Tóm tắt: Vấn đề dân chủ và đa nguyên chính trị gắn với thể chế chính trị của một quốc gia cụ thể từ lâu đã được nhiều nhà chính trị và học giả trong và ngoài nước quan tâm. Tuy nhiên, không phải ai và khi nào cũng hiểu đúng bản chất khoa học của những vấn đề này, thậm chí có một số người còn cố tình hiểu sai nhằm bóp méo sự thật. Bài viết đưa ra những luận cứ khoa học bác bỏ những ý kiến sai lầm, đồng nhất đa nguyên chính trị với dân chủ, đồng nhất một đảng cầm quyền với độc đoán, chuyên quyền; đồng nhất phát triển kinh tế nhiều thành phần với tất yếu thực hiện đa nguyên chính trị.

Từ khóa: Dân chủ; độc đoán; kinh tế nhiều thành phần; đa nguyên chính trị

Có ý kiến đồng nhất đa nguyên chính trị với dân chủ, cho nên đã sai lầm cho rằng có đa nguyên chính trị mới là có dân chủ. Do vậy, theo họ để có dân chủ phải thực hiện đa nguyên chính trị. Đồng thời, họ còn đồng nhất một đảng cầm quyền với độc đoán, chuyên quyền; đa đảng đồng nhất với dân chủ, đối lập với độc đoán, chuyên quyền. Cũng có ý kiến cho rằng phát triển kinh tế nhiều thành phần thì tất yếu sẽ phải thực hiện đa nguyên chính trị. Đây là những ý kiến sai lầm chủ quan, suy luận sai logic, thiếu căn cứ khoa học, căn cứ thực tiễn. Điều này thể hiện ở một số luận cứ chủ yếu sau:
Thứ nhất, dân chủ và đa nguyên là hai vấn đề hoàn toàn khác nhau, thậm chí không có mối liên hệ nhân quả nào với nhau. Dân chủ theo đúng nghĩa của nó là dân làm chủ, dân là chủ. Nghĩa là trong một nhà nước dân chủ thì quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân, do nhân dân quyết định. Nhân dân có quyền quyết định việc giành, giữ và sử dụng quyền lực nhà nước cho mục đích của nhân dân và xã hội. Trong nhà nước tư sản, nhân dân cũng có một số quyền nhất định trong việc giành, giữ, sử dụng quyền lực nhà nước nhưng không hoàn toàn tất cả. Do vậy, dân chủ tư sản là không triệt để. Về nguyên tắc, trong nhà nước XHCN, nhân dân có quyền quyết định mọi công việc của nhà nước.
Chẳng hạn, Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo. Nhưng Đảng Cộng sản Việt Nam nhận thức rất rõ vai trò, thẩm quyền và trách nhiệm của mình. Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo hệ thống chính trị, đồng thời là bộ phận của hệ thống chính trị. Là đảng cầm quyền, Đảng Cộng sản Việt Nam có những trọng trách to lớn đối với sự phát triển của đất nước, với việc nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân và vận mệnh của dân tộc.
