Tóm tắt: Dân tộc Việt Nam có truyền thống lịch sử lâu đời với nhiều kinh nghiệm quý báu về phòng bệnh, chữa bệnh bảo vệ sức khỏe và một nền y dược cổ truyền không ngừng phát triển. Những phương pháp chế biến dựa trên nguồn dược liệu quý giá, phương cách bào chế thích hợp đã tạo nên sự đa dạng, phong phú nhưng mang đậm bản sắc văn hóa Việt Nam. Đảng và Nhà nước Việt Nam luôn chủ trương phát triển nền y dược cổ truyền mang tính dân tộc, khoa học và đại chúng, hiện đại hóa y dược cổ truyền, kết hợp y dược cổ truyền với y dược hiện đại. Trong xu thế đổi mới của đất nước, ngày 4-7-2008, Ban Bí thư ban hành Chỉ thị số 24-CT/TW về “Phát triển nền đông y Việt Nam và Hội Đông y Việt Nam trong tình hình mới”, đề ra quan điểm, chủ trương, mục tiêu, phương hướng và giải pháp nhằm thúc đẩy sự phát triển của y dược cổ truyền Việt Nam. Qua hơn 10 năm thực hiện, nền y dược cổ truyền Việt Nam đã đạt được một số kết quả bước đầu, góp phần quan trọng vào sự nghiệp bảo vệ chăm sóc sức khỏe nhân dân.

1. Quan điểm, chủ trương của Đảng
Từ sau năm 1945 tới nay, Đảng và Nhà nước Việt Nam luôn quán triệt quan điểm bảo vệ và phát triển y dược cổ truyền (YDCT), đưa YDCT vào hệ thống chăm sóc sức khỏe toàn dân, đặc biệt là phải hiện đại hóa YDCT, phát triển kết hợp YDCT với y học hiện đại (YHHĐ). Đảng và Nhà nước Việt Nam đã ban hành nhiều văn bản về công tác YDCT, đáng chú ý là các văn bản như: Chỉ thị số 101/TTg, ngày 15-3-1961, “Về việc tăng cường công tác đông y”; Chỉ thị số 210/TTg/VG, ngày 6-12-1966, “Về việc khai thác và phát triển cây thuốc và động vật làm thuốc”; Chỉ thị số 21-CP, ngày 19-2-1967, của Hội đồng Chính phủ “Về việc tăng cường công tác nghiên cứu đông y và kết hợp đông y và tây y”; Chỉ thị số 118-CT/TW, ngày 30-9-1981, của Ban Bí thư khóa IV “Về việc củng cố tổ chức và tăng cường công tác của Hội Y học cổ truyền dân tộc Việt Nam trong giai đoạn mới”, YDCT Việt Nam đã có những bước phát triển trên phạm vi cả nước; Chỉ thị số 25/1999/CT-TTg, ngày 30-8-1999, của Thủ tướng Chính phủ “Về việc tăng đẩy mạnh công tác Y, Dược học cổ truyền”; Quyết định số 222/2003/QĐ-TTg, ngày 3-11-2003, của Thủ tướng Chính phủ “Về việc phê duyệt Chính sách quốc gia về y dược học cổ truyền đến năm 2010”;...
Với sự chỉ đạo của Đảng và Nhà nước, trên thực tế YDCT Việt Nam đạt được nhiều thành tựu quan trọng. YDCT đã có vị trí trong chăm sóc sức khỏe nhân dân; có hệ thống tổ chức từ Trung ương tới địa phương; đào tạo được đội ngũ thầy thuốc y học cổ truyền (YHCT) và kết hợp YDCT với YDHHĐ; tổ chức kế thừa được nhiều bài thuốc hay, cây thuốc quý của các lương y trên mọi miền đất nước; công tác xã hội hóa về YDCT cũng được đẩy mạnh; hợp tác quốc tế ngày càng mở rộng, uy tín của các phương pháp chữa bệnh của YHCT Việt Nam ngày càng được nâng cao trên trường quốc tế.
Tuy nhiên, sự phát triển đó chưa tương xứng với tiềm năng vốn có, chưa ngang tầm với yêu cầu và nhiệm vụ trong tình hình mới, còn tồn tại một số bất cập như hệ thống tổ chức YDCT chưa phát triển đồng bộ, cơ sở vật chất, trang thiết bị kỹ thuật nghèo nàn và lạc hậu. Đội ngũ thầy thuốc chuyên sâu về YDCT còn thiếu, việc sử dụng chưa hợp lý. Công tác kế thừa, nghiên cứu kết hợp YHCT với YHHĐ chưa được tăng cường đẩy mạnh1.
