Tóm tắt: Từ cuối những năm 80 của thế kỷ XX, khi chủ nghĩa xã hội hiện thực lâm vào khủng hoảng dẫn đến mô hình chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và Đông Âu sụp đổ, các thế lực thù địch trong và ngoài nước luôn đưa ra luận điệu cho rằng, sự lựa chọn con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam là sai lầm, trái quy luật phát triển xã hội, từ đó đi đến phủ nhận sự lãnh đạo của Đảng, mưu toan đưa nước ta phát triển theo con đường tư bản chủ nghĩa. Làm rõ cơ sở lý luận, thực tiễn của đường lối độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vạch ra và quá trình Đảng tìm tòi, sáng tạo con đường phát triển đất nước chính là góp phần đấu tranh phản bác những luận điệu sai trái, xuyên tạc của các thế lực thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng; củng cố niềm tin của toàn Đảng, toàn dân vào con đường phát triển đất nước mà Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng và nhân dân đã chọn.

Từ khoá: Đảng Cộng sản Việt Nam; con đường đi lên chủ nghĩa xã hội; tìm tòi, sáng tạo



1. Lý luận chủ nghĩa Mác về hình thái kinh tế - xã hội
Nghiên cứu sự phát triển của lịch sử xã hội loài người, với cách tiếp cận lịch sử - tự nhiên, C.Mác và Ph.Ăngghen đã vạch ra quy luật vận động của xã hội theo các hình thái kinh tế - xã hội nhất định. C.Mác và Ph.Ăngghen cho rằng, trong xã hội có giai cấp, giai cấp nào thống trị thì ở trung tâm của thời đại, là động lực chủ yếu chi phối sự vận động của thời đại. Trong thời đại TBCN, giai cấp tư sản, một giai cấp trẻ, cách mạng đang lên mới có khả năng xé toang màn đêm của thời kỳ trung cổ, tạo ra một thời đại “Ánh sáng” cho lịch sử loài người phát triển.
Học thuyết của C.Mác, Ph.Ăngghen về hình thái kinh tế - xã hội là quan niệm duy nhất khoa học và cách mạng để phân tích lịch sử và nhận thức các vấn đề xã hội. C.Mác đã xem xét quá trình biến đổi và phát triển không ngừng và cho rằng: “... sự phát triển của những hình thái kinh tế - xã hội là một quá trình lịch sử - tự nhiên”1. Từ đó, C.Mác, Ph.Ăngghen đã nêu lên những tư tưởng sau: Một là, xã hội vận động theo những quy luật không phụ thuộc vào ý thức, ý chí và ý định của con người mà ngược lại còn quyết định cả ý chí, ý thức và ý định của họ nữa. Hai là, các quy luật xã hội nói chung và các quy luật kinh tế nói riêng, xét về bản chất thì khác với các quy luật của giới tự nhiên. Ba là, những quy luật xã hội chịu sự tác động của việc xã hội hóa về mặt kinh tế, tức là, sự phát triển tổ chức xã hội của lực lượng sản xuất và của bản thân quá trình sản xuất, tạo tiền đề vật chất cho cuộc cách mạng trong quan hệ sở hữu. Chính những đặc điểm trên đây khiến cho sự phát triển giữa các quốc gia thường diễn ra không đều, kể cả khả năng bỏ qua hình thái kinh tế - xã hội nào đó.