Chẳng hạn trong thời kỳ Đổi mới, ngay từ Đại hội VI (1986), Đảng đã khẳng định: “Đẩy mạnh tự phê bình và phê bình đúng với ý nghĩa là quy luật phát triển của Đảng, thước đo trình độ sinh hoạt dân chủ trong Đảng và ý thức trách nhiệm của Đảng đối với nhân dân”1. Tại HNTƯ 9 khóa VII (11-1995), Đảng tiếp tục khẳng định: “Khi trở thành đảng cầm quyền, Đảng phải lãnh đạo Nhà nước, chịu trách nhiệm trước lịch sử, bảo đảm sự phát triển của dân tộc, bảo đảm lợi ích chính đáng, hợp pháp của tất cả các giai cấp, tầng lớp và của mọi công dân”2. Đại hội VIII (1996) của Đảng cũng chỉ rõ: “Sự nghiệp cách mạng của nước ta do Đảng Cộng sản lãnh đạo. Đảng ta là đảng cầm quyền. Những thắng lợi và thành tựu, những thất bại và tổn thất của cách mạng đều gắn liền với trách nhiệm của Đảng”3, “Toàn bộ thành tựu và khuyết điểm của công cuộc đổi mới gắn liền với trách nhiệm lãnh đạo và hoạt động của Đảng. Sự lãnh đạo và hoạt động của Đảng là một nhân tố quyết định tạo ra những thành tựu đổi mới”4. Đại hội IX (2001) của Đảng nhấn mạnh: “Những thành tựu và yếu kém trong công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc gắn liền với trách nhiệm lãnh đạo của Đảng và những ưu điểm, khuyết điểm trong công tác xây dựng Đảng”5. Là Đảng cầm quyền, Đảng không chỉ chịu trách nhiệm về các quyết định của mình đối với vận mệnh của đất nước, mà cán bộ đảng, đảng viên phải có trách nhiệm hết lòng, hết sức phục vụ nhân dân. Với tinh thần đó, Đại hội X (2006) của Đảng chỉ rõ: “Xây dựng một xã hội dân chủ, trong đó cán bộ, đảng viên và công chức phải thực sự là công bộc của nhân dân... Đề cao trách nhiệm của các tổ chức đảng, Nhà nước đối với nhân dân”7. Đại hội XI (2011) của Đảng tiếp tục nhấn mạnh: “Cán bộ, đảng viên phải nêu cao tinh thần trách nhiệm trước Tổ quốc, trước Đảng và nhân dân, hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân”8. Đại hội XII (2016) của Đảng yêu cầu: “Đội ngũ cán bộ, đảng viên phải thật sự tin dân, trọng dân, gần dân, hiểu dân, học dân, dựa vào dân, có trách nhiệm với dân. Giải quyết kịp thời, có hiệu quả những bức xúc, những kiến nghị chính đáng  của nhân dân và khiếu nại tố cáo của công dân”9.
Vai trò lãnh đạo, cầm quyền của Đảng còn được xác định trong Hiến pháp-văn bản pháp lý cao nhất của Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam.
Điều 4, Hiến pháp 1992 khẳng định: “Đảng cộng sản Việt Nam, đội tiên phong của giai cấp công nhân Việt Nam, đại biểu trung thành quyền lợi của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc, theo chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tuởng Hồ Chí Minh, là lực luợng lãnh đạo Nhà nước và xã hội.
Mọi tổ chức của Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật”10.
Điều 4, Hiến pháp 2013 tiếp tục khẳng định rõ hơn: “1. Đảng Cộng sản Việt Nam, đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của cả dân tộc Việt Nam, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc, lấy chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tuởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tuởng, là lực luợng lãnh đạo Nhà nuớc và xã hội.
2. Đảng gắn bó mật thiết với nhân dân, phục vụ nhân dân, chịu sự giám sát của nhân dân, chịu trách nhiệm truớc nhân dân về các quyết định của mình.
3. Các tổ chức đảng và đảng viên hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật”11. 
Như vậy là Hiến pháp nước Cộng hòa XHCN Việt Nam luôn khẳng định nhân dân được bảo đảm quyền làm chủ thực sự của mình.
Về đa nguyên chính trị là trong chính quyền nhà nước có nhiều đảng phái đối lập nhau, đại diện cho những lợi ích đối lập nhau của các giai cấp đối lập nhau thì mới là đa nguyên chính trị. Có một số thể chế chính trị có nhiều đảng nhưng không phải đa đảng thực sự vì chỉ là đại diện cho các phe phái khác nhau của cùng một giai cấp. Thông thường các phe phái này chỉ mâu thuẫn nhau về sách lược giành, giữ và sử dụng quyền lực nhà nước chứ không đối lập, loại bỏ nhau về lợi ích. Xét về lợi ích giai cấp, các phe phái này vẫn thống nhất với nhau nhưng xét về phương diện thực hiện lợi ích, phương diện, cách thức thực hiện quyền lực nhà nước thì có những cách tiếp cận khác nhau, biện pháp khác nhau. Do đó, không phải là đa đảng mà là nhiều phe phái khác nhau trong cùng một giai cấp. Như vậy, dân chủ và đa nguyên chính trị là hai vấn đề hoàn toàn khác nhau, không có quan hệ nhân quả với nhau.