Trước tình hình đó, ngày 4-7-2008, Ban Bí thư Trung ương Đảng ban hành Chỉ thị số 24-CT/TW về “Phát triển nền đông y Việt Nam và Hội Đông y Việt Nam trong tình hình mới”. Bản Chỉ thị bao gồm 5 quan điểm chỉ đạo, 3 mục tiêu phát triển và 9 nhiệm vụ giải pháp.
Về quan điểm chỉ đạo, Chỉ thị khẳng định tầm quan trọng của việc bảo tồn, phát triển YDCT Việt Nam trong sự nghiệp chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân, góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Đây là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân, các cấp chính quyền và toàn xã hội. Đông y Việt Nam là một bộ phận của văn hóa Việt Nam. Vì vậy, phát triển nền đông y Việt Nam là góp phần bảo tồn bản sắc, phát huy và phát triển một bộ phận văn hóa của dân tộc Việt Nam, thể hiện tinh thần độc lập và tự cường của dân tộc Việt Nam.
Trước xu hướng sử dụng YDCT trong nước và trên thế giới ngày càng tăng, Chỉ thị khẳng định cần “Đẩy mạnh công tác nghiên cứu khoa học, tăng cường ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật, giữ gìn tính đặc thù của nền đông y Việt Nam, đưa nền đông y Việt Nam thành một ngành khoa học mạnh, góp phần tăng trưởng kinh tế và xuất khẩu sản phẩm, dịch vụ đông y”2.
Về mục tiêu phát triển, Chỉ thị đưa ra 3 mục tiêu chính. Đẩy mạnh công tác nghiên cứu, kế thừa, bảo tồn và phát triển đông y. Việt Nam được đánh giá là quốc gia có tiềm năng lớn về dược liệu trong khu vực Đông Nam Á và trên thế giới, có nền y học dân tộc bao gồm cả lý luận, phương pháp phòng bệnh, chữa bệnh dùng thuốc và không dùng thuốc với những cách bào chế riêng, kinh nghiệm dân gian, gia truyền ở nhiều vùng miền rất phong phú đa dạng. Những nội dung trên được lưu giữ trong các trước tác y học, trong bản thân các lương y và nhân dân rất dễ bị thất lạc, mất mát. Vì vậy công tác kế thừa cần được quan tâm đúng mức, trên cơ sở khoa học, lấy khoa học hiện đại để chứng minh túng đúng đắn của YHCT. Nền y học đó mang tính khoa học, dân tộc và đại chúng.
Hoàn thiện hệ thống tổ chức chuyên ngành đông y từ Trung ương đến địa phương và xây dựng đội ngũ thầy thuốc đông y đảm bảo cả về số lượng và chất lượng. Hệ thống YHCT nằm trong mạng lưới y tế từ Trung ương tới cơ sở đã thực sự trở thành một bộ phận hữu cơ không thể thiếu của mạng lưới y tế nước ta hiện nay. Mạng lưới về tổ chức YHCT toàn quốc đã được thực hiện là cơ sở thuận lợi để phát triển kết hợp YDCT với YHHĐ. Hội Đông y Việt Nam cần củng cố tổ chức, phát triển hội viên, đẩy mạnh hoạt động của hội và các tổ chức thành viên ở các cấp để Hội thực sự đóng vai trò nòng cốt trong sự nghiệp phát triển nền đông y Việt Nam.
Về nhiệm vụ và giải pháp, Chỉ thị số 24-CT/TW đưa ra 9 nhiệm vụ và giải pháp phát triển YDCT trong tình hình mới. Bao gồm việc nâng cao nhận thức về vai trò của đông y, tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy đảng, chính quyền đối với việc phát triển nền đông y Việt Nam; kiện toàn hệ thống khám, chữa bệnh và quản lý nhà nước bằng đông y, đông dược từ Trung ương đến cơ sở; hoàn thiện hệ thống pháp luật, xây dựng cơ chế chính sách và những quy định cụ thể; tiếp tục hoàn thiện hệ thống mã ngành đào tạo, phát triển nguồn nhân lực YDCT; xây dựng quy hoạch tổng thể vùng chuyên nuôi trồng dược liệu, sử dụng khoa học vào công tác bảo tồn và phát triển dược liệu theo hướng công nghiệp; đẩy mạnh xã hội hóa, khuyến khích các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước thành lập các cơ sở khám chữa bệnh và đào tạo nhân lực; đẩy mạnh hợp tác quốc tế trên các lĩnh vực hợp tác và nghiên cứu khoa học, khám chữa bệnh, nuôi trồng, chế biến dược liệu và trao đổi chuyên gia về đông y; tăng cường vai trò nòng cốt của Hội Đông y.