Từ nhận thức sự phát triển xã hội loài người là một quá trình lịch sử - tự nhiên, C.Mác và Ph.Ăngghen cũng nêu ra tư tưởng về sự phát triển không đều ở từng nước. Trong Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản và các lời tựa viết cho các lần xuất bản sau đó, các ông đã đề cập đến ba trường hợp của nước Đức, Nga và Ba Lan tiêu biểu cho sự phát triển đặc thù thời điểm đó. Vào giữa thế kỷ XIX, nước Đức là một nước TBCN phát triển, nhưng chế độ sở hữu ruộng đất phong kiến chưa bị xoá bỏ. Nước Nga chuyên chế dựa trên chế độ nông nô, với đặc thù là chế độ công hữu ruộng đất ở nông thôn. Còn Ba Lan là một thuộc địa của Nga hoàng, phải thực hiện cách mạng giải phóng dân tộc và cách mạng ruộng đất để mở đường cho sự phát triển. Từ đó, C.Mác và Ph.Ăngghen cho rằng, cách mạng tư sản Đức nổ ra là màn mở đầu trực tiếp cho một cuộc cách mạng vô sản. Ở một quốc gia đang tồn tại chế độ sở hữu ruộng đất công xã như nước Nga, có khả năng phát triển lên chế độ CSCN, “Nếu Cách mạng Nga là tín hiệu của cuộc cách mạng vô sản ở phương Tây và nếu cả hai cuộc cách mạng ấy bổ sung cho nhau (cách mạng vô sản và cách mạng ruộng đất - tác giả) thì chế độ sở hữu công xã về ruộng đất ở Nga hiện nay có thể là điểm xuất phát của một sự tiến triển cộng sản chủ nghĩa”2. Đối với cách mạng Ba Lan, hai ông cho rằng, “Những người cộng sản ủng hộ chính đảng đã coi cách mạng ruộng đất là điều kiện để giải phóng dân tộc...”3.
Đầu thế kỷ XX, V.I.Lênin đã phát triển những tư tưởng của C.Mác và Ph.Ăngghen về cách mạng không ngừng thành Học thuyết về cách mạng không ngừng và cách mạng có giai đoạn, chuyển từ cách mạng tư sản sang cách mạng XHCN dưới sự lãnh đạo của giai cấp vô sản mà đứng đầu là đội tiên phong của nó - Đảng Cộng sản. Học thuyết về cách mạng không ngừng của V.I.Lênin đã trở thành kim chỉ nam cho những người cộng sản ở các nước thuộc địa, phụ thuộc trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân, phong kiến để hướng tới CNCS.
Đối với các nước thuộc địa và các nước lạc hậu đi lên CNXH, tại Đại hội II (1920) Quốc tế Cộng sản, V.I.Lênin đã nêu rõ: “với sự giúp đỡ của giai cấp vô sản các nước tiên tiến, các nước lạc hậu có thể tiến tới chế độ xô viết, và qua những giai đoạn phát triển nhất định, tiến tới chủ nghĩa cộng sản, không phải trải qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa”4. Từ năm 1921, với việc chuyển sang thực hiện chính sách kinh tế mới (NEP) ở nước Nga, V.I.Lênin thừa nhận “toàn bộ quan điểm của chúng ta về chủ nghĩa xã hội đã thay đổi về căn bản”. Ông cũng chỉ ra con đường, cách thức mà một nước tiểu nông thực hiện những bước quá độ sang chủ nghĩa tư bản nhà nước và CNXH là: “không sao chép y nguyên sách lược” của nước Nga, mà “phải tự mình suy nghĩ xem những nét đặc thù”, để “cần thiết phải có một sách lược khác”, đó là “phải tỏ ra mềm dẻo hơn, thận trọng hơn, nhượng bộ hơn đối với giai cấp tiểu tư sản, đối với trí thức, nhất là đối với nông dân”. “Cần thực hiện bước quá độ lên chủ nghĩa xã hội chậm hơn, thận trọng hơn và có hệ thống hơn”5. Đó là “phải bắc những chiếc cầu nhỏ vững chắc đi xuyên qua chủ nghĩa nhà nước, tiến lên chủ nghĩa xã hội, không phải bằng cách trực tiếp dựa vào nhiệt tình, mà là với nhiệt tình do cuộc cách mạng vĩ đại sinh ra, bằng cách khuyến khích lợi ích cá nhân, bằng sự quan tâm thiết thân của cá nhân, bằng cách áp dụng chế độ hạch toán kinh tế”6.