Thứ hai, đa nguyên chính trị không đồng nhất với dân chủ và không có nghĩa là dân chủ. Một đảng không có nghĩa là không có dân chủ, một đảng không đồng nhất với độc đoán, chuyên quyền. Dân chủ hay không là nhân dân có quyền thực sự trong việc giành, giữ, sử dụng quyền lực nhà nước hay không? Do vậy, để thực hiện dân chủ thực sự phải có điều kiện. Về kinh tế, nhân dân phải thực sự làm chủ kinh tế, sở hữu tư liệu sản xuất phải thực sự thuộc về mình mới có thể thực hiện quyền làm chủ được. Bởi lẽ, bản chất của nhà nước là công cụ thống trị chính trị của giai cấp thống trị về kinh tế. Cho nên, trong một nhà nước còn các giai cấp khác nhau thì giai cấp nào thống trị về kinh tế, giai cấp đó sẽ thống trị về chính trị và các lĩnh vực khác của đời sống xã hội. Ngay cả F.A.Hayek- một người chống lại chủ nghĩa Mác cũng phải  thừa nhận: “Và dù người kiểm soát tối cao đó có là ai thì một khi đã kiểm soát tất cả các hoạt động kinh tế sẽ kiểm soát tất cả các phương tiện có thể đáp ứng các mục tiêu của chúng ta và sẽ phải quyết định mục tiêu nào đáng được thỏa mãn còn mục tiêu nào thì không. Bản chất là như thế. Kiểm soát kinh tế không chỉ là kiểm soát một phần tách biệt của đời sống con người; đấy là sự kiểm soát tất cả các phương tiện nhằm thỏa mãn các mục tiêu của chúng ta”12. Về chính trị, nhân dân phải có quyền quyết định chính trị thực sự. Nghĩa là nhân dân có quyền quyết định trong việc bầu lên chính phủ đại diện cho mình, có quyền bãi miễn chính phủ ấy nếu như chính phủ ấy không đáp ứng được nhu cầu hợp lý, chính đáng của nhân dân. Nhân dân có quyền quyết định lựa chọn con đường phát triển của dân tộc mình,v.v.. Có người cho rằng Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo nên không thể có dân chủ. Điều này hoàn toàn không đúng. Bởi lẽ, Đảng Cộng sản Việt Nam lấy chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hoạt động của mình. Như chúng ta đều rõ, chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh không có mục tiêu nào khác là giải phóng nhân dân lao động khỏi mọi hình thức nô dịch, áp bức, bóc lột con người. Chính Đảng Cộng sản Việt Nam cũng không có mục tiêu nào khác là giải phóng dân tộc khỏi phong kiến, thực dân, đế quốc làm cơ sở, tiền đề để giải phóng nhân dân Việt Nam khỏi nô dịch, áp bức, bóc lột. Nhân dân Việt Nam được giải phóng thì hiển nhiên con người Việt Nam có mọi quyền con người như trong Tuyên ngôn Độc lập mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tuyên bố. Hơn nữa, khi có chính quyền, Đảng Cộng sản Việt Nam là hạt nhân lãnh đạo của hệ thống chính trị và là bộ phận của hệ thống đó. Tập trung dân chủ là nguyên tắc cơ bản trong xây dựng, tổ chức, sinh hoạt, hoạt động của  đảng. Đảng là một khối thống nhất về chính trị, tư tưởng, tổ chức, tự phê bình và phê bình là quy luật phát triển của Đảng. Đảng gắn bó mật thiết với nhân dân, kiên quyết đấu tranh ngăn ngừa khắc phục bệnh quan liêu, xa rời quần chúng. Đồng thời, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn đổi mới phương thức lãnh đạo của đảng đối với nhà nước và xã