Tóm tắt: Thực tiễn lịch sử cách mạng Việt Nam từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời với việc xác lập Cương lĩnh chính trị đầu tiên đã khẳng định dứt khoát nội dung, xu hướng phát triển của xã hội Việt Nam là gắn liền độc lập dân tộc với CNXH. Đó là thành quả của sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin vào thực tiễn cách mạng Việt Nam của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh. Sự lựa chọn đó đáp ứng khát vọng của toàn thể nhân dân Việt Nam và đưa dân tộc Việt Nam hòa chung với xu thế phát triển của lịch sử: “Đối với nước ta, không còn con đường nào khác để có độc lập dân tộc thật sự và tự do, hạnh phúc cho nhân dân. Cần nhấn mạnh rằng đây là sự lựa chọn của chính lịch sử, sự lựa chọn đã dứt khoát từ năm 1930 với sự ra đời của Đảng ta”1.

Từ khóa: Đảng Cộng sản Việt Nam; Cương lĩnh chính trị đầu tiên; bước ngoặt của cách mạng Việt Nam


Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV ra mắt tại Đại hội

 1. Vào những năm cuối thế kỷ XIX đầu thế kỉ XX, tiếp tục truyền thống yêu nước, bất khuất kiên cường chống ngoại xâm, các phong trào chống thực dân Pháp theo ý thức hệ phong kiến, tư sản của nhân dân Việt Nam diễn ra rất sôi nổi và liên tục, nhưng tất cả đều không thành công. Trên thực tế, đến cuối những năm 20 của thế kỷ XX “các phong trào cứu nước từ lập trường Cần Vương đến lập trường tư sản, tiểu tư sản, qua khảo nghiệm lịch sử đều lần lượt thất bại”2. Việt Nam lâm vào khủng hoảng bế tắc về đường lối cứu nước, nhiệm vụ lịch sử đặt ra cho các thế hệ yêu nước đương thời là cần phải có một tổ chức cách mạng tiên phong, có đường lối cứu nước đúng đắn để giải phóng dân tộc.
Với khát vọng cứu nước, với thiên tài trí tuệ, nhãn quan chính trị sắc bén và  được kế thừa các giá trị truyền thống của dân tộc Việt Nam, ngày 5-6-1911, người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành-Nguyễn Ái Quốc quyết định ra đi  tìm đường cứu nước. Trong hành trình bôn ba, khảo nghiệm con đường cứu nước, thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười Nga (1917) đã tác động sâu sắc đến nhận thức và hoạt động cách mạng của Người. Người từ nước Anh trở lại nước Pháp và tham gia các hoạt động chính trị trong Đảng Xã hội Pháp, một chính đảng tiến bộ nhất lúc đó ở Pháp. Trong môi trường hoạt động ấy, Nguyễn Ái Quốc đã đọc được bản Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa của V.I.Lênin đăng trên báo L’Humanite (Nhân đạo), số ra ngày 16, 17-7-1920. Những luận điểm cách mạng của V.I.Lênin về vấn đề dân tộc và thuộc địa đã giải đáp những vấn đề cơ bản và chỉ dẫn hướng phát triển của sự nghiệp cứu nước, giải phóng dân tộc mà sau gần mười năm tìm kiếm (1911-1920) Nguyễn Ái Quốc mới bắt gặp.  Lý luận của V.I.Lênin và lập trường đúng đắn của Quốc tế Cộng sản về cách mạng giải phóng các dân tộc thuộc địa là cơ sở quan trọng để Nguyễn Ái Quốc tán thành chương trình hoạt động Quốc tế Cộng sản tại Đại hội lần thứ XVIII của Đảng Xã hội Pháp (12-1920). Đây cũng là sự kiện Nguyễn Ái Quốc trở thành một trong những sáng lập viên của Đảng Cộng sản Pháp và là người cộng sản đầu tiên của Việt Nam, đánh dấu bước chuyển biến quyết định trong tư tưởng và lập trường chính trị của Nguyễn Ái Quốc. Sự kiện đó cũng mở ra cho cách mạng giải phóng dân tộc Việt Nam một giai đoạn phát triển mới-“giai đoạn gắn phong trào cách mạng Việt Nam với phong trào công nhân quốc tế, đưa nhân dân Việt Nam đi theo con đường mà chính Người đã trải qua, từ chủ nghĩa yêu nước đến với chủ nghĩa Mác-Lênin”3.