 
2. Một số kết quả bước đầu
Thực hiện Chỉ thị số 24-CT/TW, ngày 4-7-2008, của Ban Bí thư Trung ương Đảng về “Phát triển nền đông y Việt Nam và Hội Đông y Việt Nam trong tình hình mới”, với sự vào cuộc tích cực của cả hệ thống chính trị từ Trung ương đến cơ sở, nền YDCT Việt Nam đã có những bước phát triển quan trọng. Hệ thống văn bản pháp quy về lĩnh vực YDCT được xây dựng lồng ghép trong các văn bản quy phạm luật của Quốc hội, Chính phủ và các bộ, ngành. Cục Quản lý Y, Dược cổ truyền trực thuộc Bộ Y tế được thành lập. Ở cấp tỉnh, huyện và cấp cơ sở đều có cán bộ y tế chuyên trách công tác YDCT.
Hệ thống khám chữa bệnh bằng YDCT. Hệ thống khám, chữa bệnh và điều trị bằng y, dược học cổ truyền được quan tâm xây dựng với 63 bệnh viện YHCT; trong đó tuyến Trung ương 4 bệnh viện YHCT: 2 bệnh viện trực thuộc Bộ Y tế là Bệnh viện YHCT Trung ương và Bệnh viện Châm cứu Trung ương; 1 bệnh viện YHCT trực thuộc Bộ Công an và 1 Viện YHCT thuộc Bộ Quốc phòng; ngoài ra còn có Bệnh viện Tuệ Tĩnh là bệnh viện thực hành của Học viện Y, Dược học cổ truyền Việt Nam. Đây là các bệnh viện đầu ngành về YHCT, là đơn vị có kỹ thuật cao nhất, có chức năng chỉ đạo tuyến cho các bệnh viện trong toàn quốc và chuyển giao kỹ thuật cho tuyến dưới3. Trong tổng số 63 bệnh viện YHCT: có 5 bệnh viện hạng I, 25 bệnh viện hạng II và 33 bệnh viện hạng III4. Các bệnh viện có kỹ thuật YHCT cao nhất tại tuyến tỉnh, có chức năng chỉ đạo tuyến cho các khoa trong bệnh viện đa khoa, chuyên khoa và chuyển giao kỹ thuật cho tuyến dưới. Đến năm 2018, các bệnh viện đa khoa, chuyên khoa thành lập khoa YHCT, tổ YHCT chiếm khoảng 92,7% tăng 3,2% so với năm 2010 đã làm tăng tỷ lệ người bệnh được điều trị bằng YHCT đã làm tăng tỷ lệ người bệnh được điều trị bằng YHCT, kết hợp YHCT với YHHĐ trong bệnh viện đa khoa, khẳng định đường lối chủ trương đúng đắn của Đảng và Nhà nước nhất quán trong việc kết hợp YHCT với YHHĐ. Đặc biệt, sau khi Bộ Y tế ban hành Thông tư số 01/2014/TT-BYT, ngày 10-1-2014, của Bộ trưởng Bộ Y tế quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Khoa YHCT trong bệnh viện nhà nước, tỷ lệ bệnh viện ở địa phương thành lập khoa YHCT năm 2016 tăng từ 42,3% lên 62,5% so với năm 20105
Y học cổ truyền tại tuyến cơ sở phát triển mạnh thông qua hoạt động của các trạm y tế xã và việc tiến hành xây dựng vườn thuốc nam tại các địa phương. Tính đến thời điểm năm 2016 có 84,8% trạm y tế có tổ chức khám chữa bệnh bằng YHCT, tăng 4,9 so với năm 20106. Hiện có 3 bệnh viện YHCT tư nhân và hơn 3.772 phòng chẩn trị YHCT, 90 người hành nghề được cấp Giấy chứng nhận bài thuốc gia truyền7. Hội Đông y phát triển mạnh mẽ cả ở 4 cấp với trên 70.000 hội viên tham gia8, góp phần không nhỏ vào sự nghiệp bảo vệ và chăm sóc sức khỏe nhân dân, đồng thời gìn giữ bản sắc của YHCT Việt Nam.