hội. Đảng lãnh đạo nhà nước, xã hội bằng cương lĩnh, đường lối, chủ trương, nghị quyết của Đảng. Như V.I.Lênin đã từng căn dặn: “Trong nước cộng hòa của chúng ta, không có một vấn đề chính trị hay tổ chức quan trọng nào do một cơ quan nhà nước giải quyết mà lại không có chỉ thị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng”13. Cương lĩnh, chủ trương, đường lối, nghị quyết của Đảng Cộng sản Việt Nam lại nhằm mục tiêu xây dựng một nước Việt Nam “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”, tức là vì nhân dân. Đảng lãnh đạo nhà nước, xã hội thông qua đội ngũ cán bộ, đảng viên của Đảng trong bộ máy nhà nước. Như V.I.Lênin đã từng căn dặn đội ngũ cán bộ, đảng viên này: “Các đồng chí là những người cộng sản,..., các đồng chí là những người đảm nhiệm việc lãnh đạo nhà nước - các đồng chí hãy làm thế nào cho nhà nước mà các đồng chí nắm trong tay, phải hoạt động như các đồng chí mong muốn”14. Đảng còn lãnh đạo nhà nước, xã hội bằng công tác kiểm tra. Có kiểm tra mới biết những chủ trương, nghị quyết, chỉ thị của Đảng có gì đúng, có gì chưa đúng, cái gì cần bổ sung, hoàn thiện để lãnh đạo nhà nước và xã hội hiệu quả hơn: “Phải nghĩ đến chuyện kiểm tra lại những chủ trương mà chúng ta tuyên bố hàng giờ, quyết định hàng phút, rồi từng giây chứng minh tính chất không vững chắc, không kiên định và khó hiểu của những chủ trương đó”15. Đảng lãnh đạo nhà nước, xã hội thông qua vận động quần chúng nhân dân tham gia quản lý nhà nước. Bởi lẽ, “Chỉ có người nào tin tưởng vào nhân dân, dấn mình vào nguồn sáng tạo sinh động của nhân dân, mới là người chiến thắng và giữ được chính quyền”16. Như vậy, sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam chỉ nhằm mục tiêu phục vụ nhân dân, tăng cường thực hành quyền làm chủ của nhân dân Việt Nam mà thôi.
Thứ ba, quan điểm cho rằng ở Việt Nam phát triển kinh tế nhiều thành phần tất yếu sẽ phải thực hiện đa nguyên chính trị. Bởi lẽ, tương ứng với mỗi thành phần kinh tế phải có một đảng chính trị, đại diện cho giai tầng của thành phần kinh tế đó. Điều này là hoàn toàn sai, không đúng cả về mặt lý luận cả về mặt thực tiễn. Bởi lẽ, khác với các nước TBCN, kinh tế nhiều thành phần ở Việt Nam được ra đời, hình thành, phát triển một cách tự giác, trên cơ sở thực tiễn Việt Nam và trong khuôn khổ pháp luật Việt Nam. Nghĩa là Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam chủ động cho kinh tế nhiều thành phần phát triển theo pháp luật. Tức là có sự quản lý của nhà nước, sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản đối với kinh tế nhiều thành phần. Hơn nữa, tại Điều 51, Chương III, Hiến pháp nước Cộng hòa XHCN Việt Nam (2013) quy định rất rõ: 
“1. Nền kinh tế Việt Nam là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa với nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế; kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo.
2. Các thành phần kinh tế đều là bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế quốc dân. Các chủ thể thuộc các thành phần kinh tế bình đẳng, hợp tác và cạnh tranh theo pháp luật.