Từ đây, Nguyễn Ái Quốc tích cực truyền bá chủ nghĩa Mác-Lênin vào Việt Nam, chuẩn bị cho sự ra đời chính đảng tiên phong. Người khẳng định: Cách mạng muốn giành được thắng lợi: “Trước hết phải có đảng cách mệnh, để trong thì vận động và tổ chức dân chúng, ngoài thì liên lạc với dân tộc bị áp bức và vô sản giai cấp mọi nơi. Đảng có vững cách mệnh mới thành công, cũng như người cầm lái có vững thuyền mới chạy”4.
Sau khi lựa chọn con đường cứu nước-con đường cách mạng vô sản cho dân tộc Việt Nam, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đưa ra “lộ trình”: “...đi vào quần chúng, thức tỉnh họ, tổ chức họ, đoàn kết họ, đưa họ ra đấu tranh giành tự do độc lập”5. Trong những năm tháng đầy cam go, hiểm nguy, thử thách, với khát vọng cháy bỏng giải phóng dân tộc, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã hoạt động khẩn trương, tích cực và đầy sáng tạo chuẩn bị những  tiền đề về tư tưởng, chính trị, tổ chức để dẫn tới ra đời các tổ chức cộng sản ở Việt Nam-đẩy bánh xe lịch sử của cách mạng Việt Nam phù hợp với xu thế tiến bộ của lịch sử cách mạng thế giới.
Thành quả của sự chuyển biến mạnh mẽ các phong trào đấu tranh của các tầng lớp nhân dân dẫn tới sự ra đời ba tổ chức cộng sản trên cả nước diễn ra trong vòng nửa cuối năm 1929 đầu năm 1930 (Đông Dương Cộng sản Đảng, An Nam Cộng sản Đảng và Đông Dương Cộng sản Liên đoàn). Thành quả đó đã khẳng định bước tiến về chất của phong trào công nhân và phong trào yêu nước Việt Nam theo khuynh hướng cách mạng vô sản, phù hợp với xu thế và nhu cầu bức thiết của lịch sử Việt Nam. Tuy nhiên, khi các tổ chức cộng sản ra đời, xuất hiện tình trạng phân tán, chia rẽ lực lượng cách mạng Việt Nam, trước tình hình “hai nhóm cộng sản sử dụng nhiều-nếu không nói là tất cả-nghị lực và thời gian trong cuộc đấu tranh nội bộ và bè phái”6.
Trước tình hình đó, theo tài liệu của Quốc tế Cộng sản gửi những người cộng sản Đông Dương (ghi ngày 27-10-1929), nêu rõ: “Việc thiếu một Đảng Cộng sản duy nhất trong lúc phong trào quần chúng công nhân và nông dân ngày càng phát triển, đã trở thành một điều nguy hiểm vô cùng cho tương lai trước mắt của cuộc cách mạng ở Đông Dương”. Vì vậy: “Nhiệm vụ quan trọng nhất và cấp bách nhất của tất cả những người cộng sản Đông Dương là thành lập một đảng cách mạng có tính chất giai cấp của giai cấp vô sản, nghĩa là một Đảng Cộng sản có tính chất quần chúng ở Đông Dương. Đảng đó phải chỉ có một và là tổ chức duy nhất ở Đông Dương”7. Nhu cầu thành lập một chính đảng cách mạng có đủ khả năng tập hợp lực lượng toàn dân tộc và đảm nhiệm vai trò lãnh đạo sự nghiệp giải phóng dân tộc ngày càng trở nên bức thiết đối với cách mạng Việt Nam lúc bấy giờ.
