung thống nhất của Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng, của Trung ương Cục miền Nam, sự tích cực hoạt động của Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam và phong trào đấu tranh của nhân dân miền Nam.
Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam ra đời là một sự kiện quan trọng có ý nghĩa to lớn của nhân dân miền Nam. Chính phủ là đại diện chân chính cho cách mạng miền Nam trong mọi hoạt động, trong đó, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam đã phối hợp chặt chẽ với Chính phủ Việt Nam Dân chủ cộng hòa đấu tranh buộc Mỹ và chính quyền Việt Nam Cộng hòa phải kí kết Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh lập lại hòa bình ở Việt Nam. Đồng thời, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam thực hiện tốt vai trò quản lí ở những vùng giải phóng; thúc đẩy phong trào đấu tranh chính trị ở các đô thị và vùng chính quyền Việt Nam Cộng hòa kiểm soát, góp phần vào thắng lợi chung của cả dân tộc trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.
Ngày nhận bài: 20-12-2023; ngày thẩm định, đánh giá: 28-12-2023; ngày duyệt đăng 30-12-2023
1, 5. Xem: Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh - Viện Lịch sử Đảng: Biên niên Lịch sử Xứ ủy Nam Bộ và Trung ương cục miền Nam (1954-1975), Nxb CTQG, H, 2008, tr. 891-892, 917
2, 3, 4, 6, 7. Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam - Văn phòng: Văn kiện Trung ương Cục miền Nam 1946-1975, Nxb CTQGST, H, 2020, T. 13, tr, 73- 74, 958, 959, 217, 235
8. Tài liệu lưu tại Cục Lưu trữ Văn phòng Trung ương Đảng, Phông Trung ương Cục miền Nam P42 –ĐVBQ 0359 (123-6).
9, 10. Xem: Ban Chỉ đạo biên soạn Lịch sử Chính phủ: Lịch sử biên niên Chính phủ Việt Nam 1945-2005, T. 5 – Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam và Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam, Nxb Văn hóa Thông tin, H, 2006, tr. 329-330, 330
11. Xem: Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập, Nxb CTQG, H, 2004, T. 30, tr.188-190.