22/12/2023 - 08:01 PM - 12.826 lượt xem
Tóm tắt: Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sáng lập, xây dựng, giáo dục và rèn luyện lực lượng vũ trang nhân dân, trong đó có Quân đội nhân dân Việt Nam. Trong sự nghiệp cách mạng của Đảng, của dân tộc, Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã không ngừng chăm lo xây dựng, rèn luyện lực lượng vũ trang nhân dân cách mạng và Quân đội nhân dân Việt Nam cách mạng, trở thành lực lượng nòng cốt cùng với cả dân tộc giành thắng lợi to lớn trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ cùng như trong công cuộc xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa ngày nay.
Từ khóa: Bài học; lực lượng vũ trang nhân dân; Quân đội nhân dân.
Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, Bí thư Quân ủy Trung ương
chủ trì Hội nghị Quân uỷ Trung ương lần thứ sáu, ngày 3-7-2023
1. Cơ sở lý luận và thực tiễn về xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân, xây dựng Quân đội nhân dân bảo vệ Tổ quốc
Học thuyết Mác - Lênin chỉ ra rằng: Vấn đề cơ bản của mọi cuộc cách mạng là giành chính quyền. Giai cấp vô sản muốn giành chính quyền, lật đổ sự thống trị của giai cấp tư sản thì phải tổ chức ra một quân đội kiểu mới, được xây dựng vững mạnh cả về chính trị, tư tưởng và tổ chức, đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản. Sức mạnh của quân đội cách mạng là kết quả tổng hợp của nhiều yếu tố: con người, vũ khí, trang bị, nghệ thuật, cách đánh…; trong đó, chính trị - tinh thần là một yếu tố có ý nghĩa quyết định. Khi bàn về vấn đề này, V.I. Lênin nhấn mạnh: “Trong mọi cuộc chiến tranh, rốt cuộc thắng lợi đều tùy thuộc vào tinh thần của quần chúng đang đổ máu trên chiến trường”1. Thấm nhuần và vận dụng sáng tạo tư tưởng đó vào điều kiện cụ thể của cách mạng Việt Nam, tư tưởng quân sự của Chủ tịch Hồ Chí Minh về xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân, Quân đội nhân dân là: “Người trước, súng sau”; nhiệm vụ quân sự phải phục tùng nhiệm vụ chính trị; “Quân sự mà không có chính trị như cây không có gốc, vô dụng lại có hại”2. Trong Chỉ thị thành lập Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân, Người chỉ rõ tính chất, nhiệm vụ của Đội là: “chính trị trọng hơn quân sự”3. Tư tưởng đó của Người thống nhất với quan điểm của Đảng ta, trở thành đường lối, nguyên tắc chỉ đạo, phương châm hành động xây dựng quân đội vững mạnh về mọi mặt, lấy xây dựng về chính trị làm cơ sở trong suốt quá trình xây dựng, chiến đấu, trưởng thành và chiến thắng.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nhấn mạnh, Đảng phải lãnh đạo chặt chẽ lực lượng vũ trang về mọi mặt, trong mọi tình huống. Người khẳng định, sự lãnh đạo của Đảng là tất yếu khách quan, là một quy luật nhằm làm cho lực lượng vũ trang tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Đảng, với giai cấp công nhân và nhân dân lao động, giữ vững bản chất giai cấp công nhân, sẵn sàng chiến đấu, hy sinh vì Tổ quốc xã hội chủ nghĩa.
Lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam gồm: Quân đội nhân dân (bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương, bộ đội biên phòng, lực lượng cảnh sát biển), dân quân, tự vệ và Công an nhân dân. Lực lượng vũ trang nhân dân sinh ra trong cao trào đấu tranh cách mạng của quần chúng, từ những đội vũ trang cách mạng của Đảng Cộng sản Đông Dương, trưởng thành lớn mạnh qua Cách mạng Tháng Tám năm 1945, kháng chiến chống thực dân Pháp, kháng chiến chống đế quốc Mỹ và trong xây dựng, bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa hiện nay.