 
2. Trước bối cảnh ấy, với tư cách là phái viên của Quốc tế Cộng sản, Nguyễn Ái Quốc đã đến Hồng Kông (Trung Quốc) triệu tập Hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản  thành một chính đảng duy nhất của Việt Nam. Trong Báo cáo gửi Quốc tế Cộng sản, ngày 18-2-1930, Nguyễn Ái Quốc viết: “Tôi đã cố gắng đi lần thứ ba khi một đồng chí từ Hồng Kông tới Xiêm và tin cho tôi biết tình hình Hội An Nam Thanh niên Cách mạng bị tan rã; những người cộng sản chia thành nhiều phái v.v...
Lập tức tôi đi Trung Quốc, tới đó vào ngày 23-12. Sau đó, tôi triệu tập các đại biểu của hai nhóm (Đông Dương và An Nam). Chúng tôi họp vào ngày mồng 6-1.
Với tư cách là phái viên của Quốc tế Cộng sản có đầy đủ quyền quyết định mọi vấn đề liên quan đến phong trào cách mạng ở Đông Dương, tôi nói cho họ biết những sai lầm và họ phải làm gì. Họ đồng ý thống nhất vào một đảng.
Chúng tôi cùng nhau xác định cương lĩnh và chiến lược theo đường lối của Quốc tế Cộng sản...
... Các đại biểu trở về An Nam ngày 8-2”8.
Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc nêu ra năm điểm lớn cần thảo luận và thống nhất, trước hết là “Bỏ mọi thành kiến xung đột cũ, thành thật hợp tác để thống nhất các nhóm cộng sản Đông Dương”9. Hội nghị thảo luận, tán thành ý kiến chỉ đạo của Nguyễn Ái Quốc,  hợp nhất các tổ chức cộng sản thành một đảng, lấy tên là Đảng Cộng sản Việt Nam10. Hội nghị thông qua các văn kiện do lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc soạn thảo. Đó là các văn kiện:  Chánh cương vắn tắt của Đảng, Sách lược vắn tắt của Đảng, Chương trình tóm tắt, Điều lệ vắn tắt của Đảng Cộng sản Việt Nam. 
Hội nghị thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam dưới sự chủ trì của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc có giá trị như một đại hội Đảng. Trong tác phẩm Sơ thảo lịch sử phong trào cộng sản ở Đông Dương, được công bố năm 1933, tác giả Hồng Thế Công (Hà Huy Tập) đã đánh giá cống hiến của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đối với sự kiện thành lập Đảng: “công lao to lớn của đồng chí là đã tập hợp được các lực lượng cộng sản phân tán lại thành một khối, nhờ đó mà đưa lại cho những người lao động Đông Dương một đội tiền phong chiến đấu và kiên quyết cách mạng”11.  
 
3. Văn kiện Chánh cương vắn tắt của Đảng và Sách lược vắn tắt của Đảng do lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc soạn thảo và được Hội nghị thành lập Đảng nhất trí thông qua, dù rất “vắn tắt”, nhưng đã phản ánh đường hướng phát triển và những vấn đề cơ bản về chiến lược và sách lược của cách mạng Việt Nam. Vì vậy, Chánh cương vắn tắt của Đảng và Sách lược vắn tắt của Đảng là Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng Cộng sản Việt Nam-đưa dân tộc Việt Nam sang bước ngoặt lịch sử vĩ đại.