3. Nhà nước khuyến khích, tạo điều kiện để doanh nhân, doanh nghiệp và cá nhân, tổ chức khác đầu tư, sản xuất, kinh doanh; phát triển bền vững các ngành kinh tế, góp phần xây dựng đất nước. Tài sản hợp pháp của cá nhân, tổ chức đầu tư, sản xuất, kinh doanh được pháp luật bảo hộ và không bị quốc hữu hóa”.
Như vậy, các chủ thể thuộc các thành phần kinh tế, bản thân các thành phần kinh tế đều bình đẳng với nhau và bình đẳng trước Hiến pháp, pháp luật. Các chủ thể thuộc các thành phần kinh tế khác nhau đều có quyền bình đẳng, hợp tác và cạnh tranh theo pháp luật. Như vậy, có thể nói là Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam đại diện cho tất cả các thành phần kinh tế, đều bảo vệ tài sản, lợi ích hợp pháp, chính đáng của tất cả chủ thể thuộc các thành phần kinh tế khác nhau và các thành phần kinh tế theo Hiến pháp, pháp luật. Như vậy thì không cần và không có cơ sở phải có các đảng phái chính trị, đại diện cho các giai tầng-các chủ thể của các thành phần kinh tế khác nhau ở Việt Nam. Do vậy, phát triển kinh tế nhiều thành phần ở Việt Nam không tất yếu phải thực hiện đa nguyên chính trị.
Thứ tư, thực tế lịch sử Việt Nam và quốc tế cho thấy rất rõ dân chủ không phụ thuộc vào đa đảng, đa nguyên chính trị. Trước ngày miền Nam được hoàn toàn giải phóng (30-4-1975), ở miền Nam khá nhiều đảng phái, nhưng không có dân chủ. Cộng hòa Singapore là nước có nhiều thành phần kinh tế, là một nước cộng hòa nghị viện đa đảng nhất thể nhưng vẫn chỉ có một Đảng Hành động Nhân dân cầm quyền trong rất nhiều năm mà không hề bị suy thoái, tham nhũng, độc quyền và vẫn thực hiện được dân chủ. Có được điều này có nhiều nguyên nhân, trong đó cần lưu ý Đảng Hành động Nhân dân Singapore “đã hòa mình vào xã hội, cơ chế Đảng đã hòa mình với cơ chế chính quyền, toàn bộ lãnh đạo Đảng phải là đại biểu Quốc hội, hầu hết người lãnh đạo chính quyền cấp cao phải là cán bộ đảng. Vì Đảng Hành động Nhân dân lãnh đạo mọi hoạt động của xã hội, của chính quyền, Quốc hội, cho nên Đảng không cần ra mặt lãnh đạo, không cần có bộ máy riêng do đó rất tiết kiệm kinh phí”17. Điều này cho thấy, dân chủ không phụ thuộc vào đa đảng, đa nguyên; độc đoán không phụ thuộc vào một đảng duy nhất.
Cùng với thực tế Singapore, nhân loại cũng đã chứng kiến tại họa của chủ nghĩa độc tài phát xít Hitler-hệ quả của chính CNTB, CNĐQ, nhưng có những học giả phương Tây cố tình đồng nhất nó với CNXH, cho chủ nghĩa phát xít có nguồn gốc từ CNXH. Ngay F.A.Hayek, trong cuốn Đường về nô lệ đã công khai vu khống, cho chủ nghĩa phát xít và chủ nghĩa quốc xã là sự phát triển tiếp tục của các xu hướng XHCN trong quá khứ: “Chúng ta không muốn nhìn nhận rằng sự ngóc đầu dậy của chủ nghĩa phát xít và chủ nghĩa quốc xã không phải là phản ứng chống lại các xu hướng xã hội chủ nghĩa trong quá khứ mà là sự tiếp tục và phát triển tất yếu của chính các xu hướng đó”18. Với một số học giả tư sản, trong đầu họ luôn gắn độc tài với CNXH. Bởi lẽ, đơn giản với họ CNXH phải là xấu xa. Với tư duy như vậy, họ không bao giờ hiểu được bản chất của dân chủ và đa nguyên chính trị. Bởi lẽ, họ luôn có sẵn thiên kiến không đúng về Đảng Cộng sản và CNXH.