Thực hiện nhất quán quan điểm của Đảng và của Chủ tịch Hồ Chí Minh về xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng của dân, do nhân dân, vì nhân dân, do Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh trực tiếp sáng lập, tổ chức, lãnh đạo và giáo dục, được Nhà nước tập trung xây dựng, được nhân dân nuôi dưỡng. Lực lượng vũ trang nhân dân của dân là lực lượng nòng cốt trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Những chiến công, thành tích của lực lượng vũ trang nhân dân, Quân đội nhân dân trong 79 năm qua thể hiện rõ bản chất cách mạng trong sáng, sự trung thành tuyệt đối với Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa, chiến đấu hy sinh vì độc lập tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội, không ngừng phát triển, trưởng thành và đã trở thành là lực lượng của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, có đầy đủ sức mạnh bảo vệ vững chắc độc lập chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội trong mọi tình huống.
Chủ nghĩa Mác Lênin - Tư tưởng Hồ Chí Minh khẳng định nhân dân là người sáng tạo ra lịch sử. Đảng Cộng sản lấy dân làm gốc, quân đội cách mạng cũng phải dựa vào dân, “lực lượng chính là ở dân”4. “Nhân dân là nền tảng, là cha mẹ của bộ đội”5, Quân đội nhân dân Việt Nam mang bản chất giai cấp công nhân, tính nhân dân và tính dân tộc sâu sắc.
79 năm qua, Quân đội nhân dân Việt Nam đã mang nhiều tên gọi. Đó là: Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quân (12-1944); Việt Nam Giải phóng quân (4-1945); Vệ quốc Đoàn (9-1945); Quân đội Quốc gia Việt Nam (5-1946); Quân đội nhân dân Việt Nam (2-1951). Mỗi tên gọi thể hiện nhiệm vụ chính trị của một giai đoạn lịch sử mà Quân đội nhân dân Việt Nam đã phấn đấu để thực hiện. Là tổ chức quân sự, nhưng có thời kỳ hoạt động theo phương châm chính trị trọng hơn quân sự; là quân đội chủ lực, từ các đội du kích các địa phương tập trung lên trở thành giải phóng quân; do Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam trực tiếp lãnh đạo và chỉ huy thống nhất từ Nam chí Bắc; là quân đội chính quy của một nhà nước, của một quốc gia độc lập có chủ quyền, một quân đội cách mạng, cùng nhân dân vũ trang khởi nghĩa giành chính quyền, bảo vệ vững chắc chính quyền, bảo vệ tính mạng, tài sản và quyền làm chủ của nhân dân, bảo vệ nền độc lập thống nhất và bản sắc văn hoá dân tộc. Đó là quân đội của nhân dân, vì nhân dân mà chiến đấu. Mặc dù mang những tên gọi khác nhau do tình hình và nhiệm vụ cách mạng trong thời kỳ lịch sử có sự phát triển, Quân đội ta vẫn là Quân đội nhân dân, thực hiện chức năng đội quân chiến đấu, đội quân công tác và đội quân sản xuất. Nhưng bài học về xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam trong điều kiện mới vẫn được giữ vững.
2. Bài học về xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong giai đoạn cách mạng mới
Thứ nhất, quán triệt sâu sắc quan điểm quân sự phục tùng chính trị.
Thấm nhuần quan điểm “chính trị trọng hơn quân sự” của Chủ tịch Hồ Chí Minh, trong quá trình xây dựng và phát triển lực lượng vũ trang, Quân đội nhân dân Việt Nam ta luôn luôn lấy việc xây dựng về chính trị làm cơ sở để nâng cao sức mạnh chiến đấu tổng hợp, thường xuyên tăng cường hiệu lực công tác Đảng - công tác chính trị. Từ khi Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa ra đời, Quân đội nhân dân Việt Nam trở thành một bộ phận của Nhà nước, hoạt động theo Hiến pháp và pháp luật. Thực tiễn lịch sử cho thấy, cơ chế quản lý của Nhà nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa (nay là Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam) với quốc phòng không làm suy yếu sự lãnh đạo tuyệt đối trực tiếp, về mọi mặt của Đảng với quân đội; vì quân đội là một tổ chức quân sự, khác với các tổ chức khác trong bộ máy Nhà nước… Đảng trực tiếp lãnh đạo Nhà nước đồng thời trực tiếp lãnh đạo quân đội.