Chánh cương vắn tắt của Đảng phân tích, đánh giá khái quát đặc điểm cơ bản nhất của kinh tế-xã hội Việt Nam dưới chế độ thuộc địa nửa phong kiến. Đặc biệt phân tích tính chất độc quyền khai thác thuộc địa của tư bản Pháp, gây nên hậu quả kìm hãm sự phát triển kinh tế của Việt Nam: “Tư bản bản xứ đã thuộc tư bản Pháp, vì tư bản Pháp hết sức ngăn trở sức sinh sản làm cho công nghệ bản xứ không thể mở mang được. Còn về nông nghệ một ngày một tập trung đã phát sinh ra lắm khủng khoảng, nông dân thất nghiệp nhiều”12. Vì vậy, dẫn tới mâu thuẫn giữa toàn thể dân tộc Việt Nam với đế quốc Pháp xâm lược. Xuất phát từ phân tích thực trạng và mâu thuẫn trong xã hội Việt Nam-một xã hội thuộc địa nửa phong kiến, mâu thuẫn giữa dân tộc Việt Nam trong đó có công nhân, nông dân với đế quốc ngày càng gay gắt cần phải giải quyết. Từ đó, Chánh cương xác định  đường lối  chiến lược của cách mạng Việt Nam “chủ trương làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản”13. Như vậy, mục tiêu chiến lược được nêu ra trong Cương lĩnh đầu tiên của Đảng đã làm rõ nội dung của cách mạng thuộc địa nằm trong phạm trù của cách mạng vô sản, chính là làm cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân tiến lên CNXH. Giải phóng dân tộc và giải phóng giai cấp, giải phóng xã hội gắn liền mật thiết với nhau thể hiện ở mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH.
Về nhiệm vụ và mục tiêu cụ thể, chủ yếu trước mắt  của cách mạng Việt Nam:  “Đánh đổ đế quốc chủ nghĩa Pháp và bọn phong kiến”, “Làm cho nước Nam được hoàn toàn độc lập”14. Đây là vấn đề căn cốt của cách mạng Việt Nam lúc này. Chống đế quốc và chống phong kiến là nhiệm vụ cơ bản để giành độc lập cho dân tộc và ruộng đất cho dân cày, trong đó chống đế quốc, giành độc lập cho dân tộc được đặt ở vị trí hàng đầu. Để sau đó: “Dựng ra chính phủ công nông binh”, “Thâu hết sản nghiệp lớn (như công nghiệp, vận tải, ngân hàng vv...) của tư bản đế quốc chủ nghĩa Pháp để giao cho Chính phủ công nông binh quản lý”. Trong đó, trước hết là “Thâu hết ruộng đất của đế quốc chủ nghĩa làm của công chia cho dân cày nghèo”15.
Về lực lượng cách mạng: Xác định công nhân, nông dân-đây là lực lượng cơ bản, trong đó giai cấp công nhân lãnh đạo; đồng thời chủ trương đoàn kết tất cả các giai cấp, các lực lượng tiến bộ, yêu nước để tập trung chống đế quốc và tay sai. Do vậy, Đảng “phải thu phục cho được đại bộ phận giai cấp mình”, “phải thu phục cho được đại bộ phận dân cày,... hết sức liên lạc với tiểu tư sản, trí thức, trung nông... để kéo họ đi vào phe vô sản giai cấp. Còn đối với bọn phú nông, trung, tiểu địa chủ và tư bản An Nam mà chưa rõ mặt phản cách mạng thì phải lợi dụng, ít lâu mới làm cho họ đứng trung lập”16. Đây là cơ sở của tư tưởng chiến lược đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng khối đại đoàn kết rộng rãi các giai cấp, các tầng lớp nhân dân yêu nước và các tổ chức yêu nước, cách mạng, trên cơ sở đánh giá đúng đắn thái độ các giai cấp phù hợp với đặc điểm xã hội Việt Nam.
Về phương pháp tiến hành cách mạng giải phóng dân tộc, Cương lĩnh khẳng định phải bằng con đường bạo lực cách mạng chứ không thể là con đường cải lương thoả hiệp “không khi nào nhượng một chút lợi ích gì của công nông mà đi vào đường thoả hiệp”, “Bộ phận nào đã ra mặt phản cách mạng (Đảng Lập hiến, v.v.) thì phải đánh đổ”17.