 
2. Vận dụng sáng tạo lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội phù hợp với thực tiễn Việt Nam
Cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, Việt Nam rơi vào tình trạng khủng hoảng về đường lối cách mạng. Nhiều cương lĩnh của các lực lượng yêu nước, các đảng phái ở Việt Nam được đưa ra, nhưng do chưa có một giai cấp tiền phong lãnh đạo, chưa có lý luận cách mạng soi đường, chưa có đường lối chiến lược, sách lược đúng đắn, đủ sức giành thắng lợi trước kẻ thù là chủ nghĩa thực dân, phong kiến, nên “các phong trào cứu nước từ lập trường Cần Vương đến lập trường tư sản, tiểu tư sản, qua khảo nghiệm lịch sử đều lần lượt thất bại”7.
Trải qua hơn 10 năm khảo nghiệm thực tiễn ở nước ngoài, Nguyễn Tất Thành - Nguyễn Ái Quốc mới định hình con đường cứu nước, cũng có nghĩa là con đường phát triển đất nước, đó là: muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không còn con đường nào khác ngoài con đường cách mạng vô sản.
Lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin về cách mạng không ngừng và sự vận dụng của Hồ Chí Minh được cụ thể hóa trong Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng Cộng sản Việt Nam phù hợp với tính chất xã hội Việt Nam. Đó là chủ trương đánh đổ đế quốc, phong kiến, giành độc lập cho dân tộc, ruộng đất cho dân cày, đưa nước ta tiến thẳng lên CNXH, bỏ qua chế độ TBCN. Đường lối đó toát lên tư tưởng lớn là cách mạng dân tộc dân chủ Việt Nam tất yếu phải đi tới cách mạng XHCN, độc lập dân tộc gắn liền với CNXH là mục đích lâu dài của Đảng và cách mạng Việt Nam. Đó là sự đổi mới, sáng tạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh về con đường phát triển đất nước, là sự lựa chọn duy nhất con đường phát triển đất nước phù hợp với yêu cầu phát triển của dân tộc và xu thế phát triển của thời đại.
Trong sự nghiệp xây dựng CNXH, Chủ tịch Hồ Chí Minh trung thành với những nguyên lý của chủ nghĩa Mác-Lênin về CNXH, nhưng cũng rất sáng tạo trong việc vận dụng vào điều kiện Việt Nam: “đặc điểm to nhất của ta trong thời kỳ quá độ là từ một nước nông nghiệp lạc hậu tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội không phải kinh qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa”8. Hồ Chí Minh luôn coi chủ nghĩa Mác-Lênin là chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất và cách mạng nhất, nhưng Người cũng luôn thực hiện với tinh thần sáng tạo, phát hiện, bổ sung về CNXH và con đường đi lên CNXH ở Việt Nam - một nước chưa trải qua chế độ TBCN tiến thẳng lên CNXH. Người chỉ ra rằng, con đường đi lên CNXH ở Việt Nam không thể giống Liên Xô, “vì Liên Xô có phong tục tập quán khác, có lịch sử địa lý khác”9. Hồ Chí Minh có những đóng góp đầy tính sáng tạo trong xác định mục tiêu cụ thể, thiết thực và con đường đi lên CNXH ở Việt Nam. Người chỉ rõ nhiệm vụ quan trọng nhất của chúng ta là phải xây dựng nền tảng vật chất và kỹ thuật của CNXH, xây dựng nền kinh tế có công nghiệp và nông nghiệp hiện đại, có văn hoá và khoa học tiên tiến. “Trong quá trình cách mạng xã hội chủ nghĩa, chúng ta phải cải tạo nền kinh tế cũ và xây dựng nền kinh tế mới, mà xây dựng là nhiệm vụ chủ chốt và lâu dài”10. Nhờ đó đã tạo ra cơ sở, tiền đề vững chắc để nhân dân Việt Nam kiên trì định hướng đổi mới, xây dựng đất nước và giúp cho cả dân tộc “chối từ” con đường đau khổ của CNTB, và tìm thấy một hướng đi thích hợp cho sự lựa chọn của mình. Trong quá trình xây dựng CNXH, Người đề cao vai trò lãnh đạo của Đảng. Người yêu cầu “Phải nắm vững quy luật phát triển của cách mạng, phải tính toán cẩn thận những điều kiện cụ thể, những biện pháp cụ thể... Chớ đem chủ quan của mình thay điều kiện thực tế”11.