Thứ hai, thực hiện nghiêm nguyên tắc tổ chức quân đội “vững chắc và nghiêm mật.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ ra rằng: “nếu không có tổ chức thì không phải một đội quân cách mạng”6. Người chủ trương xây dựng lực lượng vũ trang ba thứ quân, xác định đúng đắn mối quan hệ giữa bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương và dân quân tự vệ. Vận dụng sáng tạo nguyên tắc tập trung dân chủ của Đảng vào xây dựng quân đội cách mạng, Người nêu rõ có tổ chức mạnh mới có con người mạnh. Con người mạnh làm cho tổ chức mạnh, Đảng bộ trong quân đội làm nòng cốt và hạt nhân lãnh đạo, vừa có hệ thống lãnh đạo, vừa có hệ thống chỉ huy, xác định rõ lãnh đạo là tập thể, chỉ huy là trách nhiệm cá nhân. Quân đội phải có kỷ luật sắt “quân lệnh như sơn” đi đôi với thực hiện dân chủ, phê bình, tự phê bình từ dưới lên, chống quan liêu, quân phiệt, độc đoán, chống tự do vô kỷ luật.
Thứ ba, Quân đội Nhân dân Việt Nam là quân đội của dân, do nhân dân và vì nhân dân.
Quân đội Nhân dân Việt Nam phải luôn đứng vững trên lập trường của giai cấp công nhân, có thái độ chính trị đúng đắn trước những mối quan hệ chính trị cơ bản: Với nhân dân, Quân đội ta là người phục vụ trung thành, cùng nhân dân bảo vệ độc lập chủ quyền, chế độ xã hội, bảo vệ Nhà nước, bảo vệ Đảng, bảo vệ thành quả cách mạng, bảo vệ tính mạng, tài sản và quyền làm chủ của nhân dân. Với đất nước, Quân đội ta là công cụ để bảo vệ độc lập thống nhất toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ sự bình đẳng và đoàn kết giữa các dân tộc, gìn giữ bản sắc văn hoá dân tộc… Với bầu bạn, Quân đội ta thấm nhuần tinh thần quốc tế vô sản, ủng hộ sự nghiệp đấu tranh cho độc lập dân tộc, tiến bộ xã hội và hoà bình thế giới. Với nội bộ, thực hiện toàn quân một ý chí, kỷ luật nghiêm minh, dân chủ, bình đẳng về chính trị. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khái quát: “Quân đội ta có sức mạnh vô địch, vì nó là một quân đội nhân dân do Đảng ta xây dựng, Đảng ta lãnh đạo và giáo dục”7.
Thứ tư, trong xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam phải lấy việc bồi dưỡng xây dựng con người là chính.
Quán triệt quan điểm “người trước súng sau” của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong xây dựng quân đội trong 79 năm qua, đã tạo nên một đội ngũ cán bộ trung thành, có trí tuệ, đáp ứng yêu cầu khắc nghiệt của đấu tranh và mọi thử thách của cách mạng. Người nhấn mạnh: “Muôn việc thành công hoặc thất bại, đều do cán bộ tốt hoặc kém”8, “…cán bộ là cái gốc của mọi công việc”9.
Đối với cán bộ trong quân đội, Chủ tịch Hồ Chí Minh yêu cầu phải có các phẩm chất: “trí, dũng, liêm, trung”10. Người đặt “trí” lên hàng đầu. Theo Hồ Chí Minh, cán bộ quân sự trước hết phải là người có trí tuệ, không ngừng trau dồi trí thức, nâng cao trí tuệ, mới hoàn thành nhiệm vụ. Người cán bộ phải có giác ngộ chính trị hơn quần chúng, vì vậy phải có trình độ hiểu biết về chủ nghĩa Mác- Lênin, khoa học xã hội và nhân văn, khoa học kỹ thuật quân sự; nắm vững đường lối chính sách của Đảng mới tự giác phấn đấu theo đường lối cách mạng mà Đảng đã vạch ra, có niềm tin thắng lợi, dựa vào căn cứ khoa học, có lý luận để thuyết phục quần chúng, có khả năng tổng kết thực tiễn, phát huy sức sáng tạo của quần chúng để góp phần cụ thể hoá, bổ sung đường lối chủ trương của Đảng.