Cương lĩnh nêu rõ cách mạng Việt Nam liên lạc mật thiết và là một bộ phận của cách mạng vô sản thế giới, “trong khi tuyên truyền cái khẩu hiệu nước An Nam độc lập, phải đồng thời tuyên truyền và thực hành liên lạc với bị áp bức dân tộc và vô sản giai cấp thế giới”18. Như vậy, ngay từ khi mới thành lập, Đảng Cộng sản Việt Nam đã nêu cao chủ nghĩa quốc tế và mang bản chất quốc tế của giai cấp công nhân.
Về vai trò lãnh đạo của Đảng:  với tư cách là đội tiên phong của giai cấp vô sản, Sách lược vắn tắt của Đảng ghi rõ: “Đảng là đội tiên phong của vô sản giai cấp phải thu phục cho được đại bộ phận giai cấp mình, phải làm cho giai cấp mình lãnh đạo được dân chúng”19.  “Đảng là đội tiên phong của đạo quân vô sản gồm một số lớn của giai cấp công nhân và làm cho họ có đủ năng lực lãnh đạo quần chúng”20.
Những nội dung cơ bản trong Chánh cương vắn tắt của Đảng và Sách lược vắn tắt của Đảng  đã thể hiện bản lĩnh chính trị độc lập, tự chủ, sáng tạo trong việc đánh giá đặc điểm, tính chất  xã hội thuộc địa nửa phong kiến Việt Nam trong những năm 20 của thế kỷ XX. Những nội dung cơ bản ấy đã khẳng định lần đầu tiên cách mạng Việt Nam có một bản cương lĩnh chính trị phản ánh đúng quy luật khách quan của xã hội Việt Nam, đáp ứng những nhu cầu cơ bản và cấp bách của xã hội Việt Nam, phù hợp với xu thế của thời đại, định hướng chiến lược đúng đắn cho tiến trình phát triển của cách mạng Việt Nam.
Đó là sự vận dụng đúng đắn, sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin vào hoàn cảnh cụ thể của một nước thuộc địa nửa phong kiến. Trong đó, xác định đúng đắn các mối quan hệ cốt lõi trong cách mạng Việt Nam: kết hợp đúng đắn vấn đề giai cấp và vấn đề dân tộc; kết hợp truyền thống yêu nước và tinh thần cách mạng của nhân dân Việt Nam với những kinh nghiệm của cách mạng thế giới; kết hợp chủ nghĩa yêu nước với chủ nghĩa quốc tế trong sáng; đặc biệt là sự  kết hợp nhuần nhuyễn và đầy sáng tạo, đặc điểm thực tiễn, yêu cầu của cách mạng Việt Nam với tư tưởng tiên tiến cách mạng của thời đại.
Sự kiện thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam là một bước ngoặt quyết định trong sự phát triển của dân tộc, tạo những tiền đề và nhân tố hàng đầu quyết định đưa cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác, hiện thực hóa Điều lệ vắn tắt của Đảng Cộng sản Việt Nam: “Đảng Cộng sản Việt Nam tổ chức ra để lãnh đạo quần chúng lao khổ làm giai cấp tranh đấu để tiêu trừ tư bản đế quốc chủ nghĩa, làm cho thực hiện xã hội cộng sản”21.   
Do vậy, từ năm 1858 (khi thực dân Pháp xâm lược) đến năm 1930, sau hơn 70 năm nhân dân Việt Nam kế thừa truyền thống bất khuất, kiên cường chống ngoại xâm, các thế hệ người Việt Nam yêu nước, dù ở giai tầng nào cũng đã sẵn sàng xả thân vì nền độc lập dân tộc. Nhưng tất cả các phong trào yêu nước trước khi có Đảng đều lâm vào bế tắc. Khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, chỉ 15 năm sau đi theo Cương lĩnh chính trị của Đảng, dân tộc Việt Nam đã làm nên kỳ tích vĩ đại trong Cách mạng Tháng Tám 1945. Thắng lợi ấy “Chẳng những giai cấp lao động và nhân dân Việt Nam ta có thể tự hào, mà giai cấp lao động và những dân tộc bị áp bức nơi khác cũng có thể tự hào rằng: Lần này là lần đầu tiên trong lịch sử cách mạng của các dân tộc thuộc địa và nửa thuộc địa, một Đảng mới 15 tuổi đã lãnh đạo cách mạng thành công, đã nắm chính quyền trong toàn quốc”22. Thắng lợi vĩ đại ấy đã khẳng định trên thực tế đường lối đúng đắn, năng lực và hiệu quả lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, là một mốc son chói lọi trên con đường cách mạng do Nguyễn Ái Quốc-Hồ Chí Minh đã hoạch định từ năm 1930, và là nền tảng vững chắc cho dân tộc Việt Nam tiếp nối trên con đường độc lập dân tộc và CNXH.