Vận dụng chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn luôn khẳng định con đường phát triển của Việt Nam là độc lập dân tộc tiến gắn với CNXH. Trên cơ sở nhận thức và giải quyết những vấn đề lý luận và thực tiễn đặt ra, Đảng khẳng định, đi lên CNXH là sự lựa chọn đúng đắn, phù hợp với xu thế phát triển của lịch sử.
Thứ nhất, nhận thức và giải quyết vấn đề tiền đề để một nước lạc hậu đi lên chủ nghĩa xã hội
Về xu thế phát triển của thời đại: Khi mô hình CNXH ở Liên Xô và các nước Đông Âu sụp đổ, Đảng Cộng sản mất quyền lãnh đạo và chế độ xã hội ở những nước đó thay đổi, Đảng Cộng sản Việt Nam đã phân tích tình hình và khẳng định đó là sự sụp đổ của một mô hình cụ thể chứ không phải là sự sụp đổ của CNXH. Đảng cho rằng mặc dù mô hình CNXH ở Liên Xô và Đông Âu sụp đổ, nhưng một số nước theo con đường XHCN, trong đó có Việt Nam, vẫn kiên định mục tiêu, lý tưởng, tiến hành cải cách, đổi mới, giành được những thành tựu to lớn, tiếp tục phát triển... Hơn nữa, trong bối cảnh hiện nay, các nước với chế độ xã hội và trình độ phát triển khác nhau cùng tồn tại vừa hợp tác vừa đấu tranh, cạnh tranh vì lợi ích quốc gia, dân tộc. Với bản lĩnh chính trị vững vàng và sự phân tích khoa học quá trình phát triển của lịch sử, Đảng cho rằng, “Theo quy luật tiến hóa của lịch sử, loài người nhất định sẽ tiến tới chủ nghĩa xã hội”12.
Về nhân tố chính trị, chúng ta có Đảng, có Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; có khối liên minh công - nông, trí thức làm nòng cốt cho khối đại đoàn kết dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng. Đảng có đường lối đúng, đó là đường lối độc lập dân tộc gắn liền với CNXH. Hơn nữa, sau 15 năm đấu tranh giải phóng dân tộc, 30 năm chiến tranh giải phóng, nhân dân Việt Nam không thể trao thành quả cách mạng vào tay những lực lượng đưa đất nước vào con đường TBCN, để quay lại thân phận những con người bị áp bức, bóc lột. Đây là yếu tố chính trị có vai trò quyết định trong việc thu hút và chuyển biến nhân tố thời đại thành nguồn lực bên trong để xây dựng CNXH.
Về yếu tố kinh tế, những cơ sở kinh tế, kỹ thuật và tài nguyên quốc gia mà nhân ta giành lại được quyền làm chủ từ tay thực dân, đế quốc, cùng với những cơ sở vật chất mà chúng ta đã xây dựng và những thành tựu trong thời kỳ đổi mới là những tiền đề kinh tế, kỹ thuật cho bước quá độ lên CNXH, bỏ qua chế độ TBCN.
Về yếu tố quốc tế, điều kiện quốc tế hiện nay, trong bối cảnh sự phát triển mạnh mẽ của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ, kinh tế tri thức và quá trình toàn cầu hóa với những lợi thế và thách thức đã tạo ra những cơ hội để phát triển, nếu biết tranh thủ được sẽ tạo tiền đề cho sự phát triển đất nước theo định hướng XHCN bỏ qua chế độ TBCN. Đó là phát triển nền kinh tế nhiều thành phần, trong đó kinh tế nhà nước đóng vai trò chủ đạo. Hơn nữa, sự tác động của yếu tố thời đại đối với xu thế phát triển của thế giới, nhất là các nước đang phát triển.