Quân đội nhân dân Việt Nam đã đánh thắng quân đội nhà nghề của hai đế quốc to, là Pháp và Mỹ, trước hết là thắng bằng trí tuệ, bằng tài thao lược, kế thừa truyền thống đánh giặc của tổ tiên, tiếp thu có chọn lọc nghệ thuật quân sự của nhân loại, có phương pháp xem xét đúng, hiểu rõ sức mạnh quân đội của các nước đế quốc, sáng tạo cách đánh tài giỏi. Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh, quân đội cách mạng phải: “nghiên cứu cách đánh giặc” để “có một lối đánh tài giỏi thì trăm trận trăm thắng”. Nếu “thiếu nghiên cứu tìm hiểu tình hình khả năng ta và địch một cách tỉ mỉ để định ra mục đích và cách đánh hợp lý thì sẽ “mắc nhiều khuyết điểm”. Người căn dặn cán bộ phải chịu khó học tập, không ngừng nâng cao trí tuệ, văn hoá để có phương hướng đúng cho việc trau dồi đạo đức cách mạng. Chủ tịch Hồ Chí Minh coi việc cán bộ học ở trường, ở sách vở và trong thực tiễn đấu tranh cách mạng đều rất quan trọng. Theo Hồ Chí Minh, học phải đi đôi với hành, lời nói phải đi đôi với việc làm. Người coi trọng quá trình xây dựng quân đội nhân dân phải là quá trình rèn luyện lâu dài chiến đấu với kẻ thù, trong đấu tranh chính trị, trong vận động quần chúng, trong xây dựng nâng cao sức mạnh chiến đấu. Bản lĩnh chính trị, bản lĩnh chiến đấu của mỗi quân nhân trong quân đội chẳng những là sự tích luỹ một hàm lượng trí tuệ mà còn là kết quả của sự đấu trí giữa ta và địch. Hơn nửa thế kỷ xây dựng và chiến đấu, Quân đội Nhân dân Việt Nam ta đã bồi dưỡng một đội ngũ cán bộ quân sự tuyệt đối trung thành với sự nghiệp cách mạng, giỏi thao lược, đánh thắng mọi kẻ thù. Trong Quân đội nhân dân Việt Nam, có nhiều cán bộ cao cấp từ công nhân, nông dân, trí thức cách mạng trưởng thành lên. Đó là một thành công lớn của Đảng và của Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Chiến lược “trồng người” trong quân đội của Hồ Chí Minh đã xây dựng lên một hình tượng đẹp, đó là danh hiệu “Anh bộ đội cụ Hồ” được nhân dân tặng cho người chiến sĩ Quân đội nhân dân, một biểu tượng của con người mới, vừa mang phẩm chất truyền thống của dân tộc, vừa mang nhân cách và tầm vóc của người anh hùng thời đại và có giá trị nhân văn xã hội chủ nghĩa. 65 năm qua, Quân đội Nhân dân Việt Nam xây dựng và chiến đấu theo tư tưởng Hồ Chí Minh, đã hoàn thành nhiệm vụ trong chiến tranh giải phóng dân tộc và bảo vệ Tổ quốc. Những năm hoà bình, Quân đội ta là một lực lượng rất quan trọng đảm bảo sự ổn định chính trị và an toàn xã hội của nước nhà.
Trong giai đoạn cách mạng mới, tình hình thế giới và trong nước có cả thuận lợi, thời cơ và khó khăn, thách thức đan xen; đặt ra nhiều vấn đề mới, yêu cầu mới nặng nề, phức tạp hơn đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đảng ta chỉ rõ: “Khu vực Châu Á- Thái Bình Dương, trong đó Đông Nam Á có vị trí chiến lược ngày càng quan trọng, là khu vực cạnh tranh gay gắt giữa các cường quốc, tiềm ẩn nhiều bất ổn. Tranh chấp chủ quyền lãnh thổ, chủ quyền biển, đảo diễn ra căng thẳng, phức tạp, quyết liệt hơn. Hòa bình, ổn định, tự do, an ninh, an toàn hàng hải, hàng không trên Biển Đông đang đứng trước thách thức lớn, tiềm ẩn nguy cơ xung đột”11. Đối với nước ta, sau 37 năm đổi mới, tiềm lực, vị thế, uy tín quốc tế không ngừng được nâng cao, tạo tiền đề quan trọng để phát triển đất nước trong giai đoạn mới. Tuy nhiên, chúng ta vẫn đang đứng trước nhiều khó khăn, thách thức. Các thế lực thù địch, phản động, phần tử cơ hội chính trị tăng cường chống phá Đảng, Nhà nước, quân đội bằng chiến lược “diễn biến hòa bình”, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, với những âm mưu, thủ đoạn hết sức tinh vi, thâm độc đòi “phi chính trị hóa” quân đội,... Tình hình đó đặt ra những yêu cầu mới rất cao đối với sự nghiệp xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân, xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam tinh, gọn, mạnh để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.
Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng khẳng định: “Xây dựng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, một số quân chủng, binh chủng, lực lượng tiến thẳng lên hiện đại. Đến năm 2025, cơ bản xây dựng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân tinh, gọn, mạnh, tạo tiền đề vững chắc, phấn đấu năm 2030 xây dựng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại”12.
Ngày nay, trong bối cảnh mới, đất nước bước vào thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hoá, mở rộng quan hệ đối ngoại quốc phòng, an ninh. Việt Nam đang đứng trước vận hội mới và những thách thức mới. Đảng Cộng sản Việt Nam ta đã xác định xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa là hai nhiệm vụ chiến lược. Nhiệm vụ của lực lượng vũ trang nói chung, Quân đội nhân dân Việt Nam nói riêng rất nặng nề, phải bảo vệ được hoà bình, góp phần tạo môi trường ổn định để phát triển đất nước bền vững; bảo vệ độc lập chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, vùng trời, vùng biển, biên giới hải đảo của Tổ quốc, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ Đảng và Nhà nước, bảo vệ quyền làm chủ của nhân dân, bảo vệ bản sắc văn hoá dân tộc, lợi ích quốc gia, chống lại các thế lực thù địch với các thủ đoạn “diễn biến hoà bình”, bạo loạn lật đổ và sẵn sàng đánh bại mọi cuộc chiến tranh xâm lược kiểu mới của địch. Chức năng cơ bản của Quân đội nhân dân Việt Nam là: “Chủ động chuẩn bị về mọi mặt, sẵn sàng các phương án bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ và giữ vững an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội trong mọi tình huống”13.
Những vấn đề trên đang đặt ra trước toàn Đảng, toàn dân, toàn quân và cả hệ thống chính trị, trước hết, cần tập trung quán triệt sâu sắc Nghị quyết số 05-NQ/TW, ngày 17-1-2022, của Bộ Chính trị, về tổ chức Quân đội nhân dân Việt Nam giai đoạn 2021 - 2030 và những năm tiếp theo; Nghị quyết số 230-NQ/QUTW, ngày 2-4-2022, của Quân ủy Trung ương, về lãnh đạo thực hiện tổ chức Quân đội nhân dân Việt Nam giai đoạn 2021 - 2030 và những năm tiếp theo,... xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân, xây dựng Quân đội nhân dân, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong tình hình mới.
Từ những bài học kinh nghiệm lịch sử rút ra trong quá trình xây dựng, chiến đấu, trưởng thành và giành thắng lợi vẻ vang của Quân đội nhân dân Việt Nam cho thấy, bất luận trong hoàn cảnh nào, việc xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam vững mạnh toàn diện và tổ chức tinh, gọn, mạnh luôn là một nguyên tắc cơ bản, trước hết phải được quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo chặt chẽ. Đây là cơ sở để Đảng, Nhà nước Việt Nam ta tiếp tục vận dụng vào xây dựng quân đội tinh, gọn, mạnh trong giai đoạn cách mạng mới, đảm bảo cho Quân đội nhân dân Việt Nam thực sự là lực lượng chính trị trung thành, tin cậy của Đảng, Nhà nước và nhân dân, sẵn sàng chiến đấu hy sinh vì độc lập tự do của Tổ quốc; nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh tháng; bảo vệ vững chắc Tổ quốc trong mọi tình huống./.
Ngày TG gửi mail đến TC 6-11-2023; ngày giao biên tập 20-12-2023; ngày duyệt đăng 22-12-2023
1. V.I. Lênin Toàn tập, Nxb Tiến Bộ, M. 1977, T. 41, tr.147
2. Hồ Chí Minh Toàn tập, Nxb CTQG, H, 2011, T. 7, tr. 217
3, 6. Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb CTQG, H, 2011, T. 3, tr. 539. 500
4, 5, 8, 9, 10. Hồ Chí Minh Toàn tập, Nxb CTQG, H, 2011, T. 5, tr. 501, 485, 280, 309, 371
7. Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb CTQG, H.2000, T. 14 tr. 435.
11, 12 13. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb CTQGST, T.1, H, 2021, tr.107, 157-158, 161.