Đường lối cách mạng của Đảng Cộng sản Việt  Nam được khẳng định qua suốt các chặng đường đấu tranh giải phóng dân tộc, kháng chiến chống ngoại xâm và xây dựng đất nước quá độ lên CNXH và đến nay vẫn là ngọn cờ soi sáng nhân dân Việt Nam trong công cuộc đổi mới theo định hướng XHCN. Thực hiện con đường cách mạng ấy, dân tộc Việt Nam đã thay đổi cả vận mệnh của dân tộc, thay đổi cả thân phận của người dân và từng bước khẳng định vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) đã nhận định: “Từ năm 1930 đến nay, Đảng Cộng sản Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập và rèn luyện, đã lãnh đạo nhân dân ta tiến hành cuộc đấu tranh cách mạng lâu dài, gian khổ, vượt qua muôn vàn khó khăn, thử thách và giành được những thắng lợi vĩ đại: Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, đập tan ách thống trị của thực dân, phong kiến, lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, đưa dân tộc ta tiến vào kỷ nguyên độc lập, tự do; thắng lợi của các cuộc kháng chiến chống xâm lược, mà đỉnh cao là chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ năm 1954, đại thắng mùa Xuân năm 1975, giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, bảo vệ Tổ quốc, làm tròn nghĩa vụ quốc tế; thắng lợi của công cuộc đổi mới, tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế, tiếp tục đưa đất nước từng bước quá độ lên chủ nghĩa xã hội với nhận thức và tư duy mới đúng đắn, phù hợp thực tiễn Việt Nam”23.
Tám mươi chín năm đã trôi qua, lịch sử thế giới đã có nhiều đổi thay, nhưng giá trị của Cương lĩnh chính trị đầu tiên được xác lập trong Hội nghị thành lập Đảng mãi mãi là ngọn cờ tiếp tục soi sáng con đường cách mạng của dân tộc Việt Nam, chính vì đó là khát vọng của nhân dân Việt Nam, là sự lựa chọn đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh, phù hợp với xu thế phát triển của lịch sử.
 

 
Bài đăng trên Tạp chí Lịch sử Đảng (in) số 2/2019
1, 2. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII, Nxb ST, H, 1991, tr.109, 109
3. Lê Duẩn: Dưới lá cờ vẻ vang của Đảng, vì độc lập tự do tiến lên chủ nghĩa xã hội, Nxb ST, H, 1976, tr. 8
4. Hồ Chí Minh Toàn tập, Nxb CTQG, H, 2011, T. 2,  tr. 289
5. Sđd, T. 1, tr. 209
6, 8, 9, 12, 13, 14, 15, 16, 17, 18, 19, 20, 21. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập, Nxb CTQG, H, 2011, T. 2, tr. 21, 19-20, 1, 2, 2, 2, 3, 4, 4, 2, 4, 6, 7
7. Sđd, T. 1,  tr. 614
10. Ngày 24-2-1930, Lâm thời chấp ủy Đảng Cộng sản Việt Nam ra Quyết nghị chấp nhận  Đông Dương Cộng sản Liên đoàn gia nhập Đảng Cộng sản Việt Nam
11. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập, Nxb CTQG, H, 2011, T. 4, tr. 409
22. Hồ Chí Minh Toàn tập, Nxb CTQG, H, 2011, T. 7, tr. 25
23. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb CTQG, H, 2011, tr. 23.