Thứ hai, giải quyết đúng đắn, sáng tạo nội dung quá độ lên CNXH “bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa”
Đảng khẳng định con đường đi lên CNXH của nước ta “là sự phát triển quá độ lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa, tức là bỏ qua việc xác lập vị trí thống trị của quan hệ sản xuất và kiến trúc thượng tầng tư bản chủ nghĩa, nhưng tiếp thu, kế thừa những thành tựu mà nhân loại đã đạt được dưới chế độ tư bản chủ nghĩa, đặc biệt về khoa học và công nghệ, để phát triển nhanh lực lượng sản xuất, xây dựng nền kinh tế hiện đại”13. Theo các nhà nghiên cứu, quan niệm như vậy phù hợp với quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin về hình thái kinh tế-xã hội, về thời kỳ quá độ và quan điểm của V.I.Lênin về xây dựng kinh tế hàng hoá dưới CNXH trong thời kỳ NEP. Đúng như Hồ Chí Minh đã chỉ ra, đi lên CNXH không kinh qua chủ nghĩa tư bản là đặc điểm to nhất của thời kỳ quá độ ở Việt Nam.
Đó cũng là kết quả của quá trình đổi mới tư duy lý luận về CNXH, CNTB và mối quan hệ giữa CNXH và CNTB, là kết quả của việc tổng kết thực tiễn của quá trình phát triển lịch sử thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng trong quá trình tiến hoá của nhân loại qua năm hình thái kinh tế - xã hội (công xã nguyên thủy, chiếm hữu nô lệ, phong kiến, TBCN, CSCN) để xác định vị trí của CNTB như là một giai đoạn phát triển cao của văn minh nhân loại và là nấc thang kế cận để loài người bước sang nấc thang cao hơn là CNXH.
Quá trình đi lên CNXH ở Việt Nam là quá trình bỏ qua việc xác lập vị trí thống trị của quan hệ sản xuất và kiến trúc thượng tầng của CNTB, không có nghĩa là Việt Nam không trải qua giai đoạn phát triển lực lượng sản xuất tư bản, mà trái lại phải tiếp thu, kế thừa những thành tựu mà nhân loại đã đạt được dưới chế độ tư bản để phát triển lực lượng sản xuất, bởi vì:
- Phát triển bỏ qua chế độ TBCN nhưng vẫn phải tôn trọng quá trình lịch sử - tự nhiên của sự chuyển biến từ hình thái kinh tế - xã hội này sang hình thái kinh tế - xã hội khác, đặc biệt phải tôn trọng quá trình phát triển lịch sử - tự nhiên của lực lượng sản xuất, của các nhân tố kinh tế - kỹ thuật mà xét cho cùng là những nhân tố quyết định sự ra đời, tồn tại và phát triển của chế độ mới. Nếu không thực hiện quá trình đó, sự quá độ không thể diễn ra và chế độ XHCN không thể hình thành.
- Từ một nước ở trình độ kinh tế tiền TBCN đi lên CNXH, tất yếu phải tạo ra tiền đề vật chất cho chế độ mới, vì vậy, Việt Nam phải trải qua một thời kỳ quá độ lâu dài. Trong quá trình đó, theo V.I.Lênin, “những mảnh của chủ nghĩa xã hội” và “những mảnh của chủ nghĩa tư bản” xen kẽ nhau, đấu tranh lẫn nhau và cùng phát triển một cách hoà bình, vừa bài trừ nhau, nương tựa vào nhau và cuối cùng là “những mảnh XHCN” chiếm vai trò chủ đạo trong xã hội mới.
- Phát triển bỏ qua chế độ TBCN nhưng không bỏ qua quá trình phát triển có tính quy luật từ sản xuất nhỏ lên sản xuất lớn mà CNTB đã từng trải qua: sản xuất hàng hoá, kinh tế thị trường, tiến hành cách mạng khoa học và công nghệ để phát triển lực lượng sản xuất, mở rộng giao lưu trong nước và quốc tế, khắc phục tâm lý sản xuất nhỏ và tư tưởng phong kiến.
- Phát triển bỏ qua chế độ TBCN (sự thống trị của quan hệ sản xuất TBCN, kiến trúc thượng tầng TBCN), nhưng tiếp thu những thành tựu của CNTB, sử dụng chúng vào mục tiêu xây dựng CNXH, như lực lượng sản xuất do nhân loại tạo ra trong điều kiện CNTB, thành tựu khoa học và công nghệ, các yếu tố tích cực của cơ chế thị trường, tri thức và kinh nghiệm quản lý...