Tất nhiên, phải nhìn thẳng sự thật rằng nếu một đảng cầm quyền mà không biết cách thì cũng có thể rơi vào độc đoán, chuyên quyền. Tuy nhiên, độc đoán, chuyên quyền không xuất phát từ bản chất một đảng hay nhiều đảng. Không phải cứ một đảng thì độc đoán, chuyên quyền, đa đảng thì không có độc đoán, chuyên quyền. Đây là sai lầm về suy luận logic, bởi lẽ, không phải “Trời mưa thì sân mới có nước. Sân vẫn có thể có nước khi trời không mưa”. Vấn đề là, trong điều kiện một đảng cầm quyền cần phải chú ý, đảng phải thực sự là đạo đức, là văn minh, là lương tâm, trí tuệ thời đại. Phải kiểm soát quyền lực một cách thông minh. Đồng thời, đảng phải gắn bó máu thịt với nhân dân. Không phải ngẫu nhiên mà Đảng Cộng sản Việt Nam đề ra nhiệm vụ trọng tâm trong những năm sắp tới là kiên quyết, kiên trì tiếp tục thực hiện Nghị quyết HNTƯ 4 khóa XI (1-2012) “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay”; Nghị quyết HNTƯ 4 khóa XII (10-2016) “Về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ”. Đồng thời, Đảng chú trọng xây dựng Đảng về chính trị, đổi mới công tác tư tưởng, lý luận; tăng cường rèn luyện phẩm chất đạo đức cách mạng, chống chủ nghĩa cá nhân, cơ hội; tiếp tục đổi mới, kiện toàn tổ chức bộ máy của Đảng và của hệ thống chính trị; đẩy mạnh đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí; v.v.. Một đảng tự nhận thấy những hạn chế của mình và quyết tâm sửa chữa, một đảng mà tìm mọi cách để phục vụ nhân dân tốt hơn, thì nhất định không thể có độc đoán, chuyên quyền.
Từ những nội dung trên, chúng ta thấy, ý kiến đồng nhất đa nguyên chính trị với dân chủ; đồng nhất một đảng với độc đoán, chuyên quyền; cho phát triển kinh tế nhiều thành phần tất yếu sẽ phải thực hiện đa nguyên chính trị là ý kiến sai lầm, không có căn cứ khoa học, thực tiễn.



1. Đảng Cộng sản Việt Nam:Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb CTQG, H, 2006, T. 47, tr. 471
2. Sđd, T. 54, tr. 403
3, 4. Đảng Cộng sản Việt Nam:Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb CTQG, H, 1996, tr. 74, 135
5, 6, 7. Đảng Cộng sản Việt Nam:Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb CTQG, H, 2001, tr. 137, 137, 125
8. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb CTQG, H, 2011, tr. 258
9. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Văn phòng Trung ương Đảng, H, 2016, tr. 210
10, 11. Cơ sở dữ liệu quốc gia về văn bản pháp luật Trung ương, tại địa chỉ: http://vbpl.vn/TW/Pages/vbpq- toanvan.aspx?ItemID=11234&Keyword=hi%E1%BA%BFn%20ph%C3%A1p 
12. F.A.Hayek: Đường về nô lệ, Phạm Nguyên Trường dịch, H, Nxb Tri thức 2009, tr. 56-57 và 180
13. V.I.Lênin Toàn tập, Nxb Tiến bộ, Matxcơva, 1977, T. 41, tr. 38
14, 15. V.I.Lênin Toàn tập, Nxb Tiến bộ, Matxcơva, 1978, T. 45, tr. 103, 443
16. V.I.Lênin Toàn tập, Nxb Tiến bộ, Matxcơva, 1976, T. 35, tr. 68-69
17. Xem: http://redsvn.net/dang-hanh-dong-nhan-dan-cua-singapore-chinh-dang-cam-quyen-thanh-cong-nhat-gioi/.