Nguồn nhân lực YDCT. Nguồn nhân lực trong lĩnh vực YDCT không ngừng được bổ sung về số lượng và nâng cao về chất lượng. Hệ thống đào tạo nguồn nhân lực YDCT được mở rộng với đội ngũ giảng viên, cơ sở hạ tầng, trang thiết bị giảng dạy và cơ sở thực hành cho học viên, sinh viên được nâng cao. Số lượng các đơn vị đào tạo nhân lực YDCT mở rộng, loại hình đào tạo đa dạng: đại học, cao đẳng, trung cấp y, dược, sau đại học (hệ lâm sàng: nội trú, chuyên khoa 1, chuyên khoa 2; hệ nghiên cứu: thạc sĩ, tiến sĩ); mở mã ngành đào tạo sau đại học về dược liệu-dược cổ truyền; y sĩ YHCT; điều dưỡng YHCT (Học viện Y, Dược học cổ truyền Việt Nam). Theo báo cáo của các cơ sở đào tạo và các cơ sở bệnh viện, tỷ lệ nhân lực tham gia giảng dạy YDCT trên tổng số cán bộ giảng dạy chiếm 7,4%, giảng viên cơ hữu YDCT chiếm 5,5%; số giảng viên thỉnh giảng YDCT chiếm 10,8%9.  
Nguồn dược liệu. Ngày 30-10-2013, Chính phủ ban hành Quyết định số 1976/QĐ-TTg phê duyệt quy hoạch tổng thể phát triển dược liệu đến năm 2020 và định hướng đến năm 2030. Ngày 20-1-2015, Bộ Y tế ban hành Quyết định số 179/QĐ-BYT về việc kế hoạch triển khai thực hiện Nghị quyết số 1976/QĐ-TTg, giao nhiệm vụ cho các đơn vị phối hợp với UBND các tỉnh chủ động thực hiện nuôi trồng dược liệu. Hiện đã xây dựng và triển khai có hiệu quả các đề án: vùng nuôi trồng dược liệu theo tiêu chuẩn thực hành tốt nuôi trồng, thu hoạch dược liệu theo quy mô công nghiệp, gắn liền với đẩy mạnh công tác quy hoạch chung các vùng của cả nước; củng cố và phát triển 5 trung tâm nghiên cứu, nuôi trồng dược liệu và triển khai có hiệu quả đề án phát triển dược liệu, thuốc đông y, thuốc từ dược liệu đến năm 2020, tầm nhìn 203010. Bộ Y tế ban hành Thông tư số 03/2016/TT-BYT,  ngày 21-1-2016, quy định về hoạt động kinh doanh dược liệu. Công tác quy hoạch xây dựng vùng chuyên canh trồng dược liệu, trồng cây thuốc nam được đẩy mạnh. Ngành y tế đã phối hợp với Hội Đông y các cấp tổ chức tuyên truyền, vận động người dân trồng, sử dụng những cây thuốc sẵn có, những bài thuốc đơn giản để phòng và chữa bệnh.
Sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước, Bộ Y tế, sự nhiệt tình trong công tác của đội ngũ cán bộ y, bác sỹ, hội viên về YHCT, là cơ sở để nền YDCT Việt Nam tiếp tục có những bước phát triển nhằm đáp ứng nhu cầu thực tiễn của đất nước, phát huy bản sắc, giá trị truyền thống YHCT Việt Nam và góp phần trong sự nghiệp chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân.
 
 
__________________
1. Xem “Chiến lược phát triển y dược học cổ truyền giai đoạn đến năm 2010” (Ban hành kèm theo Quyết định số 222/2003/QĐ-TTg ngày 3-11-2003 của Thủ tướng Chính phủ), Công báo, số 179, tháng 11- 2003, tr. 11061-11078
2. Chỉ thị số 24-CT/TW, ngày 4-7-2008, về “Phát triển nền đông y Việt Nam và Hội Đông y Việt Nam trong tình hình mới”
3, 5, 6, 7, 8, 9, 10. Xem Bộ Y tế: Báo cáo số 475/BC-BYT, ngày 19-5-2016, “Về kết quả 5 năm triển khai thực hiện Quyết định 2166/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về Kế hoạch hành động phát triển y, dược cổ truyền Việt Nam đến năm 2020, giai đoạn 2011-2015 nhiệm vụ chủ yếu giai đoạn 2016-2020”
4. Xem Bộ Y tế: “Báo cáo tổng kết công tác y, dược cổ truyền, Bộ Y tế năm 2015, H, 2016”.
 
ThS LÂM THỊ HUỆ
Học viện Y Dược học cổ truyền Việt Nam