Để phát triển lực lượng sản xuất, phải kết hợp hai phương thức: tuần tự và nhảy vọt để trong một thời gian ngắn đạt trình độ các nước tiên tiến; trong khi coi trọng sự phát triển tuần tự từ thấp đến cao, cần phải đi tắt, đón đầu, tiếp thu những thành tựu khoa học và công nghệ tiên tiến của CNTB để nhanh chóng đưa trình độ lực lượng sản xuất của Việt Nam tiến kịp các nước tiên tiến.
Về quan hệ sản xuất, chủ trương bỏ qua quan hệ sản xuất TBCN với tư cách là quan hệ sản xuất giữ vai trò thống trị, sự phân phối bất bình đẳng, nhưng phải sử dụng những kinh nghiệm quản lý, sử dụng các hình thức kinh tế TBCN, những kinh nghiệm huy động vốn qua việc phát triển thị trường chứng khoán vì nó còn có tác dụng tích cực và hữu ích cho sự phát triển đối với CNXH.
Đối với kiến trúc thượng tầng của CNTB, V.I.Lê nin cho rằng: “Trong một thời gian nhất định, dưới chế độ cộng sản, không những vẫn còn pháp quyền tư sản, mà vẫn còn cả nhà nước kiểu tư sản nhưng không có giai cấp tư sản!”14. Vì vậy, CNXH phải nghiên cứu, tiếp thu, kế thừa một số nhân tố hợp lý của pháp quyền tư sản, nhà nước tư sản như cách thức tổ chức, quản lý,... để xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Thậm chí, dưới CNXH, còn phải tiếp thu những nhân tố hợp lý về kinh nghiệm quản lý xã hội của các xã hội tiền tư bản như vấn đề tự quản ở cơ sở, trong việc xây dựng hương ước, luật tục nhằm phát huy vai trò của công dân.
Từ nhận thức về lý luận và thực tiễn về con đường phát triển của một nước lạc hậu đi lên CNXH, Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội được thông qua tại Đại hội VII (1991) thể hiện sự tìm tòi, sáng tạo của Đảng về mô hình con đường phát triển Việt Nam theo định hướng XHCN phù hợp với thực tiễn đất nước. Các Đại hội VIII (1996), Đại hội IX (2001), Đại hội X (2006) và Đại hội XI (2011) của Đảng trên mạch tư duy tiếp tục đổi mới về CNXH trên cơ sở tổng kết thực tiễn đất nước, trân trọng tiếp thu những kinh nghiệm hay và nghiêm túc tự phê bình những sai lầm, thiếu sót trong nhận thức lý luận và chỉ đạo thực tiễn, tham khảo những kinh nghiệm tích cực và tiêu cực của nhiều nước XHCN. Vì vậy, “Nhận thức về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ngày càng sáng tỏ hơn; hệ thống quan điểm lý luận về công cuộc đổi mới, về xã hội xã hội chủ nghĩa và con đường đi lên chủ nghĩa ở Việt Nam đã hình thành trên những nét cơ bản”15. Tại Đại hội XI (2011) của Đảng, trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011), Đảng một lần nữa khẳng định: “Đi lên chủ nghĩa xã hội là khát vọng của nhân dân ta, là sự lựa chọn đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh, phù hợp với xu thế phát triển của lịch sử”16. Từ đó, Đảng đã bổ sung và hoàn chỉnh mô hình xã hội XHCN: “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; do nhân dân lao động làm chủ; có nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp; có nền văn hoá tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc; con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện; các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển; có Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân do Đảng Cộng sản lãnh đạo; có quan hệ hữu nghị và hợp tác với các nước trên thế giới”17.
Sự diễn đạt về mô hình CNXH như trong Cương lĩnh bổ sung, phát triển năm 2011 bảo đảm sự thống nhất cơ sở kinh tế với kiến trúc thượng tầng và toàn bộ những quan hệ xã hội chủ yếu, sự phù hợp giữa lực lượng sản xuất với quan hệ sản xuất, sự bao quát các lĩnh vực cơ bản của đời sống xã hội, chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội...
Để thực hiện được mục tiêu trên, Cương lĩnh bổ sung, phát triển năm 2011 đã đề ra các phương hướng cơ bản: “Một là, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước gắn với phát triển kinh tế tri thức, bảo vệ tài nguyên môi trường. Hai là, phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Ba là, xây dựng nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; xây dựng con người, nâng cao đời sống nhân dân, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội. Bốn là, bảo đảm vững chắc quốc phòng và an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội. Năm là, thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hoá, đa dạng hoá, hoà bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế. Sáu là, xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, thực hiện đại đoàn kết toàn dân tộc, tăng cường và mở rộng mặt trận dân tộc thống nhất. Bảy là, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Tám là, xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh”18.
Sự nghiệp xây dựng CNXH từ một nước kinh tế lạc hậu, bỏ qua chế độ TBCN là một sự nghiệp lâu dài, gian khổ. Trải qua 35 năm đổi mới, con đường để đạt mục tiêu đã rõ: phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN, đẩy mạnh CNH, HĐH; xây dựng nền văn hoá tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc làm nền tảng tinh thần của xã hội; xây dựng nền dân chủ XHCN, xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; bảo đảm vững chắc quốc phòng và an ninh quốc gia; thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế. 
Thực tiễn 35 năm đổi mới cho thấy, kinh tế - xã hội Việt Nam có sự thay đổi tích cực, đời sống nhân dân được cải thiện và nâng cao. Đại hội XIII (2021) của Đảng đã đánh giá: “Đất nước đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, phát triển mạnh mẽ, toàn diện so với những năm trước đổi mới. Quy mô, trình độ nền kinh tế được nâng lên. Đời sống nhân dân được cải thiện rõ rệt cả về vật chất và tinh thần. Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”19. Vì vậy, Đảng một lần nữa lại khẳng định và nhấn mạnh: “Qua 35 năm tiến hành công cuộc đổi mới, 30 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, lý luận về đường lối đổi mới, về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta ngày càng được hoàn thiện và từng bước được hiện thực hoá”20.
Xây dựng CNXH như Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng khẳng định “là kiến tạo một kiểu xã hội mới về chất, hoàn toàn không hề đơn giản, dễ dàng, nóng vội”21. Kiên định và vững vàng trên nền tảng tư tưởng lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng đã tìm tòi, đổi mới, sáng tạo con đường phát triển đất nước theo định hướng XHCN. Kinh nghiệm thực tiễn cho thấy rằng phải luôn luôn bám sát, tổng kết thực tiễn, kịp thời giải quyết những vấn đề thực tiễn đặt ra trên tinh thần đổi mới, sáng tạo. Đó cũng là đóng góp của Đảng vào bổ sung, phát triển lý luận về cách mạng không ngừng và học thuyết về CNXH của chủ nghĩa Mác-Lênin.
 

  
Bài đăng trên Tạp chí Lịch sử Đảng số 10-2021
1. C.Mác - Ph.Ăngghen: Toàn tập, Nxb CTQG, H, 1993, T. 23, tr.21
2, 3. C.Mác và Ăngghen: Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản, Nxb CTQG, H, 2008, tr. 41, 131
4. V.I.Lênin Toàn tập, Nxb Tiến bộ, M, 1978, T.41, tr. 295
5. Sđd, T. 43, tr. 236-238
6. Sđd, T.44, tr. 189
7. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập, Nxb CTQG, H, 2007, T. 51, tr. 18
8, 10. Hồ Chí Minh Toàn tập, Nxb CTQG, H, 2011, T. 12, tr. 411, 412
9. Sđd, T.10, tr. 391
11. Sđd, T.13, tr. 71
12, 13, 16, 17, 18. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb CTQG, H, 2011, tr. 69, 21, 70, 70, 72
14. V.I.Lênin Toàn tập, Nxb Tiến bộ, M, 1978, T.33, tr. 121
15. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập, Nxb CTQG, H, 2016, T. 65, tr. 139
19. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb CTQGST, H, 2021, T.II, tr. 322
20. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb CTQGST, H, 2021, T.I, tr. 25
21. Nguyễn Phú Trọng: “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam”, Tạp chí Cộng sản, số 966 (5-2021).